CHƯƠNG 1. CHÂN DUNG NGUYỄN THÔNG - NHÀ VĂN NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX
1.2. Nguyễn Thông trong lịch sử phát triển văn hóa, văn học Việt Nam
1.2.2. Dấu ấn văn hóa - văn học Nam Bộ trong thơ văn Nguyễn Thông
Nguyễn Thông là một nhà thơ yêu nước. Dư luận Nam Bộ đều thống nhất nhận định như vậy về con người cũng như về sáng tác của ông. Nhưng thơ văn yêu nước của Nguyễn Thông, so với thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, hay Phan Văn Trị cùng thời, thì sắc thái của nó có khác. Bởi vì nó thuộc một dòng khác.
Những năm giữa thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp tấn công Gia Định, rồi đánh lan ra các tỉnh xung quanh, thì trong hàng ngũ sĩ phu Nam Kỳ, những tình cảm yêu nước đƣợc khơi dậy mạnh mẽ. Một bộ phận tích cực nhất đứng ra tổ chức lãnh đạo nhân dân kiên quyết chống giặc, một bộ phận khác ít dung khí hơn, không trực tiếp đương đầu với giặc, nhưng cũng không chung sống với kẻ thù. Hễ Pháp chiếm nơi nào thì họ bỏ nơi ấy, dọn đến chỗ khác để ở. Phong trào “tỵ địa” lúc bấy giờ không kém phần sôi nổi là biểu hiện lòng yêu nước của họ. Nguyễn Thông là trong số những người này. Thơ văn của ông là tâm trạng của những người yêu nước phải lìa bỏ quê hương vì giặc chiếm, da diết nhớ về nơi chôn rau cắt rốn của mình. Tình thương nhớ quê hương là nét đặc sắc nhất trong sáng tác của ông.
Hầu hết sáng tác của Nguyễn Thông nói lên lòng thương nhớ quê hương miền Nam bị giặc chiếm. Dường như không có nhà thơ Nam Bộ nào trước đây nói về tình cảm này cảm xúc như ông. Trong những sáng tác đầu tiên, khi đất nước chưa có bóng giặc, chủ đề thương nhớ quê hương đã có mặt trong thơ của Nguyễn Thông. Nhà thơ từ lúc lớn lên, đi học rồi đi làm, thường sống xa nhà. Một buổi chiều dạo chơi trên sông Long Hồ, phía tây thành Huế, lúc Nguyễn Thông làm ở Nội các, nhìn những xóm làng khói bay nghi ngút trên ngọn tre, những con đường nhƣ lẫn trong mây núi xa tít, nhà thơ sực nhớ đến quê nhà: “cảnh tƣợng quạnh hiu cũng giống nhƣ cảnh chỗ nhà ta” (“Liêu lạc tự ngô lư” – Long Hồ vãn phiếm).
Trong một bài khác cũng làm vào dịp ấy, nhân có người về Gia Định, ông tâm sự:
“Đã mấy năm nay chƣa nghĩ đến việc về quê thăm nhà” (“Tần niên vị nghĩa quy”), rồi ông nhờ bạn về quê, “Hỏi thăm tin tức ra sao. Đƣợc yên ủi lúc cuối năm mà tôi còn ở xa chƣa về đƣợc” (“Ân cần tấn tiêu tức, Tuế yến ủy khuê vi” – Tống nhân chi Gia Định).
Mấy năm sau chiến tranh bùng nổ ngay trên xứ sở quê ông, nhà thơ trở về trong hàng ngũ quân đội triều đình để chiến đấu chống giặc. Cuộc chiến đấu thất bại, quê ông bị giặc chiếm, và nhà thơ lại ra đi lần nữa, không hẹn có ngày về, bỏ lại đằng sau mình mảnh đất thân yêu từ tấm bé với biết bao nhiêu kỷ niệm buồn vui.
Lòng nhà thơ trào lên tái tê, chua xót. Bài Thuận cảm là tâm trạng của ông lúc từ
giả quê hương. Những suy nghĩ về đất nước, về tình người về tương lai và hiện tại, tất cả đều mịt mờ, mông lung:
“Cảm thử cốt nhục thân, Trung lộ hốt như di.
Ấu tiểu hội tương tồn, Lão giả thành vĩnh tỳ (từ).
Thái tức đăng biển chu,
Dương phàm tố thủy nhi (nhai).
Lương tiêu khơi thiên mạt, Lạc diệp từ cựu chi.
Nhân sinh vô căn đế, Yên đắc trường tương y.
Kích tiếp độ trung lưu, Hoài cựu phát mã y (ai).
Ỷ bồng nhất hoài miện, Phù vân mê giang ly’’
(… Tình cốt nhục nào ai chẳng có, Mới nửa đường nỡ bỏ rời nhau.
