Đạo đức nghề nghiệp của công chức làm công tác lý lịch tư pháp

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Nghiệp vụ lý lịch Tư pháp Phần 1 (Trang 24 - 28)

Đạo đức nghề nghiệp là một đòi hỏi phải được bảo đảm thực hiện trong quá trình hành nghề của công chức làm công tác lý lịch tư pháp. Đạo đức nghề nghiệp nói chung được hiểu là một loại hình đạo đức, gồm những chuẩn mực và quy phạm đạo đức được hình thành trên cơ sở hoạt động nghề nghiệp của một nhóm người, một tổ chức người nhất định. Đạo đức nghề nghiệp trước hết phải mang đầy đủ các yếu tố của đạo đức xã hội, không được trái vớ i đạo đức xã hội.

Bên cạnh đó, đạo đức nghề nghiệp còn có các đặc trưng riêng của mình. Đạo đức nghề luật, trong đó có đạo đức nghề nghiệp của công chức làm công tác lý lịch tư pháp là một loại hình đạo đức nghề nghiệp được hình thành và phát triển gắn liền với hoạt động nghề nghiệp của người hành nghề luật, như thẩm phán, luật sư, công chứng viên, chấp hành viên, các công chức làm công tác bổ trợ tư pháp, quản lý hành chính Nhà nước về hành chính tư pháp. Nghề luật là một nghề mang tính đặc thù và đặc biệt, mỗi một quyết định, hành v i của người hành nghề luật có thể liên hệ đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của cá nhân, tổ chức trong xã hội.

Đạo đức nghề nghiệp của công chức làm công tác lý lịch tư pháp là sự bổ sung và kết hợp với các quy phạm xã hội khác (pháp luật, quy chế ngành, bộ quy tẳc ứng xử nghề nghiệp, nội quy cơ quan, điều lệ Đảng v iê n ...) để điều chinh hành vi của người làm nghề luật trong khuôn khổ pháp luật và trong khuôn khổ

các chuẩn mực dạo đức. Các quy phạm xã hội như pháp luật, quy chế ngành, bộ quy tắc ứng xử nghề nghiệp, nội quy cơ quan, điều lệ Đảng viên không thể bao quát hết, quy định hết mọi hành vi của người làm công tác lý lịch tư pháp, trong khi đó, đạo đức nghề nghiệp đóng vai trò nền tảng, là những quy phạm cơ bản, ỉà xuất phát điểm điều chỉnh hành vi của người làm công tác lý lịch tư pháp. Đặc biệt, so sánh với pháp luật, (dù mọi sự so sánh đều khập khiễng) nhưng pháp luật không the thav thế vai trò của đạo đức nehề nghiệp trong việc khuyển khích người làm công tác lý lịch tư pháp làm việc tận tâm. làm việc có lợi cho nhiều người, đạo đức nghề nghiệp có sức mạnh riêng của nó, đó là tác động tới lương tâm. danh dự của người làm công tác lý lịch tư pháp.

2.2. Quy tắc đạo đức nghề nghiệp của công chửc làm công tác lý lịch tư pháp

Quy tẳc đạo đức nghề nghiệp của công chức làm công tác LLTP bao gồm các yêu cầu cụ thể sau đây:

2.2.1. Yêu cầu về tính cắn trọng, chính xác

Các hoạt động liên quan đến hồ sơ. lý lịch của con người luôn đòi hỏi phải được cập nhật, lưu trữ và sử dụng một cách cẩn trọng, chính xác. Nghiệp vụ công tác lý lịch tư pháp cũng dòi hỏi các công chức làm công tác này phải đảm bảo hai thuộc tính trên, nói cách khác, hai thuộc tính này trở thành những quy tấc đạo đức nghề nghiệp hàng đầu đối với công chức. Điều này xuất phát từ ý nghĩa pháp lý và ý nghĩa xã hội rất lớn của Lý lịch tư pháp khi Lý lịch tư pháp được coi là văn bản để công dân chứng minh tư cách pháp lý của mình, bước ra từ quá khứ lầm lỗi để làm lại cuộc đời. Công tác lý lịch tư pháp còn hỗ trợ hoạt động tố tụng hình sự, hoạt động thống kê tư pháp hình sự, hỗ trợ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đãng ký kinh doanh, thành lập. quản lý doanh nghiệp.

Tính cẩn trọng, chính xác đòi hỏi phải được tuân thủ trong toàn bộ các khâu nghiệp vụ công tác Lý lịch tư pháp, từ khâu tiếp nhận thông tin đòi hỏi phải cập nhật đủng, đủ từ các nguồn thông tin luật định, nếu cập nhật không đúng, không đủ. sẽ dần đến sự sai sót và nhầm lẫn về dữ liệu, gây ra những hậu quả cho công tác quản lý và thiệt hại cho công dân. Việc xử lý thông tin cũng đòi hỏi những người làm công tác này phải cẩn trọng, tỷ mỉ, nhất là trong những trường

hợp phức tạp, đòi hỏi tập trung nhiều thời gian và tra cứu các văn bản pháp luật có liên quan.

Tính cẩn trọng, chính xác chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình cung cấp, tiếp nhận, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp. Đẻ đáp ứng được nhũng đòi hỏi này, người làm công tác lý lịch tư pháp vừa phải có tổ chất nhẫn nại, chịu khó, vừa phải tự rèn luyện tinh thần trách nhiệm và tình yêu nghề nghiệp, có như vậy mới có thể làm tốt một công việc tuy khô khan, thậm chí có phần máy móc.

