Hình tượng người anh hùng trong thơ văn Nguyễn Thông

Một phần của tài liệu Đặc điểm nghệ thuật thơ văn nguyễn thông (Trang 51 - 55)

CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ VĂN NGUYỄN THÔNG

2.2. Hình tượng người anh hùng trong thơ văn Nguyễn Thông

Nói đến Nguyễn Thông, không phải chỉ nói về tình thương nhớ quê hương là thơ văn Nguyễn Thông không còn gì nữa. Nguyễn Thông có một thời gian tham gia quân đội triều đình chống giặc. Thời gian chiến đấu không nhiều, và quân đội

triều đình lúc ấy không phải tiêu biểu cho tinh thần chiến đấu của nhân dân Lục tỉnh. Dù sao, những ngày sống trong lòng cuộc chiến đấu cũng để lại ấn tƣợng không thể phai mờ đối với ông, và sau này ông viết lại những tiểu truyện về người anh hùng chống giặc giữ nước. Ba tiểu truyện về Phan Văn Đạt, Trương Định, Hồ Huân Nghiệp của ông đã nói lên được phần nào nỗi xúc động của nhà thơ trước những tấm gương chiến đấu hy sinh cao cả của nhân dân Lục tỉnh. Nguyễn Thông viết:

“Từ khi người Tây gây hấn ở Lục tỉnh, sĩ phu và dân chúng liều mình đứng lên, khảng khái chịu chết kể không xiết đƣợc, nhƣ Đỗ Trình Thoại ở Tân Hòa.

Nguyễn Lịch ở Tân An… đều là những tấm gương chói lọi. Còn như ở chốn làng xa ngõ hẻm, chống giặc đến chết, chính tôi biết được có hơn chục người. Tiếc rằng thời thế đổi dời, đường sá cách trở, sự tích không sao biết rõ được” (Truyện Hồ Huân Nghiệp).

Ba tiểu truyện trên vừa mang tính lịch sử, đồng thời cũng mang tính văn học.

Không nhƣ lúc làm thơ, Nguyễn Thông rất “say”, sang lĩnh vực viết văn – nhất là truyện ký về liệt sĩ anh hùng – ông rất “tỉnh”.

Nguyễn Thông có một cảm khái đặc biệt khi viết về người anh hùng, song ngòi bút của ông lưu lộ ra ngoài thì bao giờ cũng kín đáo. Trong cách nhìn của ông về người anh hùng có cái gì rất gần với cách nhìn của Nguyễn Đình Chiểu. Nói chung, nhà thơ thấy người anh hùng cũng là người bình thường hoặc có thể hơn người bình thường chứ không có gì phi thường cả. Cái phi thường chính là do họ có lòng yêu nước tha thiết, căm thù giặc sâu sắc, biết nghe theo tiếng gọi của nhân dân và chiến đầu quên mình. Trương Định có thể hơn người ở cái “tướng mạo khôi ngô, thông hiểu binh thư và bắn rất giỏi”, nhưng Trương Định trở thành người anh hùng là vì ông không chấp nhận mệnh lệnh của triều đình, đứng về phía nhân dân và lãnh đạo nhân dân chống giặc. Nguyễn Thông muốn nhấn mạnh đặc điểm này nên ông viết một đoạn dài:

“…Các người ứng nghĩa không muốn giải binh, cố lưu ông Định ở lại. họ nói với nhau rằng: Bọn Tây bị dân ta nhiều lần đánh lui; nay chúng đƣợc triều đình

giảng hòa, chắc chúng sẽ giết hại bọn ta. Vả lại bọn Tây lấy binh lực ăn hiếp ta bắt hòa, nhƣng chúng không thành thực, nay triều đình giảng hòa với chúng, bọn ta không nơi nương tựa, sao bằng hợp lực đánh lại chúng, giữ lấy một mảnh đất để cùng nhau bảo toàn sinh mạng! Mọi người đều cho là phải, liền cử Trương Định giữ binh quyền. Lúc ấy có Phạm Tuấn Phát ở Tân Long đem thƣ các nghĩa hào đến tỏ ý muốn cử Định làm chủ soái để ra sức trừ giặc. Tức thì mọi người xây đàn, tôn Định làm chủ soái. Định tự xƣng là Bình Tây đại nguyên soái…” (Truyện Trương Định)