Trẻ trung gặp gỡ có ngày, Còn nhƣ già cả bằng nay giã từ.
Chiếc thuyền nhở ngẩn ngơ dời bước, Giương buồm theo dòng nước thẳng xuôi.
Lạnh lùng gió nổi chân trời,
Buồn trông chiếc lá phải rời cảnh xƣa.
Không gốc rễ sống nhờ đây đó, Khó tìm nơi nương tựa dài lâu.
Gõ chèo ra chốn dòng sâu,
Nhớ quê hương cũ chạnh đau khúc lòng.
Dựa mui thuyền ngoảnh lại trông, Rặng cây bến cũ rêu phong mịt mù…)
Bài Biệt vong đệ lữ phần (Từ biệt mộ em chôn ở nơi đất khách), cũng là một bài thơ hết sức xúc động. Trước khi từ miền Đông giặc chiếm, nhà thơ “tỵ địa”
lên miền Tây cùng với gia đình của em. Bây giờ miền Tây giặc chiếm nốt, ông bỏ ra Bình Thuận có một mình. Đứa em trai đã chết. Công việc trong Nam chƣa biết đến bao giờ mới yên. Nhà thơ ra đi để lại một bầy cháu dại, không người chăm sóc.
Việc chung và việc riêng, nghĩa nước và tình nhà, tất cả đều dở dang. Nhà thơ cảm thấy có gì đó không phải trong việc ra đi, nhƣng vẫn phải ra đi. Bài thơ buồn buồn lặng lẽ. Một chút cảnh bên ngoài càng làm tăng thêm cái buồn sâu lắng bên trong của một tâm hồn thi sĩ:
“Nam sự kỷ thời định?
Lữ phần kim cánh vi.
Nhất bôi loại phương thảo, Song lệ lạc tà huy!
Chư điệt bằng thùy thác ? Cô tung dữ chúng vi.
Mân giang di trạo xứ, Hàn vũ dạ phi phi”
(Việc phương Nam bao giờ mới định ? Mồ chôn nhờ hiu quạnh từ nay.
Cỏ thơm chén rƣợu vơi đầy, Chứa chan trong buổi tối trời lệ rơi!
Đàn cháu bé nhờ ai cho gửi?
Một mình đi trái với mọi người.
Đến sông Mân thuyền vội dời, Đêm khuya lạnh lẽo bên trời mƣa sa…)
Có thể nói, từ đây trong thơ của Nguyễn Thông chủ đề thương nhớ quê hương thực sự bao trùm tất cả. Ông sẽ nhắc nhiều đến Đỗ Phủ, một nhà thơ nổi tiếng đời Đường vì giặc giã phải bỏ về Ba Thục; đến Vương Xán, một nhà thời khác đời Đông Hán, cũng vì giặc giã phải bỏ về Kinh Châu. Nghe một tiếng chim đêm,
ông liên tưởng đến tổ cũ, đất quê. Được một người nông dân biếu mấy con chim đa đa (xƣa gọi là loài chim nam), ông cũng bồi hồi xúc động. Trong bài Phóng giá cô (Thả chim đa đa) ông viết:
“ Phóng nhĩ nam chi phản cố sào, Sơn kê cựu lữ cộng chiêu yêu.
Khê biên ẩm trác tu căng thận, Mạc khiển vi khu trụy lão thao”
(… Cành nam nay trả mày về lại, Bạn cũ gà rừng mặc sức chơi.
Bên suối uống ăn nên cẩn thận, Chút thân đừng để lọt tay ai)
Thời gian làm quan ở Quảng Ngãi, Nguyễn Thông trồng ở cạnh nhà nhiều hoa và cây cảnh, lúc bị bệnh về an dƣỡng ở Bình Thuận, ông làm thơ từ biệt chúng.
Tâm sự với hoa phù dung, ông nói:
“Bạng trì thừa vũ tiếp chi tài, Chiếu thủy nùng hoa lưỡng độ khai.
Ngã khứ mạc hiềm phong vị giảm, Thế nhân hoàn thị tự Nam lai”
(Phù dung) (Bờ ao mƣa tạnh cắt cành trồng,
Hai độ hoa xuân đáy nước lồng.
Đừng ngại ta đi phong vị giảm, Người thay ta cũng ở Nam Trung)
Hoa đừng giảm phong vị vì người thay ta cũng ở trong Nam! Nhà thơ nói đến người trong Nam nghe mới thân thiết chừng nào.
Trước kia nhà thơ xa quê còn hẹn có ngày trở về, cho nên ý muốn trở về chƣa bức thiết lắm. Bây giờ xa quê, không biết bao giờ mới về lại đƣợc, khao khát đƣợc về đến trở thành ám ảnh trong thơ ông. Trong bài Hàm Thuận cảm hoài (ở Hàm Thuận cảm nhớ) ông viết:
“Cô đĩnh phát Long Châu, Phong yên bạng tiêu lâu.
