Phân tích chính sách

Một phần của tài liệu Bài giảng kinh tế tài nguyên nước (Trang 40 - 47)

Phần II: Các thể chế pháp luật

Chương 5: Phân tích chính sách

5.1.Hai dạng phân tích chính sách: Lý thuyết và thực nghiệm

Lợi thế rõ ràng của phân tích chính sách lý thuyết là khả năng nhận được tư vấn nhanh chóng về chính sách, chỉ bằng cách sử dụng hiểu biết sâu sắc về kinh tế hòa hợp với hoàn cảnh chung.

Không yêu cầu hoặc chỉ yêu cầu ít số liệu, và không phải thực hiện lập trình hoặc nghiền ngẫm các con số. Trong những trường hợp như vậy, những cải thiện chính sách không nhất thiết bị còng tay (handcuff) vào phí tổn và trì trệ thời gian như khi sử dụng phân tích định lượng. Nâng cao thể chế có thể được tăng tốc.

Có nhiều trường hợp trong đó phân tích chính sách lý thuyết sẽ không có đủ sắc sảo để đưa ra một khuyến cáo rõ ràng. Khi đã biết rằng tất cả các chính sách được kèm theo bởi cả những lợi ích và thiệt hại kinh tế, lý thuyết của chúng ta có thể không có đủ sức mạnh để biết liệu các lợi ích có vượt quá thiệt hại hay không. Trong những trường hợp khác khi mà lý thuyết là bắt buộc (resolute), những người làm quyết định có thể không được thuyết phục cho tới khi họ có thể thấy phân tích “Hãy chỉ cho tôi các phân tích” (show-me analysis) nào đó có chứa các con số và “các sự kiện”. Ở đây phân tích chính sách thực nghiệm có thể được tiến hành. Trong khi phân tích chính sách lý thuyết có thể được tiến hành mà không cần thực nghiệm, điều ngược lại là không đúng (in reverse). Chủ nghĩa thực nghiệm đòi hỏi một căn cứ lý thuyết đúng đắn.

5.2.Phân tích chính sách thực nghiệm

 Khi cho tiêu chuẩn hiệu quả tối đa hóa lợi ích ròng, một thay đổi chính sách tốt là thay đổi đề nghị các lợi ích xã hội vượt quá các chi phí xã hội.

 Tiếp cận thực nghiệm cho phân tích chính sách là ước lượng và so sánh giá trị bằng tiền của các lợi ích mới so với chi phí mới tương lai.

Kiểm định đền bù giả tưởng: cho những người bị thiệt hại. (khi chính sách được phê chuẩn và thực hiện,vẫn có người bị thiệt hại _ đền bù là giả tưởng _ nhưng lợi ích ròng tổng hợp về mặt xã hội sẽ được nâng cao.

o Tính toán thay đổi tổng lợi ích ròng của các bên bị ảnh hưởng

o Chính sách cải thiện-hiệu quả xảy ra khiMột chính sách cải thiện-hiệu quả xảy ra khi NB 0 .

Những thay đổi chính sách tác động tới mọi người hoặc các doanh nghiệp sẽ thay đổi các lợi ích ròng nhận được bởi những người-được-ủy-quyền-hành-động này thông qua ít nhất một trong bốn cơ chế nguyên thủy: phân phối giá (price rationing), phân phối khối lượng, dịch chuyển cầu, hoặc dịch chuyển cung. Các mục sắp tới sẽ lần lượt làm việc với mỗi một trong những kiểu chính sách này. Trong thế giới thực, một số cơ chế này có thể xảy ra trong một trạng thái hòa hợp (in unison), sao cho khi một dịch chuyển cung yêu cầu giá cả tăng lên để bù đắp các chi phí mới. Bằng cách nhấn mạnh các phần tử của các tổ hợp chính sách như vậy, sẽ có khả năng gỡ rỗi các tác động khác nhau lên các nhóm bị tác động.

Hình 5.1 trình bày các tình huống ban đầu, trước chính sách cho một nhóm những người tiêu dùng nước. Nhóm này có thể bao gồm các hộ gia đình, các ngành, hoặc bất kỳ tổ hợp nào của những người-được-ủy-quyền-hành-động sử dụng-nước. Trong khi cũng có thể có cầu đối với nước tự nhiên trong một con sông, chúng ta hãy cho rằng MB(w) là cầu tập thể của nhóm đối với nước bán lẻ được cung cấp bởi cơ quan quản lý nước. Cơ quan quản lý này đo lường các dẫn dòng nước và giá p0 trên một đơn vị nước. Để phản ứng lại, nhóm người tiêu dùng chọn w0 đơn vị nước.

