Phần II: Các thể chế pháp luật
Chương 6: Phân tích Chi phí – Lợi ích
6. CBA là nhiều hơn việc chỉ tính toán NPV
CBA: xác định,bộc lộ tất cả các ảnh hưởng của dự án, không chỉ những ảnh hưởng có thể được đo lường bằng tiền. => CBA hơn là chỉ tính toán NPV.
Hạn chế CBA:
Đôi khi không tính hết giá trị kết quả dự án, giành nhiều nỗ lực tiền tệ hóa các hậu quả dự án (tài nguyên)
CBA là một biểu hiện của tiêu chuẩn hiệu quả tổng hợp.
Tác động dự án được tiền tệ hóa và đặt trọng số bằng nhau trong cùng giai đoạn (thực tế tác động khác nhau) (ví dụ người nghèo chịu tác động khác người giàu tại
CBA dễ dẫn đến thất bại trong việc hỗ trợ ra quyết định do các dự án nước có mục đích xã hội là sửa chữa bất-bình đẳng trong phân phối các tài nguyên.
CBA có thể là trợ giúp quyết định yếu, mặc dù nguyên tắc xác định có thể vẫn hữu ích.
6.2.Bảng tính với nhu cầu nhập số liệu
Khi đã thiết lập hoàn cảnh bức tranh-lớn về CBA, chúng ta có khả năng khảo sát tính toán các chuẩn đo kinh tế. Tính toán thực tế của một chuẩn đo CBA, như NPV hoặc các lợi ích ròng năm- hóa, là một vấn đề nhỏ so với phân tích được yêu cầu để xác định các giá trị của mỗi lợi ích và chi phí. Ngay từ lúc bắt đầu, sẽ là hữu ích nếu nghĩ về một bảng tính trống rỗng đang cần nạp số liệu.
Một bảng tính như vậy được biểu diễn trên Bảng 6.1. Hai cột then chốt là các bản liệt kê được phác thảo của các lợi ích và chi phí theo thời gian. Tất cả các cột trống khác phụ thuộc hàm số vào những lợi ích và chi phí này cũng như tỷ lệ chiết khấu được chọn. Cộng cột cuối (cột thứ bẩy) cho chúng ta NPV. Chia tổng của cột thứ năm cho tổng của cột thứ sáu mang lại cho chúng ta tỷ lệ lợi ích-chi phí. Hai tổng này là giá trị hiện thời của các lợi ích và giá trị hiện thời của các chi phí có thể được nhận biết như là tử số và mẫu số của tỷ lệ lợi ích-chi phí (phương trình [3.6]). Thực hiện biến đổi số cho NPV, sử dụng phương trình (3.8), chúng ta nhận được các lợi ích ròng năm-hóa.
Khi đó, việc nhập các số liệu và tối quan trọng có được từ đâu? Về căn bản, chúng có được nhờ các phương pháp được giới thiệu trong chương phân tích chính sách trước đây. Nói một cách tổng quát, các dự án sẽ sửa đổi các khối lượng tài nguyên sẵn có _ như trong một chính sách dịch chuyển-cung. Trong đa số các tình huống, các lợi ích có được từ các dịch chuyển đường cung ra phía ngoài (outward). Các dịch chuyển cung vào bên trong (inward) tạo ra các chi phí, nhưng các chi phí dự án cũng xảy ra khi các tài nguyên được yêu cầu-bởi-dự án được mua sắm ngoài thị trường
Bt Ct
6.3.Xác định lợi ích và chi phí
Nhận biết các chi phí, lợi ích
Cần có các hỗ trợ
Phân loại lợi ích và chi phí trước phân tích. => hỗ trợ dự báo đánh giá giá trị của chúng.
Các giá trị tương đối có thể làm cho các lợi ích hoặc chi phí trở thành cốt yếu trong việc quyết định bởi CBA.
6.6.Dự án đa-mục tiêu
Mặc dù tài liệu này là khá tập trung vào khan hiếm nước và vai trò mà các dự án có thể có trong việc làm giảm nhẹ khan hiếm, các dự án nước cung cấp một loạt các lợi ích. Cung cấp nước không chỉ được mở rộng cho các ngành khác nhau, còn có những lợi ích và chi phí không liên quan tới nâng cao cung cấp nước. Các dự án nước lớn một cách điển hình sẽ đóng góp vào các cải thiện nguyên thủy như sau:
Cung cấp nước
Tưới
Đô thị
Công nghiệp
Kiểm soát lũ
Giải trí
Thủy năng
Giao thông thủy
Tất cả các đầu ra này phải được tính giá trị phù hợp với tư liệu lý thuyết được trình bày trong tài liệu này. Tức là, có các cầu đối với những cải thiện này, và khối lượng thêm vào được phép bởi một dự án cung cấp các lợi ích đo được bằng diện tích đúng đắn nằm bên dưới đường cầu. Có
những đặc tính nằm bên dưới một số những đường cầu này, là điều làm cho chúng đơn nhất, tuy nhiên.
