Lý thuyết kinh tế về định giá

Một phần của tài liệu Bài giảng kinh tế tài nguyên nước (Trang 67 - 71)

Phần II: Các thể chế pháp luật

8.4. Lý thuyết kinh tế về định giá

Quá trình dựa-vào-hạch toán, bắt đầu với bước “nhận biết các yêu cầu doanh thu”, phải được tiến hành một cách cẩn thận hơn nếu chúng ta phải đạt tới định giá chi phí-cận biên. Với khan hiếm ngày càng tăng lên, nguyên tắc cũ của việc dự báo tổng chi phí và chia chúng theo khối lượng nước là một thất bại chính sách. Quản lý có thể và nên làm tốt hơn. Một điều quan trọng là phải xác định chi phí cận biên cũng như kết hợp các giá trị khan hiếm vào các tín hiệu giá cho những người tiêu dùng. Lý thú là, nếu nước bán lẻ được cung cấp bởi các lực cạnh tranh, khan hiếm sẽ được định giá vào trong sản phẩm cuối cùng, nhưng cạnh tranh không khả thi cho nước bán lẻ, do vậy những nhà lập kế hoạch phải tính toán điều này không có sự trợ giúp của thị trường.

Có hai kiểu khan hiếm hiện hữu ở đây. Một là sự khan hiếm vốn cơ sở hạ tầng sử dụng để khai thác và phân phối nước, và hai là sự khan hiếm nước tự nhiên. Hoặc khan hiếm này hoặc cả hai có thể được áp dụng. Trong mỗi trường hợp, khuyến cáo kinh tế là nhận biết chi phí cận biên và kết hợp chi phí đó vào các tỷ giá. Các khuyến cáo kinh tế tổng quát cho ba công cụ định giá ban đầu này là như sau:

1. Tăng trưởng cơ sở hạ tầng cung cấp nước có thể một phần được thúc đẩy (spur) bởi tăng trưởng khối lượng sử dụng bởi các kết nối hệ thống hiện có, nhưng phần lớn được gây ra bởi tăng trưởng trong số lượng các kết nối dịch vụ. Sử dụng các phương pháp được phác họa dưới đây, các khoản thu kết nối mới cần bao gồm các chi phí cận biên của khai thác, xử lý, và vận chuyển cung cấp nước tăng thêm. Không có tín hiệu quan trọng này, các quyết định sắp xếp được thực hiện bởi những người-được-ủy-quyền-hành-động sẽ phi-hiệu quả, với các hàm ý tiêu cực cho sử dụng và bảo tồn nước.

2. Bất kể việc cấu trúc tỷ giá là theo khối hay đồng nhất, giá nước cần bao gồm giá trị cận biên của nước. Các giá trị như vậy thường không là chi phí kế toán đầy đủ thông thường cho nhà cung cấp (như được chỉ ra trong các phương trình [2.30] và [3.14] cho nước mặt và nước ngầm một cách tương ứng), nhưng chúng là giá trị xã hội của nước tự nhiên, và sử dụng hiệu quả sẽ không đạt được nếu bỏ qua những giá trị này. Hơn nữa, nếu những bổ sung này là không đủ để bù đắp tăng trưởng cơ sở hạ tầng đắt đỏ (khoản 1), thì chi phí này cũng được áp dụng cho những người sử dụng nước hiện hành, và việc kết hợp giá trị này vào giá nước cũng có giá trị. Các sửa đổi tổng cộng của giá nước có thể là đáng kể, nhưng chúng được biện hộ. Trong các sắp đặt nơi mà những thay đổi này có thể chứa “cú sốc tỷ giá”, một giai đoạn giới thiệu dần nhiều năm (multiyear phase-in period) có thể là đáng mong muốn, và khuyến cáo kéo theo sẽ có ý nghĩa lớn hơn.