Tổng lợi ích nhận được bởi những người sử dụng nước khi đó là diện tích bên dưới đường cầu của họ, diện tích A + B. Tổng doanh thu nhận được bởi cơ quan quản lý là p0 nhân với w0 hoặc diện tích B. Các lợi ích ròng nhận được bởi những người sử dụng là diện tích A. Với sắp đặt trước- chính sách tại chỗ này, chúng ta có thể bắt đầu đánh giá các hành động chính sách thay thế lẫn nhau. Tuy nhiên, đầu tiên, một số thuật ngữ hữu ích sẽ là thích hợp.

5.3.Đo lường thặng du người tiêu dùng và nhà sản xuất

Nếu nhóm cầu chỉ bao gồm các hộ gia đình, thì diện tích A của Hình 5.1 có thể được gọi một cách rõ ràng là thặng dư người tiêu dùng. Trong hoàn cảnh nước của chúng ta, thặng dư người tiêu dùng là các lợi ích ròng của tiêu dùng nước cho các hộ gia đình sau khi họ đã thanh toán cho nước của họ. Với tổng lợi ích là A + B và các thanh toán chỉ là B, những người tiêu dùng có một số lợi ích còn lại _ cái mà các nhà kinh tế họi là thặng dư người tiêu dùng. Chính sự có được thặng dư này là điều khuyến khích những người tiêu dùng mua nước. Không có nó, sẽ không có lý do nào.

Nếu đường MB của Hình 5.1 cũng chứa cả những người-được-ủy-quyền-hành-động kinh doanh, là người sử dụng nước, thì thặng dư người tiêu dùng cũng có thể là một thành phần thích hợp (apt) của diện tích A vì những người-được-ủy-quyền-hành-động này tiêu dùng nước như một đầu vào cho một quá trình sản xuất. Những người-được-ủy-quyền-hành-động này mua nước vì nó là một đầu vào cho phép tạo ra lợi nhuận từ sản xuất và doanh số của một số hàng hóa khác. Trên thị trường của các hàng hóa được sản xuất này, những người bán thu được một thặng dư nhà sản xuất, về thực chất là cũng một giá trị như lợi nhuận. Trong một điều kiện tổng quát, có thể chỉ ra về mặt toán học là thặng dư nhà sản xuất kiếm được trong các thị trường hàng hóa này bằng với thặng dư người tiêu dùng những người-được-ủy-quyền-hành-động kinh doanh này nhận được trên

“thị trường” nước như là những người tiêu dùng nước (Just, Hueth, và Schmitz 2004, 63). Tức là, có một sự tương đương, và nó cho chúng ta hai phương tiện để đo lường cùng một thứ: các lợi ích của tiêu dùng nước như là nhận được bởi các người-được-ủy-quyền-hành-động kinh doanh. Hơn nữa, sự tương đương này cảnh báo cho chúng ta về tai nạn (mishap) tính-đúp tiềm năng.

5.4.Chính sách phân phối-giá (Price-Rationing Policy)

Trên Hình 5.2, chúng ta dự tính một gia tăng tiềm năng trong tỷ giá nước từ p0 tới p1. Một gia tăng như vậy có thể được đưa ra để làm phù hợp giá với chi phí cận biên của nước (để nâng cao hiệu quả), để hạn chế (ration) giảm sút cung cấp nước tạm thời, hoặc làm tăng doanh thu của cơ quan quản lý. Trong khi các lợi ích ròng của những người sử dụng nước khởi đầu là diện tích a+b+c (= diện tích A của Hình 5.1), lợi ích ròng của người tiêu dùng sẽ là diện tích au khi tỷ giá tăng lên. Do vậy, thay đổi trong các lợi ích ròng của những người sử dụng nước cho đề nghị này là = diện tích (b+c).

Tác động thứ hai của chính sách này là thay đổi doanh thu của cơ quan quản lý nước. Cơ quan quản lý nước bán ít nước hơn trước đây, bởi vậy mất đi doanh thu được mô tả bởi diện tích e, nhưng nó nhận được nhiều doanh thu hơn cho nước mà nó phân phối, nhận được diện tích b.

Tác động cuối cùng của chính sách này là hạ thấp chi phí sản xuất của cơ quan quản lý bằng cách hạ thấp khối lượng nước mà nó phải chế biến. Để phân tích và tiền tệ hóa tác động sau cùng này, chúng ta sẽ cần kiểm tra hàm chi phí của cơ quan quản lý. Địa vị thống trị của chi phí cố định (vốn) trong đa số các ngân sách của cơ quan quản lý nước có thể hàm ý rằng thay đổi trong chi phí sản xuất là nhỏ, ít nhất từ một viễn cảnh chỉ là hạch toán (kế toán _ ND), nhưng chúng ta cũng có

thể bao gồm tất cả các chi phí cơ hội tiết kiệm được của nước, như giá trị cận biên của nước tự nhiên ( trong phương trình [2.30] và giá trị cận biên của nước cạn kiệt (0 trong phương trình [3.14]). Bây giờ, chúng ta sẽ trì hoãn các chi tiết đối với phân tích chi phí sản xuất sửa đổi trong khi tiếp tục thừa nhận sự thích hợp của chúng.

