CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ VĂN NGUYỄN THÔNG
2.1. Hình tƣợng tác giả
2.1.3. Sự tự thể hiện của Nguyễn Thông trong thơ văn
Sự thể hiện chính là sự miêu tả, hình dung của tác giả về chính mình. Con người luôn có nhu cầu khám phá thế giới xung quanh và khám phá chính bản thân mình. Chính vì thế trong thơ nhiều khi tác giả tách mình ra thành một đối tƣợng mà ngắm nghía, bình phẩm và chiêm nghiệm. Trong thơ nhân vật trữ tình là con người đồng dạng với tác giả. Cái tôi trữ tình là hình tƣợng tác giả phản ánh trong tác phẩm, là sự diễn tả giải bày thế giới tư tưởng, tình cảm riêng tư thầm kín của tác giả. Đó chính là sự tự ý thức tự đánh giá của nhà thơ. Đây là cơ sở để người đọc tìm hiểu về tư tưởng, con người tác giả.
Nguyễn Thông là một con người rất giàu tình cảm, điều này thể hiện rõ qua thơ văn của ông, đặc biệt là từ năm 1862 đến 1867 trở về sau, khi “đất cũ mất vào tay người”. Một phần thơ ông là sự ghi chép trực tiếp lại đời mình, và qua mảng tác phẩm này, người ta có thể hiểu thêm về cuộc đời chìm nổi, số phận long đong cũng nhƣ tình cảm thiết tha, tấm lòng đôn hậu của ông. Qua sông, lên núi, vào Huế, vào Nam ông đều có thơ. Vài con chim đa đa, mấy chậu cây, hoa kiểng, một lần đƣa tiễn, một lá thƣ xa… tất cả đều có thể gợi lên trong ông một cảm xúc chân thành và mạnh mẽ về con người, dân tộc, về Tổ quốc, quê hương. Tình thương nhớ quê hương hòa lẫn trong nỗi đau buồn về thời cuộc khiến thơ văn ông nhiều khi mênh
mang âm điệu bi thương cô phẫn, nhưng ngay giữa tiếng than dài ấy, người ta vẫn nghe thấy tiếng lòng của một con người yêu nước cho tới cuối đời vẫn ôm ấp nỗi niềm quang phục không nguôi.
Những lòng Dự Nhượng Kinh Kha cũ Máu nóng tràn tim tóc trắng sương
(Thư hoài thị Doanh điền phó sứ Bùi Bá Xương) Sự tự thể hiện của Nguyễn Thông trong thơ văn còn là sự tự ý thức về thời thế, cuộc đời. Nguyễn Thông hơn ai hết là người nắm rõ nhất tình hình của đất nước lúc bấy giờ, tồn tại trong tim ông là một nỗi thương nhớ, một sự đồng cảm sâu sắc với người dân, cùng với đó là ước vọng đổi thay để mang lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho dân chúng. Trong tâm thức của Nguyễn Thông, với những tư tưởng cần đƣợc đổi mới, ông luôn gắng sức để thực hiện, tìm mọi cách để có thể bộc lộ ra những khao khát của bản thân trước thời cuộc.
Xã hội Nam Kỳ Lục tỉnh trong sự phát triển lịch sử của nó ở giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX hàm chứa những mâu thuẫn cơ bản của xã hội phong kiến, đồng thời cũng vẫn chịu ảnh hưởng sự suy thoái toàn diện của thiết chế phong kiến thời bấy giờ. Chính sự rối ren như vậy, đã khiến cho tư tưởng của Nguyễn Thông có nhiều phức tạp và mâu thuẫn. Nói về công danh, có lúc thì ông tỏ ra hào hứng bất cần công danh :
Giả như hư vinh cũng có chỗ dùng,
Thì khi đạt được cũng đã tóc bạc đầy đầu rồi.
