Phần I: Kinh tế học thể chế
4.3. Thất bại thị trường
Hàng công cộng: Hàng công cộng (hoặc cái xấu công cộng) (Public good [or bad]) là một hàng hóa có hai thuộc tính _ phi-cạnh tranh và không-loại trừ (Myles 1995). Tính phi-cạnh tranh đã được thảo luận trong Chương 2, tại đó chúng ta đã chỉ ra rằng cầu được tổng hợp một cách rất khác biệt cho các hàng hóa phi-cạnh tranh. Cả tính phi-cạnh tranh lẫn tính không-loại trừ là các thuộc tính kỹ thuật của hàng hóa.
Một hàng hóa/cái xấu là phi-cạnh tranh (non-rival _ dùng-chung?) nếu “tiêu dùng” nó bởi một người-được-ủy-quyền-hành-động không làm giảm khối lượng sẵn có cho các người-được-ủy- quyền-hành-động khác.
Một hàng hóa/cái xấu là không-loại trừ nếu nó là quá tốn kém để loại trừ một ai đó khỏi việc tiêu dùng hàng hóa này.
Nhận xét rằng hàng hóa công cộng không được định nghĩa là hàng hóa được sở hữu công cộng; quyền sở hữu là không thích hợp ở đây. Một thứ nào đó là một hàng hóa công cộng hay không còn tùy thuộc hoàn toàn vào các thuộc tính kỹ thuật của hàng hóa, không có sự chú ý nào
Ngoại ứng: Ngoại ứng (externality) xuất hiện khi hàm tiện ích hoặc hàm sản xuất của một người- được-ủy-quyền-hành-động “thứ ba” có chứa các khoản mục (như là các hàng hóa được coi là tích cực hoặc tiêu cực) được chọn bởi một hoặc nhiều người-được-ủy-quyền-hành-động khác mà không lưu tâm tới phúc lợi của người-được-ủy-quyền-hành-động thứ ba này (Baumol và Oates 1988, 17).
Như được phát biểu một cách xúc tích nhưng chính xác bởi Myles “Một ngoại ứng thể hiện một sự liên kết giữa các người-được-ủy-quyền-hành-động kinh tế nằm bên ngoài hệ thống giá của nền kinh tế. Khi mức ngoại ứng được tạo ra không được kiểm soát một cách trực tiếp bởi giá cả, các định lý hiệu quả chuẩn tắc về cân bằng thị trường không thể được áp dụng” (1995, 312).
Ô nhiễm là ví dụ nguyên mẫu (prototypical _ người đầu tiên, vật đầu tiên, mẫu đầu tiên) của một ngoại ứng, do vậy những vấn đề chất lượng nước thường được coi là các tình huống ngoại ứng. Vì các người-được-ủy-quyền-hành-động khác không phải chú ý tới ảnh hưởng của họ cho người-được-ủy-quyền-hành-động thứ ba, họ chọn mức không-hiệu quả xã hội của hành động. Nếu khoản mục là “tốt”, được đặc tên là ngoại ứng tích cực, việc xem xét phúc lợi của người-được-ủy- quyền-hành-động thứ ba sẽ dẫn những người-được-ủy-quyền-hành-động khác tới việc sản xuất nhiều hơn. Nếu khoản mục là “xấu”, được gọi tên là ngoại ứng tiêu cực hoặc có hại (detrimental), việc xem xét phúc lợi của người-được-ủy-quyền-hành-động thứ ba sẽ dẫn những người-được-ủy- quyền-hành-động tới sản xuất nó ít hơn.
Các ngoại ứng dòng hồi quy xuất hiện từ sự kiện nước không bị hủy hoại trong sử dụng. Sau khi nước được sử dụng bởi một người-được-ủy-quyền-hành-động bất kỳ (một trang trại, một doanh nghiệp, hoặc một hộ gia đình), một phần nào đó của nước quay trở lại dòng chảy tự nhiên hoặc một chỗ chứa nào đó để trở thành khả dụng bởi những người-được-ủy-quyền-hành-động thứ ba.
Việc xem xét các dòng hồi quy trong Chương 2 tạo ra điều kiện tối ưu có thể tổng quát hóa (phương trình [2.33]) cho thấy các điều kiện cho hiệu quả kinh tế bị tác động như thế nào khi có mặt các dòng hồi quy:
Thật không may, những người-được-ủy-quyền-hành-động tư nhân không theo đuổi điều kiện này trong các hoạt động của họ vì họ có xu hướng bỏ qua các tác động của hành vi của họ tới các dòng hồi quy. Họ không rút ra được các lợi ích hoặc chi phí cá nhân từ dòng hồi quy của riêng họ, do vậy họ không được khuyến khích kiểm soát dòng hồi quy vì lợi ích của các người-được-ủy- quyền-hành-động nằm ở phía hạ du.