Trường niên thương viễn biệt, Đa nạn tích yêm lưu.
Địa trách y sơn chuyển, Thiên không nhập hải hưu.
Đồ Nam tri hữu lộ, Nan tá đầu sa phù”
(Thuyền con rời khỏi Long Thành, Nom theo ngọn gió chòi canh la đà.
Lâu năm xót nỗi xa nhà,
Loạn ly nương náu lòng ta bời bời.
Non cao đường hẹp chơi vơi,
Mênh mông biển rộng với trời ngoài kia.
Miền Nam vẫn thuộc đường về, Tiếc thay khó mƣợn đƣợc bè lên sao!)
Bài Thôn cư (Ở Thôn quê) và bài Giang đình đề bích (Đề trên vách đình bên sông) cũng cùng một tâm trạng ấy. Trong bài Thôn cư, nhà thơ nói, sống ở nông thôn không có gì phiền toái, nhƣng không làm sao yên đƣợc. Uống rƣợu cho quên ngày tháng thì dễ, chứ “Mộng thấy làng cũ mà về thì không được” (Hương mộng đáo gia nan). Còn bài Giang đình để bích thì:
“Lịch tận nguy cơ toái phách tô, Hải thiên hà xứ nhận quy đồ?
Bán song thủy nguyệt Nam Trung cảnh, Tứ bích vân sơn vật ngoại đồ”
(Trải qua nguy cơ, thể phách tưởng tan nát rồi mà còn sống được, Trời bể mênh mang tìm đường về lối nào?
Nhớ cảnh Nam Trung, trước cửa trăng thanh nước lặng, Xem bản địa đồ bốn bề núi dựng mây lồng)
Thế rồi một hôm “Đưa ông Bùi Tịch đi Gia Định” (Tống Bùi lang chi Gia Định), nhà thơ ao ƣớc: “Tôi cũng muốn đổi cho ông cái chức quan nhỏ ấy, để mỗi khi nhận việc công được về thăm quê hương” (“Ngã dục hoán quân quan chức tiểu, Mỗi nhân công cán đắc hoàn hương”). Và một hôm khác, đến lược “Đưa bà vợ là Ngô Vũ Khanh về Nam” (Tống nội tử Ngô Vũ Khanh Nam quy), thì nhà thơ rạo rực xao xuyến, vừa lo cho bà đường về hiểm trở:
“Pha kiến đào hoa xuân lãng khoát, Nhị thiên minh nguyệt nhất chu hoàn”
(Ngại ngùng cho cánh hoa đào trên sóng xuân lai láng, Mảnh trăng sáng chia đôi, một chiếc thuyền lênh đênh trở về Lại vừa có cái sung sướng tưởng tượng thấy mình cũng được về nhà với vợ:
“Tạc dạ thuần tô giang thượng mộng, Tiên tùy hoàn bội đáo gia san”
(Đêm qua nằm mơ về trên sông hưởng cái thú canh rau cần, chả cá vƣợc,
Giấc mơ ấy đã theo vòng xuyến của bà về nhà trước)
Trong tâm trí nhà thơ bấy giờ, quê hương không còn êm đềm với cái cảnh
“Cỏ dại không trồng, cứ mọc quanh nhà,/ Hoa rụng vừa quét lại rơi đầy thềm”, và
“Ở nơi hẻo lánh về cuối năm, bạn có hỏi thăm,/ Buổi chiều bên ngàn liễu, nghe đọc sách là tôi ở đó” (“Loạn thảo bất tài tiên nhiễu xá, Lạc hoa tài tảo cánh xâm trừ, Cùng giao tuế yến năng tương phỏng, Liễu ngạn tà dương thính độc thư” – Ký hữu), mà là cảnh máu chảy đầu rơi, xương tan nát thịt, và mỗi lần nhắc đến, nhà thơ thấy xót xa ngậm ngùi vô hạn. Trong bài Đinh mão tân tuế tác (Thơ làm nhân ngày tết năm Đinh Mão (1867)), ông viết:
“Cố hương nhung mã tại, Cốt nhục chính bi tân”
(Ở làng cũ hiện nay đang giặc giã,
Bà con đang chịu cảnh đâu thương cay đắng)
Trong bài Bình Hòa phùng đồng quận Hà lang (Ở Bình Hòa gặp ông họ Hà là người cùng quận), ông lại nói:
“Vọng tận Nam thiên chiến huyết tính”
(Trông về tận trời Nam, nghe máu tanh của chiến tranh) Rồi trong bài Thư hoài thị Dinh điền phó sứ Bùi bá Xương (Tả nỗi lòng, đưa cho ông Dinh điền phó sứ Bùi Bá Xương) và bài Phụng họa Nguyễn Phạm nhị hiền “Gia Định có thành” thử ký chi tác (Kinh họa bài thơ Gia Đinh cố thành của hai ông họ Nguyễn và họ Phạm) ông cũng nhắc lại, khi thì “ Bến Nghé không dƣng hóa thành chiến trường” (“Ngưu chử vô đoan tác chiến trường”); khi thì:
“Vũ hám phong chàng chiến huyết đôi
…Thụ đái tàn chi kinh kiếp hỏa, Trúc trừu tân duẩn đãi xuân lôi”
(Gió dập mƣa dồn nơi đám đất đầy máu chiến tranh
… Cây bị giặc thiêu đất, chỉ còn những cành tàn, Trúc nảy mầm non, đang đợi sấm mùa xuân dậy)
Tình thương nhớ quê hương của nhà thơ thật vô hạn, vô hồi. Nhưng nhớ thương để rồi làm gì, không nhìn thấy rõ. Nguyễn Thông có phần giống với Phạm Phú Thứ, Phan Thanh Giản hơn là giống với Trương Định, Nguyễn Đình Chiểu.