(Tiến cửu ca)
Có lúc lại tỏ ra cảm khái vì lận đận trên con đường hoạn lộ : Quan nhỏ nên thành danh muộn
(Tống nhân chi Gia Định) Quan nhỏ nên bè bạn ít
(Tống Nguyễn Thanh Trưng Thông phán An Giang) Những trở ngại mà chính nhân gặp phải trong cuộc hành trình không làm người chùn bước nhưng một cuộc sống yên bình, một khung cảnh thiên nhiên bình
dị lại quyến luyến người đi, níu giữ bước chân người. Bức tranh cuộc sống hiện lên thật hiền hoà. Người - cảnh hoà quyện vào nhau cùng chung cuộc sống yên vui. Quả thực mong muốn một cuộc sống yên bình là mong muốn mà người chính khách nào cũng muốn có, Nguyễn Thông cũng không phải là ngoại lệ, trong những năm tháng cuối đời, ông những mong muốn về sống một cuộc sống ẩn dật, tuy nhiên cái mong muốn ấy của ông không đơn thuần chỉ là ra đi không vướng bận mà trong đó còn gói ghém những suy nghĩ không phải là “chán đời”, hay “chán ngán lợi danh” theo kiểu nói chung chung về những người treo ấn từ quan. Ước nguyện về ở ẩn của ông là sự ra đi với những điều mà ông chƣa làm đƣợc cho dân chúng, tâm sự u uất của ông đƣợc thể hiện qua một số thơ văn cuối đời đã nói lên sự muộn phiền pha lẫn nhiều day dứt của ông trong cuộc sống “thành đạt”. Làm Bố chánh tỉnh Quảng Ngãi, làm bài thơ Ngọa bệnh thư hoài, ông đã có ý than thở:
“… Sắp xếp việc địa phương thẹn với chức Thừa tuyên Giúp dân còn thiếu chính sự tốt
Đã tính treo mũ từ quan
Tránh tiếng chê cười là chỉ ngồi không hưởng lộc”
(Ngọa bệnh thư hoài)
Đối với Nguyễn Thông, chức tước bổng lộc không phải là mục tiêu tối hậu, chúng chỉ là phương tiện mà ông thấy cần có trên con đường phấn đấu thực hiện hoài bão cứu nước giúp dân của ông, khi phương tiện ấy không thể giúp ông đạt đƣợc mục đích, ông thấy nó đã trở nên vô nghĩa. Tuy nhiên ông cũng không phải là từ chối cơ hội làm quan, trong bài Biệt tùng đường, ông có nói
Chớ lạ đường đáng sợ mà tôi khinh suất đi xa, Hiện nay khắp đất bằng đâu đâu cũng nổi phong ba
(Biệt tùng đường)
Thế nhƣng, trong tâm khảm của ông, mọi thứ đã đổ vỡ khi triều đình ký kết Hòa ƣớc Giáp tuất với quân thù, việc tiếp đón quân thù bởi những nghĩ lễ trang trọng để chúng từng ngày từng giờ chuẩn bị kế hoạch để tiến tới những mục tiêu mới để xâm lƣợc Việt Nam khiến ông không thể bình tâm chấp nhận. Nỗi đau và sự
đổ vỡ ấy đƣợc ông gửi gắm giữa những dòng thơ chua chát nói lên tâm trạng cùng đường.
“…Tới nay cùng đường làm sao tránh khỏi sự cười chê của núi khe Đành trở về trong núi nằm nghe vượn hót chim kêu”.
(Phụng hoa Vân Lộc Lại bộ Thượng thư Tống hành nguyên vận) Nếu như việc buộc phải từ chối chức tước ở đây là một thất bại mới của Nguyễn Thông trên con đường hoạn lộ, thì mặt khác, nó lại là một thắng lợi trong quá trình ông tranh đấu với những lực lƣợng tiêu cực có tính chất xã hội nằm ngay trong tư tưởng của chính bản thân. Thái độ chán ngán, bi quan, muốn quay lưng lại với cuộc sống của Nguyễn Thông trong nhiều năm tháng cuộc đời cho thấy sự đề kháng tự nhiên xuất hiện trong nhân cách của ông, cái sức mạnh đã kéo ông ra xa những vũng bùn quyền lực, giúp ông không bị tha hóa.
Trong thơ văn Nguyễn Thông, ông còn thể hiện nỗi nhớ, niềm khát khao về một cuộc sống yên bình đang cháy bỏng trong lòng nhà thơ, ở đây thoáng hiện lên chút mệt mỏi của người đi và ẩn hiện về một cuộc sống an nhàn. Trong thơ ông đã nhiều lần thể hiện cái thú nhàn, nhƣ bài “Ban đêm đậu thuyền ở sông Châu Giang”, lời thơ man mác bâng khuâng:
Châu thủy thu phong dạ bạc thuyền Bạch sa cổ độ thụ linh yên
Ngâm ông khứ hậu, tán đồ tán
Độc ngọa hàn giang nguyệt mãn thiên.