Độc quyền tự nhiên: Độc quyền tự nhiên (natural monopoly) là một sắp đặt sản xuất trong đó
hiệu quả kinh tế bị tổn thương, không được trợ giúp, bởi cạnh tranh thị trường. Tổn thương là do chi phí sản xuất trung bình (AC) giảm một cách phổ biến. (Chi phí trung bình của nước được cung cấp đơn giản là tổng chi phí chia cho khối lượng nước được cung cấp). Nói theo ngôn ngữ chất phác hơn (plainer laguage), sản lượng càng tăng thì chi phí đơn vị càng giảm. Chi phí trung bình giảm thường xảy ra cho các nhà cung cấp nước. Như một hậu quả kỹ thuật, chi phí cận biên của việc cung cấp một đơn vị hàng hóa thêm vào luôn hạ thấp chi phí trung bình. Hai hàm ý quan trọng khi đó xuất hiện: chi phí sản xuất đơn vị sẽ thấp nhất khi một người sản xuất đơn lẻ cung cấp cho tất cả những người tiêu dùng, và định giá chi phí-cận biên của hàng hóa không tạo ra đủ doanh thu để thu hồi toàn bộ chi phí của nhà sản xuất. Cả hai hàm ý này cần phải được xét lại trong các chương sau.
Quá-chiết khấu (overdiscounting): Khi những người-được-ủy-quyền-hành-động được khuyến khích về mặt tư nhân để thực hiện các quyết định động học về quyền sở hữu mà họ kiểm soát, họ sử dụng các tỷ lệ chiết khấu tư nhân gán trọng số nhỏ hơn cho tương lai so với tỷ lệ được chỉ ra bởi tỷ lệ chiết khấu xã hội.
Phần II: Các thể chế pháp luật
• Luật nước
Khi đã đạt tới một viễn cảnh kinh tế về lựa chọn thể chế, bây giờ có thể kiểm tra các quy tắc xã hội cụ thể hơn sẵn có cho quản lý nước. Luật nước là một lĩnh vực nghiên cứu hấp dẫn với vô số biến thể và sắc thái, do vậy cần thiết phải giới hạn sự chú ý ở đây vào những vấn đề quan trọng nhất. Điều tốt nhất là học luật nước từ những chương trình chỉ dẫn chuyên môn hóa cũng như tài liệu tham khảo nhấn mạnh chủ đề này, do vậy sẽ là đủ cho các mục đích của chúng ta ở đây nếu nhấn mạnh các thể chế chính và các lời giải thích kinh tế đúng đắn của chúng. Quả thực, chính lời giải kinh tế bây giờ bắt phải có khảo sát này.
Kinh tế học tài nguyên nước nhận thức luật nước như là việc thiết lập các quy tắc theo đó
những người-được-ủy-quyền-hành-động có thể hành động với nước. Hành vi này có thể bao gồm giao dịch các quyền sở hữu nước nếu luật cho phép điều đó. Trong thực hành thông thường, các bộ tạo khung (framers) của luật nước không hoàn toàn đánh giá cao giá trị (appreciate) của quá trình thị trường cho tái phân bổ. Những nhà thiết kế pháp luật đôi khi nghĩ rằng một phân-chia nước thích hợp có thể được nhận biết và sau đó ứng dụng nó một cách cứng rắn (rigidly). Tùy
khó chịu (discomforting) để “chắp vá _ tinker” các quy tắc, thay đổi chúng nhiều hơn so với cần thiết về mặt xã hội. Hai bài học được đưa ra từ viễn cảnh kinh tế là giao dịch tư nhân là chiến thuật hữu ích (và tự động) về mặt xã hội để quản lý khan hiếm, và bảo đảm quyền về nước là đáng mong muốn nếu chúng ta khuyến khích những người sử dụng nước đầu tư và bảo tồn một cách có hiệu quả. Các ví dụ của những điểm này sẽ phát sinh trong các mục tiếp theo.
• Luật nước mặt:
(1). Luật ven sông:
– chỉ những người sống ven sông được quyền về mặt pháp lý sử dụng nước mặt;
– các quyền về nước này không được cố định về mặt khối lượng;
– mỗi sử dụng nước ven sông phải là “hợp lý” trong mối quan hệ với sử dụng nước của những người sống ven sông khác trong lưu vực.
Hạn chế: không quy định khối lượng nước được bao nhiêu => điểm nhấn của luật là không làm hại ai khi lấy nước.
(2) Luật sở hữu tài sản chung: nước coi là tài sản chung.
(3) Chiếm hữu trước
(4) Gần đây, bộ luật nước thay đổi nhiều
- Phân chia khối lượng nước: lấy theo thời điểm nào, khối lượng bao nhiêu, có thể dưới dạng giấy phép sử dụng nước => phân phối theo thời gian.
- Có thể chuyển nhượng => tạo điều kiện thị trường.
Học thuyết ven sông (Riparian Doctrine): Sở hữu chung đối với nước mặt
• chỉ những người sống ven sông được quyền về mặt pháp lý sử dụng nước mặt;
• các quyền về nước này không được cố định về mặt khối lượng;
• mỗi sử dụng nước ven sông phải là “hợp lý” trong mối quan hệ với sử dụng nước của những người sống ven sông khác trong lưu vực.