đơn điệu nhưng rất quan trọng và đem lại nhiều lợ i ích cho xã hội và con người.

2.2.2 Yêu cầu về tính nhân văn, tôn trọng đ ờ i tư cùa người khác

Người làm công tác lý lịch tư pháp là công chức Nhà nước, là đại diện cho Nhà nước và cơ quan Nhà nước trong việc giao dịch với công dân khi có nhu cầu cấp phiếu Lý lịch tư pháp. Do đó, người làm công tác lý lịch tư pháp phải thực sự thấu hiểu và thông cảm với công dân, hướng dẫn cho công dân các giấy tờ, thủ tục đầy đủ, hạn chế tối đa mọi phiền hà, đi lại, liên hệ nhiều lần cho công dân, tránh xa những hiện tượng vô cảm, thờ ơ với công dân. Đặc biệt, đối tượng công dân đến xin cấp phiếu Lý lịch tư pháp có một phần lớn là những người đã có quá khứ phạm tội hoặc thất bại trong cuộc đời, thất bại trong sự nghiệp (đã từng bị phá sản), do đó, tâm lý mặc cảm, e ngại, thậm chí ngang ngược, bât cân, định kiến với công chức Nhà nước có thể tiềm ẩn trong ý thức chủ quan của họ, vì thế, thái độ cửa quyền, hách dịch, ban phát của các công chức làm lý lịch tư pháp sẽ dẫn tới sự phủ nhận những ý nghĩa tốt đẹp của hoạt động quản lý lí lịch tư pháp, là điều mà đạo đức nghề nghiệp không thể chấp nhận.

Bên cạnh đó, đạo đức nghề nghiệp của công chức làm công tác lý lịch tư pháp còn đòi hỏi sự tôn trọng tuyệt đối bí mật đời tư của công dân. Việc tôn trọng bí mật đời tư của công dân thậm chí được pháp luật hiện hành quy định là một trong ba nguyên tắc quản lý lí lịch tư pháp (khoản 2 Điều 4 Luật L ý lịch tư pháp). Những thông tin trong lý lịch tư pháp được nhiều quốc gia coi là thuộc về bí mật đời tư của công dân và hạn chế toi đa việc công bổ những thông tin này nếu như không thuộc các chủ thể và các trường hợp được quyền yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp. Điều này xuất phát từ những hậu quả đặc biệt tiêu cực nếu

các thông tin trong lý lịch tư pháp được tiết lộ đổi với cá nhân, thậm chí là đối với doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức nơi cá nhân đó đang làm việc.

2.2.3. Yêu câu vê sự trong sạch, liêm khiết

Sự trong sạch, liêm khiết là một yêu cầu rất khó thực hiện nhưng lại là một chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của công chức làm công tác lý lịch tư pháp hav công chức làm bất kỳ công tác nào khác, đòi hỏi không được lợi dụng nghề nghiệp để mưu cầu lợi ích cho bản thân. Việc sách nhiễu công dân, cố tnh đòi xuất trình các giấy tờ chứng minh không cần thiết, việc cố tình trì hoãn thời hạn câp phiếu lý lịch tư pháp để ngầm đòi các khoản “ lệ phí" của công dân là những biểu hiện sinh động cho sự tha hóa. tham nhũng của công chức làm công tác lý lịch tư pháp. Nghiêm trọng hơn. những hành vi cấp phiếu lý lịch tư pháp có nội dung sai sự thật, trái thẩm quyền, không dúng đổi tượng xuất phát từ hành v i chủ ý, vụ lợi là những hành vi vi phạm pháp luật và vi phạm nghiêm trọng đạo đức công chức.

Việc rèn luyện để đáp ứng các yêu cầu, chuẩn mực của đạo đức nghề nghiệp nói chung và yêu cầu về sự trong sạch, liêm khiết nói riêng là một quá trình khó khăn vì nhũmg nguyên nhân khách quan khi điều kiện về thu nhập, điều kiện làm việc của công chức làm công tác lý lịch tư pháp vẫn còn rẩt thiếu thốn, tuy nhiên, đây cũng là quá trình đấu tranh với hản thân để vượt qua những cám dỗ cùa vật chất mà công việc quản lý lí lịch tư pháp có thể đem lại, là quá trình đấu tranh để tự hoàn thiện bản thân, để sống thanh thản, sống có ích cho người dân và xã hội.

Bài 2

Q ui định pháp lu ật của m ột số n ư ớ c v ể lý lịch tư pháp

Ở hầu hết các nước, hệ thống quản lý lý lịch tư pháp được thiết lập. phát triển từ hàng chục đến hàng trăm năm nay và có tác dụng tích cực đổi với các hoạt động tố tụng, quản lý nhà nước, bảo đảm quyền công dân. Tuy nhiên, tuỳ theo điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau và thiết chế tư pháp đặc thù mà mồi nước có khái niệm lý lịch tư pháp phù hợp. Khái niệm lý lịch tư pháp thể hiện phạm vi quản lý lý lịch tư pháp và chính phạm vi quản lý lý lịch tư pháp quyết định toàn bộ nội dung, quy mô, cơ chế quản lý lý lịch tư pháp.

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Nghiệp vụ lý lịch Tư pháp Phần 1 (Trang 24 - 28)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(186 trang)