(Châu Giang dạ bạc) (Đêm thu gió mát, đậu thuyền ở sông Châu,
Bên bãi cát trắng, nơi bến cũ, cây lồng lớp khói lờ mờ.
Bạn thơ đi rồi, khách cũng chia tay,
Còn một mình nằm trên sông lạnh, trăng sáng đầy trời)
(Ban đêm đậu thuyền trên sông Châu Giang) Quyến luyến là thế, tha thiết là thế, mong mỏi là thế nhƣng ông không thể dừng chân bởi con đường mà người chính khách, kẻ chinh phu phải qua còn dai
dẳng, điểm đến của con đường ấy là khát vọng cháy bỏng không chỉ của riêng ông mà của hàng vạn trái tim, trong đó có quê nhà của ông, thẳm sâu trong tâm hồn Nguyễn Thông là những suy nghĩ về đất nước, về tình người, về tương lai và hiện tại, tất cả đều mịt mờ, mông lung:
“Cảm thử cốt nhục thân, Trung lộ hốt như di.
Ấu tiểu hội tương tồn, Lão giả thành vĩnh tỳ (từ).
Thái tức đăng biển chu,
Dương phàm tố thủy nhi (nhai).
Lương tiêu khơi thiên mạt, Lạc diệp từ cựu chi.
Nhân sinh vô căn đế, Yên đắc trường tương y.
Kích tiếp độ trung lưu, Hoài cựu phát mã y (ai).
Ỷ bồng nhất hoài miện, Phù vân mê giang ly’’
(Thuật cảm) (… Tình cốt nhục nào ai chẳng có, Mới nửa đường nỡ bỏ rời nhau.
Trẻ trung gặp gỡ có ngày, Còn nhƣ già cả bằng nay giã từ.
Chiếc thuyền nhở ngẩn ngơ dời bước, Giương buồm theo dòng nước thẳng xuôi.
Lạnh lùng gió nổi chân trời,
Buồn trông chiếc lá phải rời cảnh xƣa.
Không gốc rễ sống nhờ đây đó, Khó tìm nơi nương tựa dài lâu.
Gõ chèo ra chốn dòng sâu,
Nhớ quê hương cũ chạnh đau khúc lòng.
Dựa mui thuyền ngoảnh lại trông, Rặng cây bến cũ rêu phong mịt mù…)
(Thuật mối cảm xúc)
Sông nước nghìn trùng, trời đất bao la, ngoại cảnh ấy làm cho con người luôn nhớ tới những gì gắn bó, thân thương nhất. Quê nhà là nơi mà con người ta dù đi đến chân trời góc biển vẫn cứ đau đáu ngóng về. Nguyễn Thông trong tình cảnh hôm nay nghĩ về quê hương càng làm ông chua xót hơn. Nếu như Thôi Hiệu là nỗi nhớ quê thì Nguyễn Thông ngoài nỗi nhớ ấy còn là nỗi đau quê.
Ngoài việc thể hiện nỗi nhớ quê hương, tác giả còn sử dụng cảnh để tả tình, mượn vật để ám chỉ người – dùng lối nói ẩn dụ kín đáo để thế hiện nỗi lòng của bản thân. Chùm thơ từ biệt cây phù dung, cây cúc, cây tùng tác giả nhằm về người, chứ không nhằm về cảnh. Cây phù dung, cây cúc, cây tùng với tác giả đều là hình ảnh những con người đáng mến ở Quảng Ngãi. Ba bài thơ này tác giả sáng tác lúc sắp rời Quảng Ngãi ra đi. Thời gian này (1871), tác giả bị án oan, bị triều đình đánh trƣợng và phạt giam, dân đứng ra bênh vực, khiến tác giả xúc động viết Truyện bốn người, để tả lại tấm lòng “vì nghĩa quên mình” của người sông Ấn, sông Vệ.
Bài thơ: Từ biệt cây phù dung:
Nay đừng hiềm vì ta đi mà giảm bớt phong vị Người thay ta cũng là người trong Nam ra Bài thơ: Từ biệt cây cúc:
Ta thương mày sắc vàng là chính, nở giữa mùa thu Hương thơm ai cũng muốn thưởng thức cả.
Bài thơ: Từ biệt cây tùng:
Ta lưu mày ở lại làm bạn với chòm cúc ở giậu đông Mười năm sau xếp lọng chờ ta trở lại.