3. Một hậu quả hạch toán của việc bao hàm giá trị nước tự nhiên trong giá là doanh thu tỷ giá sẽ có xu hướng vượt quá chi phí của nhà cung cấp. Để loại bỏ lợi nhuận này cho các nhà cung cấp sở hữu công cộng hoặc để cắt giảm lợi nhuận tới các mức lợi nhuận thông thường cho các nhà cung cấp sở hữu tư nhân, doanh thu vượt quá có thể được hoàn trả cho những người tiêu dùng dưới dạng các khoản thu phí dịch vụ thấp hơn. Có những tùy chọn bên trong khác, như là cấp quỹ cho giáo dục bảo tồn nước hoặc các thiết bị bảo tồn, nhưng các cơ chế như vậy có thể tốn kém nhiều hơn so với giá trị mà chúng mang lại.

Khuyến cáo kinh tế nghiêm ngặt nên được tuân thủ trước khi thực hiện các nỗ lực chi tiêu-doanh

là một sự lôi cuốn cảm xúc (emotive), nhưng chúng sẽ thường bị phản đối trên cơ sở tính hiệu quả, tính bình đẳng, hoặc pháp luật.

Những nguyên tắc này đủ quan trọng để bảo đảm kiểm tra chặt chẽ hơn, kể cả các ví dụ. Đối với các viễn cảnh tương tự, xem Herrington (1987) và Warford (1997). Sẽ là hữu ích nếu bây giờ trước tiên xét lại một phần tử then chốt của lý thuyết kinh tế của chúng ta mà chúng ta đã thấy rằng chi phí cung cấp nước không chỉ phụ thuộc duy nhất vào khối lượng nước được cung cấp.

Chấp nhận một tầm nhìn mới của các nhân tố quyết định chi phí

Dựa trên các nguyên tắc kế toán và các công cụ định giá trong bố trí của chúng ta, hàm chi phí sau là một lựa chọn tốt hơn:

hoặc viết tắt là

Thể hiện này là chính xác hơn so với thể hiện được giới thiệu trong Chương 2, nhưng vẫn chỉ để ý tới chi phí kế toán. Hậu quả là, các khuyến cáo định giá cuối cùng của nó phải được nâng cao.

Định giá các kết nối mới

Câu hỏi cốt yếu cần phải được trả lời để đánh giá khoản thu phí kết nối mới là như sau: Đối với một số lượng các kết nối mới đã cho (ví dụ như 150 kết nối mới được kỳ vọng cho một cơ quan quản lý công cộng cụ thể trong năm sắp tới), điều gì là khác biệt giữa các giá trị hiện tại của chi phí vốn cấp-hệ thống các kết nối đó và không-có chúng (Điều này là tương tự với xác định chi phí khả tách của phương pháp SCRB được xem xét trong Chương 6). Nguyên nhân cho việc kiểm tra khác biệt giá trị hiện thời là có thể tồn tại hai kiểu chi phí vốn bị tác động bởi các kết nối mới:

chi phí tức thì và chi phí tương lai. Việc chỉ nhìn vào từ (8.1) của giai đoạn đầu tiên không là sự phơi bày đầy đủ các tác động của các kết nối mới.

Trong các tình huống thông thường, các chi phí tức thì sẽ bao gồm phần lớn khác biệt giá trị hiện thời và sẽ là dễ ước lượng nhất. Các chi phí tức thì bao gồm vốn chuyển tải nước cho kết nối mới và các đường ống dẫn và phân phối mở rộng, trang thiết bị kiểm soát và giám sát nước mới, các đồng hồ đo nước và sổ sách kế toán mới, các giếng nước và các nhà máy bơm nước mới cần thiết một cách chuyên biệt (expressly) cho những kết nối mới, và tiếp nhận (acquisitions) hoặc phát triển những nguồn nước mới.

C / ΔN

 

Trong một số tình huống, các khác biệt trong các chi phí tương lai cũng có thể đáng-chú ý, do vậy biện minh cho việc kiểm tra khác biệt giá trị hiện thời. Các xem xét tương lai có thể tác động tới khoản thu phí kết nối mới một cách tích cực hoặc tiêu cực. Một mặt, việc bổ sung các kếxc. Ví dụ, nâng cấp (renovation) một nhà máy xử lý nước thải sẽ được bắt đầu trong vòng sáu năm kể từ bây giờ thay vì bẩy năm. Hoặc một dự án lát-kênh sẽ được thực hiện trong năm tới thay vì năm sau đó. Mặt khác, toàn bộ vốn mới được cài đặt cho các kết nối mới là mới. Không giống như các trang thiết bị hiện có và các đường ống phục vụ các kết nối hiện hành, các thiết bị mới này sẽ kéo dài lâu hơn và gánh chịu ít chi phí nâng cấp hơn trong tương lai tức-thì, do vậy hạ thấp gánh nặng tài chính kết nối mới cho người cung cấp nước, ít nhất cho tương lai tức-thì.