5.5.Chính sách phân phối-khối lượng

Chính sách điều chỉnh giới hạn khối lượng của nước được yêu cầu có sơ đồ trên Hình 5.3. Được nghĩ là để thiết kế để chống chọi với thiếu cung, chính sách này cắt giảm sử dụng nước bằng cách giới hạn lựa chọn người sử dụng theo một cách nào đó. Có lẽ các sử dụng nước xác định bị ngăn chặn (như nước tưới cỏ trong những ngày xác định, rửa xe hơi/vỉa hè, hoặc tưới cho một vụ mùa có giá trị thấp) hoặc có lẽ tất cả những người sử dụng được nói phải cắt bớt sử dụng x phần trăm.

Để giúp cho các so sánh, chúng ta hãy giả sử chính sách này cắt giảm sử dụng nước tới w1. Tỷ giá nước vẫn được giữ tại p0.Trong chính sách này, cơ quan quản lý nước rõ ràng mất đi doanh thu

được thể hiện bởi diện tích e. Những người sử dụng nước mất đi tổng lợi ích khi đã cho bởi diện tích c e , và mất đi các lợi ích ròng của diện tích c khi và chỉ khi chúng ta có thể đưa ra giả thiết quả cảm (heroic) sau đây: tất cả các cắt giảm trong sử dụng nước có được bằng cách loại bỏ những sử dụng trên miền w w1, 0 của đường cầu, và tất cả các sử dụng trên miền  0,w1 được bảo tồn.

5.6.Chính sách dịch chuyển-cầu

Cơ chế chính sách thứ ba có thể ảnh hưởng tới các lợi ích ròng là chính sách dịch chuyển cầu.

Những chính sách này tạo ra dịch chuyển hoặc xoay vòng các đường cầu nước, như là đối lập với các dịch chuyển dọc theo đường cầu như đã xảy ra với phân chia-giá hoặc phân chia-khối lượng.

Các chính sách cắt giảm cầu bao gồm các chương trình giáo dục được thiết kế để truyền đạt (apprise) cho những người tiêu dùng về các tùy chọn bảo tồn của họ (ví dụ, thông tin về xeriscape _ cảnh đẹp cần ít hoặc không cần nước _ ND), phân phối hoặc trợ cấp các công nghệ sử dụng nước thay thế nhau (ví dụ, vòi tắm hoa sen miễn phí, các khoản vay lãi suất-thấp cho các công nghệ tưới tiên tiến), và điều lệ sử dụng đường ống yêu cầu lắp đặt các thiết bị bảo tồn-nước.

Các chính sách tăng-cầu là không phổ biến vì đa số những vấn đề nước liên quan tới khan hiếm. Các cộng đồng, tuy nhiên, khuyến khích cầu khi họ cố gắng thu hút những hãng kinh doanh thương mại mới bằng cách vận động hành lang các doanh nghiệp hoặc đưa ra những khuyến khích thuế cho các doanh nghiệp bố trí tại địa phương. Cầu cũng dịch chuyển ra bên ngoài một cách tự nhiên (không cần có chính sách) do tăng trưởng dân số, tăng trưởng thu nhập, phát triển kinh tế, biến đổi khí hậu, và nhiều các nhân tố khác nằm ngoài các chính sách được thực hiện bởi những nhà cung cấp nước.

5.7.Chính sách dịch chuyển-cung

Cơ chế chính sách cơ bản thứ tư và cuối cùng là cơ chế dịch chuyển cung. Các dịch chuyển cung có thể được thực hiện thông qua vô số cách thức, và chúng có thể tác động những người tiêu dùng theo nhiều cách khác nhau. Không có gì đáng ngạc nhiên là phân tích các dịch chuyển cung là căn bản cho phân tích dự án trong chương sắp tới. Nhiều dự án cung cấp nước dịch chuyển cung ra bên ngoài, hoặc hạ thấp chi phí cận biên của mỗi đơn vị nước được phân phối hoặc giảm nhẹ ràng buộc cung, là điều cắt cụt (truncate) một đường cung. Cung cũng có thể được mở rộng bằng những tiếp cận phi-công trình (nonstructural), như mua sắm hoặc cho thuê quyền về nước, hoặc bằng cách tham gia vào các hợp đồng dài-hạn với các khối lượng nước bán-buôn. Ngày càng thích hợp trong các vùng lãnh thổ khan hiếm-nước là những giảm sút trong cung nước được gây ra bởi các

nhiều vùng lãnh thổ, các chính sách làm tăng cung nước cho một nhóm người sử dụng cũng phải làm giảm cung nước cho một nhóm khác. Điều đó cũng đúng cho các dự án nước. Các hồ chứa mới trữ lại lượng nước nhẽ ra sẽ chảy thoát xuống phía hạ du được nghĩ một cách an toàn nhất như là một sự tái phân chia nước. Cũng thường dúng là khối lượng nước thoát xuống được sử dụng theo một cách có lợi cho những người khác.