Chưa kịp nói với người thì tỏ tình với hoa và cây cảnh trồng cạnh nhà làm việc, trước phút dời chân. Ba bài thơ tứ tuyệt, ý tuy nhỏ nhưng mảnh tình cảm lớn.
Đề vịnh, thù tạc là hình thức sáng tác mà các nhà thơ trung đại thường sử dụng và có phần yêu thích. Vịnh cảnh để nói tình, mượn vật để ám chỉ người - lối nói ẩn dụ kín đáo ấy là đặc điểm thơ ca trung đại, và nó lại rất phù hợp với nhà Nho - những người thâm trầm, sâu sắc, kín đáo. Vì thế muốn hiểu về một nho gia chúng ta không thể bỏ qua mảng thơ này. Trong sáng tác của Nguyễn Thông số bài thơ làm theo lối đề vịnh, thù tạc này không nhiều nhƣng những bài ít ỏi đó cho ta hiểu đƣợc phần sâu kín trong tâm hồn nhà thơ:
Thúy cán sơ âm phất thự hàn, Kinh thu nhất diệp bách hoa lan.
Loan đình phượng uế vô tiêu tức, Thâu dữ thôn ông hộ tỉnh hàn
(Ngô đồng) (Gốc biếc, bóng thƣa phủ mát lạnh nơi công sở, Một lá rụng gió thu về thì trăm hoa đều tàn.
Loan đậu phƣợng kêu không còn tin tức
Đành để thôn ông dời về trồng làm rào giữ giếng.)
(Vịnh cây ngô đồng) Nguyễn Thông vịnh cây ngô đồng gửi gắm nhiều tình ý. Thơ Đường có câu: “Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu”. Nghĩa là “Cây ngô đồng mới rơi một lá thì thiên hạ đều biết thu về”. Do đặc tính của nó, ngô đồng là loại cây
“báo thời tiết”. Nhưng hơn thế, khi người ta đem trồng nó ở nơi công sở thì, với
“thân biếc, bóng râm thƣa”, nó quạt bớt đƣợc không khí lạnh.
Nay đến lúc thu về, lá đều rơi rụng, ngô đồng không còn là chỗ cho loan, phƣợng đến đậu, thôi thì đành để thôn ông đƣa về trồng làm hàng rào giữ giếng, cũng còn có ích.
Cũng thơ bốn câu nhƣ Cây cau, Cây tùng, nhƣng bài Cây ngô đồng chở nhiều ý hơn, ngụ nhiều tình tiết hơn. Chúng ta không lạ gì đối với tâm sự Nguyễn Thông gửi trong những bài thơ nói trên và trong nhiều bài khác. Ông nói về mình nhƣng lại nói một cách kín đáo, mƣợn hình ảnh khác để chiếu ứng vào mình, đó là
đặc điểm lối tư duy điển hình trong thơ đường. “Nhà thơ khảo sát sự vật không phải để chạy vào sự vật mà để phát hiện một quan hệ, quan hệ này không phải có ngay được bằng giác quan mà đến với chúng ta sau một quá trình suy nghĩ. Người đọc thơ Đường phải tự mình phát hiện lại cái quan hệ ấy chứ nhà thơ không bao giờ nói hộ, không bao giờ miêu tả”. Từ ngày thi đỗ ra làm quan, khi ở kinh đô, khi xuống tỉnh, Nguyễn Thông không bao giờ đƣợc trọng dụng. Chẳng những thế, những ý kiến đóng góp quan trọng của ông trong việc giữ nước và dựng nước đều bị Tự Đức bác bỏ. Càng thẳng thắn bao nhiêu, ông càng nhiều tai vạ vào mình bấy nhiêu! Họa lại bài thơ tiễn của ông Vân Lộc Nguyễn Tư Giản, một trong những người bạn thân, tâm đắc nhất của Nguyễn Thông ông thổ lộ hết tâm can trong câu “Suốt đời mình không có nơi để tả nỗi lòng”, đủ thấy cuộc đời Nguyễn Thông luôn luôn bị đặt trước sóng gió và đầy bi kịch.