Một khi khác biệt giá trị hiện thời đã được ước lượng, có thể chấp nhận là cần xác định khoản thu phí kết nối mới bằng cách chia khác biệt cho số lượng các kết nối mới. Một cách thay thế, các lớp người tiêu dùng khác nhau có thể được phân chia một cách hợp lệ các khoản thu phí khác nhau, như được minh họa trong phân tích của Lippai và Heaney (2000). Tuy nhiên, có thể hiểu được là, kết nối mới cận biên sẽ có một tác động khác so với kết nối mới trung bình. Khảo sát gần gũi trong thời gian các thủ tục được mô tả ở đây cần bộc lộ xem liệu các chi phí trung bình có thể sai khác với các chi phí cận biên một cách có ý nghĩa hay không. Bằng cách lặp lại những tính toán này mỗi năm, sẽ có khả năng duy trì khoản thu phí kết nối mới chính xác một cách thích hợp.

Định giá nước: cấu phần dung tích

Tối đa hóa lợi ích ròng cấp-hệ thống tùy thuộc vào một giới hạn hiện tại trong khả năng sẵn có của nước tái-tạo (như trong phương trình [2.26]) trong khi sử dụng hàm chi phí mới, (8.1), và nhận thấy rằng những người-được-ủy-quyền-hành-động điều chỉnh sử dụng của họ sao cho lợi ích cận biên của họ bằng với giá, chúng ta sẽ đạt được khuyến cáo định giá sau cho nước:

trong đó là nhân tử Lagrange thể hiện giá trị xã hội của nước tự nhiên hoặc giá trị cận biên của nước (MVW). Phương trình (8.2) cho biết thiết lập giá nước như thế nào theo cách thức kinh tế, như là đối lập với cách thức kế toán. Hai khác biệt lớn là tính toán đạo hàm chứ không phải trung bình và việc đưa thêm giá trị của nước trong trạng thái tự nhiên vào mô hình tính p.

Định giá các kết nối hiện có: Khoản thu phí đồng-hồ

Cấu phần tỷ giá nước cuối cùng cần được xác định là phí đồng-hồ. Một khuyến cáo thuần túy kinh

_ tức là, . Đại lượng này một cách ẩn ý sẽ bao gồm các chi phí liên quan kế toán rõ ràng như đọc đồng hồ và làm hóa đơn cũng như một phần của các chi phí quản lư hành chính và phân phối. C̣n nữa, có một cơ hội chi phí-thấp để tránh khuyến cáo này và do vậy đạt được một ngân sách cân bằng cho nhà cung cấp. Tức là, đạt được doanh thu đầy đủ với mất mát nhỏ trong hiệu quả. Điều này là cơ hội đặc biệt quan trọng dưới ánh sáng các khuyến cáo định giá cho các kết nối mới và lượng nước được đo bằng đồng hồ, là điều có thể dẫn tới doanh thu vượt trội (excess revenue). Điều đó là rõ ràng nhất khi các mức giá nước bao gồm các chi phí cơ hội mà đối với chúng không có các chi phí kế toán tương ứng.

Khoản thu phí đọc đồng hồ được khuyến cáo ở đây đạt được như là các chi phí ước lượng trừ đi doanh thu ước lượng (bao gồm cả các khoản phí dung tích) và được chia cho số các kết nối/tài khoản tích cực.Các chi phí có thể bao gồm một khối lượng nào đó lợi nhuận chấp nhận được cho các nhà cung cấp nước sở hữu tư nhân. Trong những tình huống cực đoan liên quan tới MVW/MUC/ cao, có thể nhận thức được là khoản thu phí đồng hồ sẽ trở thành âm. Tuy nhiên, sự bất bình thường như vậy không biểu hiện những vấn đề trong ứng dụng hoặc các kết quả.

Một phần của tài liệu Bài giảng kinh tế tài nguyên nước (Trang 67 - 71)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(85 trang)