Tăng và giảm cung có thể có những dạng khác nhau tùy thuộc vào bản chất của chính sách.

Trong mục này chúng ta sẽ kiểm tra các chính sách dịch chuyển cung ra phía ngoài và các chính sách mở rộng cung bằng cách nới lỏng một ràng buộc cung. Các chính sách giảm-cung thuộc những kiểu này có thể được xử lý như sự đảo ngược đơn giản của các trường hợp này.

5.8.Nghiên cứu tổng quan và phân tích các kiểu chính sách khác

Một dải các chính sách khác nhau đã được đánh giá về mặt nhận thức trong các mục trước. Trong việc làm như vậy, chúng ta đã nhấn mạnh bốn kiểu chính sách tách biệt. Mặc dù lần đầu tiên đọc các công trình khảo sát chính sách này có thể đề xuất rằng nhà phân tích phải quen thuộc với tập lớn các khả năng có thể, các phần tử hợp thành là đơn giản, và chúng được mở rộng cho tất cả các đánh giá chính sách/dự án. Danh sách sau đây tóm tắt các nguyên tắc chính cần được sử dụng:

 Chính sách một-giai đoạn là hiệu quả nếu tổng các thay đổi trong tổng lợi ích ròng, của tất các người-được-ủy-quyền-hành-động (người tiêu dùng, nhà QL, CP..) là dương.

 Thay đổi trong lợi ích ròng = lợi ích ròng sau chính sách - lợi ích ròng trước chính sách.

 Lợi ích ròng = tổng lợi ích - tổng chi phí.

 Tổng lợi ích:

o NTD là diện tích dưới các hàm cầu (lợi ích cận biên).

o Nhà cung cấp là tổng doanh thu (giá nhân với khối lượng).

 Tổng chi phí:

o NTD là tổng phí tổn (outlays) (giá nhân khối lượng).

o Nhà cung cấp nước= chi phí TB x khối lượng nước cung cấp (hoặc bằng cách hiệu chỉnh diện tích bên dưới hàm chi phí cận biên).

.

5.9.Kết hợp NB vào NPV cho các chính sách động học

Phân tích chính sách động: 4 phương án

 NPV có thể được tính từ các NB , -từ các quan hệ cung và cầu (trung bình) kỳ vọng. =>

NPV kỳ vọng với giả thiết các điều kiện khí hậu tương lai sẽ là trung bình. Kiểu phân tích này là có nhiều thông tin và dễ được hoàn thành.

 Bổ sung vào phân tích cơ sở (baseline) dựa vào cung/cầu kỳ vọng, => xây dựng các kịch bản “cao” và “thấp” riêng biệt cho đánh giá bổ sung. => cách cung cấp cho những người làm-quyết định thêm thông tin khi bị tác động bởi khí hậu.

 Dựa vào các số liệu quá khứ để tính NPV giai đoạn tiếp

 Có thông tin xác suất về khí hậu _ hàm mật độ xác suất cho các tác nhân cung/cầu giống như lượng mưa, lượng tuyết tan, hoặc nhiệt độ _ và mối quan hệ hàm giữa (các) tác nhân và cung/cầu đã được ước lượng => tính NPV (thông qua mô hình máy tính để lựa chọn PA, chính sách hiệu quả).

5.10 Tác động kinh tế thứ cấp

 Tiêu chuẩn đánh giá: dựa vào phúc lợi của NSD nước thông qua đo lường lợi ích

 Các lợi ích khác: như tăng công ăn việc làm và thu nhập có được đưa vào hay không? - tác động kinh tế thứ cấp (tác động gián tiếp)

o Phân tích chính sách có tính đến tác động kinh tế thứ cấp có thể được tính đếm tùy thuộc vào các tình huống.

o Đối với các tác động thứ cấp:

 Trong nhiều trường hợp, chúng không cần được tính đếm vì chúng là sự bù đắp bởi các tác động thứ cấp xảy ra ở đâu đó.

 Nếu tính thì trong phạm vi quan điểm hạch toán địa phương.

Một phần của tài liệu Bài giảng kinh tế tài nguyên nước (Trang 40 - 47)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(85 trang)