6.7.Sử dụng chi phí thay thế như một thước đo lợi ích
Thông qua sự kết hợp của chúng với những người ủng hộ dự án, đặc biệt là các nhà thiết kế dự án mà từ đó các chi tiết kỹ thuật quan trọng có thể có được, các nhà phân tích kinh tế có thể tiếp nhận và truyền đạt rất nhiều lệch lạc (biases). Những lệch lạc như vậy một cách điển hình tạo ra quá- ước lượng lợi ích và ước lượng-quá-thấp chi phí. Nhà phân tích phải bảo vệ chống lại lệch lạc, nhưng đó dường như là một nhiệm vụ không thể để thỏa mãn một cách đẩy đủ. Các nhà phân tích kinh tế phải dựa vào các chuyên gia phi-kinh tế về thông tin mở rộng, và các nhà phân tích kinh tế nói chung không có các kỹ năng cần thiết để tái-đánh giá thông tin mà họ nhận được. Vấn đề lệch lạc có thể đặc biệt gay gắt trong ước lượng chi phí, trong đó khó có thể dự báo mọi chi phí có thể nhận biết, đặc biệt khi kích thước dự án là lớn hoặc dự án mới được tiến hành về mặt công nghệ _ hàm ý có ít kinh nghiệm cho ước lượng chính xác chi phí. Như một hậu quả, đánh giá-quá-thấp chi phí có thể được nói là một "hiện tượng toàn cầu" (global phenomenon) (Flyvbjerg, Holm, và Buhl 2002). Một điều tra gần đây đã phát hiện ra rằng "các con đập lớn đã thể hiện một khuynh hướng thị trường tới trì hoãn lịch trình và sử dụng quá nhiều chi phí một cách đáng kể" (World Commission on Dams 2000).
Nhà phân tích kinh tế cũng có khả năng tiêm nhiễm thêm các lệch lạc (biases) cho đánh giá dự án. Một số trong số những lệch lạc này là tinh vi (subtle), có lẽ là quá tinh vi để thậm chí nhận thấy bởi nhà phân tích. Chúng có thể phát sinh từ các lựa chọn số liệu hoặc lựa chọn phương pháp luận. Một cách thức phương pháp luận của việc "hoàn thành" quá-ước lượng lợi ích là sử dụng thủ
tục chi phí thay thế (alternate cost procedure) một cách sai lầm. Biện pháp phổ biến và đã được thực hiện này của các lợi ích cung cấp nước phát sinh nếu một dự án phát triển nước sẽ đưa ra (render) các chi tiêu khác không cần thiết giành cho bài toán khan hiếm này. Nếu một dự án nước sẽ thay thế cho các chi tiêu khác, thì các khoản tiết kiệm có thể được tuyên bố một cách đúng đắn là các lợi ích của dự án này. Thông thường, tiếp cận này là một phương pháp đã có của ước lượng lợi ích, nhưng việc sử dụng nó yêu cầu cần phải xem xét cẩn thận.
Khi khan hiếm nước đang ngày càng tăng, có nhiều lựa chọn sẵn có cho những người làm quyết định tại các cấp khác nhau. Như đã thảo luận trước đây, các chế độ đúng đắn có thể được cải tiến, giá cả có thể được cải thiện, hành vi người tiêu dùng có thể được sửa đổi bởi các động cơ khuyến khích hoặc các điều chỉnh hoặc các nâng cao cung cấp có thể được theo đuổi. Cũng có
những phương án thay thế khác nữa. Bất kỳ biện pháp hiệu quả nào, theo định nghĩa, cũng có các lợi ích vượt quá các chi phí. Theo nghĩa đen, chi phí của bất kỳ biện pháp hiệu quả nào là ước lượng biên-dưới của lợi ích. Do vậy,
nếu một dự án nước thể hiện một biện pháp sẽ được sử dụng khi thiếu vắng dự án, thì chi phí của biện pháp được thế chỗ (gọi là các chi phí thay thế _ alternative costs) có thể được sử dụng như một ước lượng bảo tồn của các lợi ích dự án.
nó sẽ tiếp tục tính đúp vì dự án hưởng lợi từ cả các chi phí thay thế lẫn các lợi ích của biện pháp thay thế.
6.8.Cung cấp tài chính cho các dự án: các hàm ý cho CBA
Ngoài chi phí vay mượn, CBA và phân tích tài chính của các dự án theo truyền thống được coi như những vấn đề riêng biệt. Tức là, CBA được thực hiện không-cần quan tâm tới những câu hỏi "tiền tới từ đâu". Với các chủ quyền liên bang, CBA không-cần quan tâm tới những câu hỏi "tiền tới từ đâu” mà là phân bổ chi phí cho các mục tiêu khác nhau.
Khi cắt giảm trợ cấp liên bang và dân đóng góp tài chính => CBA liên quan chặt chẽ hơn với phân tích tài chính => dễ mâu thuẫn khi chi phí > lợi ích.
.
6.10. Phân bổ chi phí bởi phương pháp các lợi ích còn lại-chi phí khả tách
Khi phân bổ chi phí thích hợp với CBA, tiến hành như thế nào?
o VD: Dự án hồ chứa nhằm cung cấp nước đa-ngành, giao thông thủy, kiểm soát lũ, thủy năng, và giải trí=> Phân bổ chi phí chung như đất đai và con đập cho các mục đích?
Phân chia bằng nhau: thường không công bằng, không hiệu quả.
Chia theo tỷ lệ: trên cơ sở sử dụng nước _ càng nhận được nhiều nước, chi phí được phân bổ càng cao => không là nhạy cảm với cầu nước , dễ làm giảm sự gia tham gia của người hưởng lợi có lợi ích cận biên thấp.
chi phí khả tách (separable costs):công bằng để phân bổ cho mỗi mục đích các chi phí khả tách
Hạn chế: tổng của các chi phí khả tách qua tất cả các mục đích sẽ nhỏ hơn tổng chi phí.
Các lợi ích còn lại (remaining benefits) cho mỗi mục đích bằng cách trừ các chi phí khả tách của nó khỏi các lợi ích ước lượng của nó.
Các chi phí không-khả tách (nonseparable costs) (tổng chi phí trừ đi tất cả các chi phí khả tách) được chia tỷ lệ qua những người hưởng lợi trên cơ sở của các lợi ích còn lại của họ =>thường được gọi là các chi phí chung.
******