Nhà thơ yêu nước, nhưng không lấy hết trách nhiệm của mình khi đất nước lâm nguy, không tin tưởng vào cuộc chiến đấu của nhân dân, của dân tộc. Yêu nước mà chỉ thể hiện bằng “tỵ địa”, bằng không sống chung với giặc, thì đâu phải là hành động tích cực! Trong thơ ông những hạn chế về mặt này đƣợc thể hiển khá rõ.
Trong bài Phụng họa Vân Lộc Lại bộ thương thư tống hành nguyên vận (Phụng họa nguyên vận bài thơ của ông Vân Lộc (tức Nguyễn Tƣ Giản), thƣợng thƣ bộ Lại tiễn tôi khi trở về trại núi), nhà thơ khuyên bạn đang làm quan “Chƣa cần bàn đến mối lợi muối và mỏ sắt, chỉ nên làm thế nào để dân sự trong cơn loạn ly đƣợc chỗ ở yên” (“Quan sơn phủ hải hà túc luận, Yếu sử kinh hồng điện tƣ vũ”), chứ còn bản thân ông thì “Tôi nay gặp bước đường cùng không thể tránh được sự cười chê của núi khe, Nên trở về trong trại núi nằm nghe hạc kêu vƣợn hót” (“Ngã cùng ná tỵ lâm hác tiếu, Sơn trung quy lai ngọa thính viên hạc khiếu”). Sống giữa một thời
buổi chiến tranh mà nhiều lúc nhà thơ nhƣ một ẩn sĩ, sống thung dung, cô quạnh, và một mình nhấm nháp cái cô quạnh, thung dung của mình. Trong bài Châu Giang dạ bạc (Ban đêm đậu thuyền trên sông Châu), nhà thơ với một con thuyền trên sông, trăng sáng, gió mát, tức cảnh sinh tình:
“Châu thủy thu phong dạ bạc thuyền.
Bạch sa cổ độ thụ lung yên.
Ngâm ông khứ hậu tân đồ tán,
Độc ngọa hàn giang nguyệt mãn thiên”
(Đêm thu thuyền đậu sông Châu, Bến xƣa khói tỏa trên đầu cây xanh.
Bạn ngâm về, cảnh vắng tanh, Đầy trời sáng một mình trên sông)
Trong bài Điếu kỵ (Tảng đá ngồi câu) tứ thơ cũng thanh thản nhƣ vậy:
“Loạn như phi hoa độ điếu kỵ, Tọa lai thiên ái vãn phong vi) Sa âu bạc mộ quy hà xứ,
Lược ngạn xâm yên bồi khách phi”
(Hoa bay bông rụng dập dìu,
Ngồi câu hứng ngọn gió chiều thảnh thơi.
Chim âu về sắp tối rồi,
Băng bờ lướt khói bóng người bay xa)
Những bài thơ này có cái buồn man mác, nhiều bài khác cái buồn đậm nét hơn, nhƣng nói chung vẫn nhẹ nhàng, chứ không quặn thắt, da diết, nhƣ cái buồn của những con người chiến đấu thất bại.
Hạn chế trong thơ Nguyễn Thông có phần nhiều hơn những nhà thơ yêu nước khác, mặc dù nó không che lấp được phần giá trị là chính trong sáng tác của ông. Nguyễn Thông được đánh giá cao trong văn học yêu nước Nam Bộ, không phải chỉ vì khối lƣợng sáng tác của ông nhiều, mà còn vì nhà thơ quả có đóng góp vào phong trào chung một tiếng nói của riêng mình.
CHƯƠNG 2