Con đường trở thành nhà nho của Nguyễn Thông có những điểm rất đáng chú ý. Bắt đầu từ cái “nếp nhà” Nho học mà người đại diện trực tiếp là cha của ông, một thầy đồ nghèo ít nhiều có tài năng song không đỗ đạt và vì thế cũng ít nhiều có những bất mãn với xã hội đương thời. Nguyễn Thông đã từng bước trở thành một nhà nho thực thụ, nghĩa là một nhà nho mong mỏi có dịp “rồng mây gặp hội” để rồi đem tài năng mà “tế thế kinh bang”. Trong ƣớc nguyện này, Nguyễn Thông đã thất vọng từ khi ông bị đánh hỏng vì quyển thi mắc lỗi thiệp tịch trong kỳ đệ tam khoa thi Hội năm 1851 và sau đó vì nhà nghèo nên buộc lòng phải nhậm chức học quan ở một vùng huyện miền xa. Trong bài thơ Tiến tửu ca đã nói lên đƣợc sự phát triển trong tư tưởng của ông, đồng thời cũng thể hiện ý chí vươn lên trong cuộc đời bắt đầu bị đặt vào nghịch cảnh:
Kẻ nam nhi đường đường lưng dài vai rộng.
Phải làm chi cho tiếng tăm cùng dấu vết in khắp tám cõi Không thế thì cưỡi ngựa chơi ở Ngũ Đô
Không thế thì dong thuyền dạo trên Ngũ Hồ Tay trái cầm đàn Triệu, tay phải nâng sao Tề Uống rượu ngon bồ đào, ăn cá chẻm Tùng Giang
…Trượng phu lúc vô sự hãy cứ vui chơi
Sao lại đem cái quan niệm hình tích của thế tục mà tự trói buộc mình.
Ngay giữa những dòng thơ “ngất trời hào khí” này, người ta cũng có thể nhìn thấy cái kích thước có hạn về sự tự do mà Nguyễn Thông quan niệm. Qua những hình tƣợng sáo mòn, cái tự do ở đây đã trở thành một tự do biểu kiến, với những ruổi ngựa Ngũ Đô, dong thuyền Ngũ Hồ, những đàn triệu sao Tế, rƣợu ngon cá béo; đã đƣợc quy về sự tự do trong đời sống cá nhân. Cái chuẩn thẩm mỹ cổ điển ở đây đã bộc lộ khuôn khổ vô hình trong tâm thức, và giấc mơ tự do nhƣ bị đông cứng lại. Nguyễn Thông trong bài thơ này đã bộc lộ tâm trạng muốn đƣợc tự do, muốn được giải phóng khỏi ngục tù tư tưởng và không khí ngột ngạt trong đời sống chính trị và xã hội. Ông đã tự thể hiện ý thức của mình, ý thức sau khi tiếng súng đại bác của quân xâm lặng bắt đầu.
Năm 1859, trong bài thơ gởi cho Hồ Huân Nghiệp lúc bấy giờ còn sống cuộc đời nhàn tản của một ẩn sĩ – Bình Dương, Nguyễn Thông viết:
Ngày nay cát bụi chiến chinh đã ngập tràn cả biên cương phía nam, Không biết ông sẽ giải niểm riêng ở nơi đâu?
(Ký Hồ cư sĩ Huân Nghiệp)
Trong ý thức đạt tới một niềm cảm thông chung nhằm thuyết phục Hồ Huân Nghiệp tham gia kháng chiến, Nguyễn Thông cũng vô tình bộc lộ mình qua mấy chữ “giãi niềm riêng”. Mang bút tòng quân, ông đã háo hức lao vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc chống lại giặc ngoại xâm, gói ghém cả hành động yêu nước ước mơ về tự do. Nói rõ hơn, Nguyễn Thông đi vào cuộc chiến đấu chống xâm lăng với hy vọng về một sự giải phóng, một sự đổi đời mà ông hằng ôm ấp. Trên chỗ hội nhập của tinh thần dân tộc và ý thức dân chủ trong những ngày đầu tiên nhân dân ta bước vào cuộc đấu tranh chống quân xâm lược Pháp, Nguyễn Thông đã bất ngờ viết một câu văn lóe lên nhƣ một tia sáng lạ, một tia sáng ý thức ngắn ngủi và không lặp lại nhưng cũng đủ để khiến người xem phải suy nghĩ thật nhiều về nơi bắt đầu của tư tưởng yêu nước thương dân ở ông:
…Nếu sông trong có thể đợi chờ chừ, dù nghiêng đổ cũng không buồn.
(Thiệp giang phú)