CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ GIAO ĐẤT ĐỂ THỰC HIỆN DỰ ÁN ĐẦU TƢ
1.4. Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động giao đất để thực hiện dự án đầu tư
1.4.4. Giai đoạn 01/7/2004 (ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành) đến nay
Nhằm khắc phục những hạn chế và thiếu sót của Luật Đất đai năm 1993, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai năm 2003. Có thể nói, Luật Đất đai năm 2003 tuy chưa phải là đạo luật khắc phục được căn nguyên cội rễ của hoạt động điều phối đất đai nói chung và của hoạt động giao đất để thực hiện dự án đầu tư nói riêng.
Nhưng xét ở những giải pháp mang tính tình thế, nó đã có nhiều tiến bộ đáng ghi nhận.
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, hoạt động giao đất để thực hiện các dự án đầu tư chính thức được coi là một trong những nội dung hoạt động của thị trường quyền sử dụng đất.
23 Điều 1 Luật Đất đai năm 1993.
24 Thời gian này theo quy định của pháp luật đầu tư thì đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài về nước đầu tư bị đánh đồng với đối tượng chủ thể là người nước ngoài, được gọi chung là “nhà đầu tư nước ngoài”.
Đối tượng được Nhà nước giao đất để thực hiện dự án đầu tư cũng được mở rộng hợn bao gồm 07 (bảy) trường hợp25. Theo đó, đối tượng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài là đối tượng được xem xét giao đất khi có dự án đầu tư, bất kể là dự án đầu tư vào loại hình công trình nào. Có thể thấy rằng, đây là một ưu đãi lớn cho đối tượng này, bên cạnh việc lựa chọn hình thức thuê đất.
Về hình thức giao đất để thực hiện các dự án đầu tư, Luật Đất đai năm 2003 cũng đã quy định mang tính nhất quán là giao đất có thu tiền sử dụng đất. Trường hợp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối được phân ra làm hai trường hợp là không thu tiền sử dụng đất và có thu tiền sử dụng đất. Theo đó, nếu các tổ chức kinh tế sử dụng đất vào hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; tức là hoạt động đầu tư kiếm lời, thì phải nộp tiền sử dụng đất. Và trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối thì không phải nộp tiền sử dụng đất nhưng nếu được giao đất vượt hạn mức đất thì phải chuyển sang thuê đất.
Theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước được sửa đổi, bổ sung năm 1998, nhà đầu tư là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền lựa chọn hình thức đầu tư26. Theo đó, đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi về nước đầu tư có thể lựa chọn đầu tư với tư cách là nhà đầu tư nước ngoài hoặc là nhà đầu tư trong nước. Nếu lựa chọn tư cách là nhà đầu tư trong nước, họ sẽ có quyền lợi như tổ chức trong nước, tức là được giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư. Đến Luật Đất đai năm 2003 đã mở rộng đối tượng được giao đất có thu tiền sử dụng đất bao gồm luôn cả đối tượng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài có nhu cầu sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư, xem như mặc nhiên thừa nhận họ có tư cách giống như nhà đầu tư trong nước.
Về phương thức giao đất để thực hiện dự án đầu tư, Luật Đất đai năm 2003 cũng có sự mở rộng phù hợp với yêu cầu của việc đảm bảo quan hệ đất đai vận hành theo cơ chế thị trường. Bên cạnh việc giao đất có thu tiền sử dụng đất không qua đấu giá, Luật Đất đai năm 2003 có quy định về việc giao đất có thu tiền sử dụng đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất…
25 Điều 34 Luật Đất đai năm 2003.
26 Khoản 2 Điều 30 Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998.
Đây là những sửa đổi, bổ sung hợp lý và có ý nghĩa về mặt kinh tế rất lớn đối với nước ta khi mà Việt Nam đang rất cần nhiều nguồn lực đầu tư vào quá trình thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, từng bước hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, qua thời gian áp dụng, Luật Đất đai năm 2003 cũng bộc lộ những hạn chế nhất định đối với những quy định có liên quan đến hoạt động giao đất để thực hiện dự án đầu tư, đòi hỏi Nhà nước tiếp tục cần phải có giải pháp khắc phục.
Vấn đề này, tác giả sẽ trình bày ở chương 2 của luận văn.
Kết luận chương 1
Từ nghiên cứu những vấn đề về lý luận và lịch sử của hoạt động giao đất để thực hiện dự án đầu tư, có thể đưa ra một số kết luận sau:
1. Giao đất để thực hiện dự án đầu tư là hoạt động giao đất có thu tiền sử dụng đất, chuyển giao cho chủ thể có nhu cầu sử dụng đất thực hiện dự án đầu tư nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư bỏ vốn, nhân lực để thực hiện dự án.
2. Trong quan hệ giao đất để thực hiện dự án đầu tư, nhà đầu tư tham gia vào quan hệ này với mục đích xác lập quyền sử dụng đất; và thủ tục giao đất cũng chỉ là một bộ phận của thủ tục đầu tư. Nó là quan hệ thuộc lĩnh vực kinh tế.
3. Giao đất để thực hiện dự án đầu tư là một hoạt động thực hiện quyền sở hữu đối với đất đai, tạo nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước. Hoạt động này cũng đáp ứng được nhu cầu đa dạng của chủ thể sử dụng đất nhằm thực hiện các dự án đầu tư.
4. Cùng thời gian, chính sách pháp luật về giao đất để thực hiện dự án đầu tư từng bước được hoàn thiện nhưng bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta còn rất nhiều vấn đề cần giải quyết để tiếp tục hoàn thiện.