• Vì quyền ven sông không chỉ ra khối lượng nước có liên quan, các viễn cảnh đạt được hiệu quả thông qua Định lý Thứ nhất bị loại bỏ.
Các hệ thống cấp giấy phép Miền Đông: Sở hữu nhà nước về nước mặt.
• Hệ thống quản lý sở hữu chung nằm trong học thuyết ven sông lỏng lẻo bởi tính hợp lý, và các quyền xung đột nhau phải được cân bằng trên một cơ sở tốn kém và tùy thuộc tình huống.
• Nhiều tiểu-bang ven sông cũng đã ban hành những yêu cầu rằng những người sử dụng nước phải có giấy phép sử dụng nước.
• Những giấy phép này tạo ra thông tin quy hoạch như khối lượng và tính thời vụ của việc lấy nước. Các yêu cầu giấy phép cũng là các bước tiến hóa trong tái-hình thành chủ nghĩa ven sông
• Từ sở hữu chung tới sở hữu nhà nước, tương phản với chủ nghĩa ven sông, những thể chế này nghiệm ngặt hơn.
• Các giấy phép có thời hạn không có tính chuyển nhượng
Học thuyết chiếm hữu trước (Prior Appropriations Doctrine): Sở hữu tư nhân cho nước mặt
• Hệ thống pháp lý dựa trên nguyên tắc đạo đức “ai đến trước, người ấy có quyền”
• Đặc điểm:
• Mức thâm niên
• Lượng hóa :Các quyền về nước này được biểu diễn một cách định lượng
• Khả năng chuyển nhượng (Transferability) Các quyền có thể được bán một cách độc lập với bất kỳ đất đai nào trên đó nước được sử dụng.
=> học thuyết chiếm hữu trước không ràng buộc sử dụng nước vào đất đai ven sông.
Các cổ phần tương quan: Sở hữu tư nhân đối với nước mặt
• sử dụng các cổ phần có thể chuyển nhượng trong tài nguyên=> Đây là dạng sở hữu tư nhân của các cổ phần tương quan
• một số lượng cố định các cổ phần được phân bổ cho những người sử dụng, và các chủ sở hữu của mỗi cổ phần nhận được một tỷ phần nước sẵn có.
• Các cổ phần này là có thể chuyển nhượng được
• hiệu quả kinh tế có thể được cải thiện bằng cách thiết kế đúng đắn các hệ thống cổ phần tương quan.
• Luật nước ngầm
– Quyền sở hữu tuyệt đối: QSH chung yếu với nước ngầm
o Gắn với sở hữu đất đai nằm trên tầng nước ngậm được bơm tùy ý
o quyền sở hữu tuyệt đối không thiết lập quyền sở hữu tư nhân đối với nước ngầm o Dễ dẫn đến sở hữu truy cập mở nếu không có ràng buộc => động cơ bảo tồn kém
o tính hợp lý cho nước ngầm là ít liên quan hơn tới sử dụng của các thành viên khác của khu vực chung.
o Tương phản với SH tuyệt đối
o học thuyết sử dụng hợp lý là một cải thiện động so với sở hữu tuyệt đối – Quyền sở hữu tương quan: Sở hữu chung đối với nước ngầm
o là sự siết chặt luật nước ngầm, tương đối so với sở hữu tuyệt đối và sử dụng hợp lý
o nguyên tắc này ở đây là khu vực-chung được tạo thành từ những chủ sở hữu đất nằm phía trên có các cổ phần công bằng được chia theo tỷ lệ giữa những người sử dụng
o Về khía cạnh cạn kiệt: tiếp cận các quyền tương quan là xác định xem “công suất an toàn” (safe yield) của một tầng ngậm nước và giới hạn tổng khối lượng bơm hút hàng năm vào khối lượng đó
– Học thuyết chiếm hữu trước: Sở hữu tư nhân không đầy đủ đối với nước ngầm:
o gồm các nguyên tắc như lượng hóa quyền về nước, khái niệm thâm niên, và khả năng chuyển nhượng;
o Khó khăn về cạn kiệt => ảnh hưởng đến hiệu quả động
o Nếu các ý tưởng chiếm hữu trước được áp dụng triệt để=> những người nắm giữ quyền ít thâm niên cần đóng các giếng khoan của họ lại trong khoảng thời gian các giai đoạn tái-nạp thấp.
o Về mặt vận hành, hành động này cần một ước lượng về mặt quản lý hành chính của lượng tái-nạp và một tuyên bố hình thức về những người nắm giữ quyền nào có thể bơm hút.
– Quyền sở hữu nhà nước với nước ngầm
– Gây ra thiệt hại kinh tế do các chủ sở hữu khác nhau cùng chung tầng nước ngầm => ảnh hưởng dự trữ => tạo ngoại ứng