Trong tiểu truyện về Phan Văn Đạt, cũng để làm nổi bật tính chất bình thường mà vĩ đại của người anh hùng, ở đoạn kết nhà thơ kể lại những chi tiết trong cuộc sống hằng ngày của Phan, những chi tiết thật cảm động, và nhờ nó mà hình tượng người anh hùng trở nên sinh động và rất gần gũi với mọi người:

“Phan Văn Đạt là người thông minh sáng suốt, việc máy móc chỉ xem qua là có thể bắt chước làm được, tính ông rất thích gảy đàn, thổi sáo. Tôi ở gần nhà ông, thuở nhỏ vì tình họ ngoại nên rất thân yêu nhau. Đến khi tôi đƣợc thăng hàm Hàng lâm trước tác, đi tòng chinh ở Gia Định thì Văn Đạt ngày thêm sa sút, mẹ chết không chon cất đƣợc, tôi báo tin với các bạn thân giúp tiền mới làm lễ tống tang đƣợc tử tế. Vợ chồng mất sớm, tự mình phải làm việc kim chỉ và may vá. Tôi thường đọc chuyện khúc đàn “Trĩ phu tháo hàn tử” để đùa nhạo. Văn Đạt cười nói rằng: Người chăn trâu là khoáng phu, chớ tôi vẫn có vợ, chỉ khác một điều là người ở trần thế và người ở dưới cửu tuyền mà thôi! Rồi ở góa mãi không lấy vợ khác…”

2.2.2. Nét bi tráng của người nghĩa binh chống Pháp trong thơ – văn

Trong thơ Nguyễn Thông, trực tiếp viết về con người chiến đấu, có bài Văn Nguyễn Công Duy, Định Biên Tán (Điếu ông Nguyễn Duy, Tán lý Định Biên).

Nguyễn Duy giữ đồn Phú Thọ, năm 1861 Pháp tấn công đồn, ông chống lại quyết liệt, bị kẻ thù bắn chết. Thi hài của ông không còn nguyên vẹn, sau nhờ chiếc áo người ta mới nhận ra, và đem về chôn ở cửa Đông thành Biên Hòa. Nhà thơ gọi ông là “cây đại thụ”, và cái chết của ông là niềm đau xót chung của mọi người.

Tây phong phiêu đại thụ, Nhất tích ế viên môn.

Mãn địa mai hùng lược, Tam quân khấp cựu ân.

Đồ tích không y tang, Na tri hạo khí tồn,

Niên niên hư trủng thượng, Di lão loại phương tôn”

(Cây đại thụ gặp gió Tây,

Một đêm ngả xuống nằm ngay cửa đồn.

Oai hùng nắm đất vùi chôn, Ba quân nức nở nhớ ơn những ngày…

Thi hài nhìn áo mới hay, Biết đâu hạo khí đến nay vẫn còn.

Hàng năm trên chỗ đất chôn, Bạn già rót rượu, viếng hồn người xưa)

Viết tiểu thuyết về những người anh hùng, về những cuộc đời có sức cuốn hút, sức lay động sâu sắc đối với mọi người, nhà thơ có dụng ý giữ nguyên các chi tiết có thực, mà không tô vẽ, trang điểm gì cả. Phan Văn Đạt tham gia chiến đấu khi

“quân ta thua trận ở Phú Thọ, quan quân lui về giữ Biên Hòa; thành Gia Định bị người Tây chiếm cứ”. Ông khởi binh cùng với Trịnh Quang Nghị, là người chú bên ngoại, sau thất bại “…Người Tây bắt được Văn Đạt, dọa tra tấn cực hình. Văn Đạt không hề run sợ. Tên chủ giặc lấy làm lạ, hỏi tên thông ngôn. Tên thông ngôn trỏ Văn Đạt nói rằng: Người này là kiệt hiệt nhất trong đảng, vì thế Văn Đạt bị giết chết. Năm ấy ông ba mươi ba tuổi” (Truyện Phan Văn Đạt). Trương Định là phó lãng binh Gia Định, khi Pháp hãm thành Biên Hòa, ông tập hợp năm nghìn quân chiếm vùng Quy Sơn chuẩn bị đối phó. Nhƣng triều đình ký hòa ƣớc với giặc, Trương Định được thăng làm lãnh binh và có lệnh giãi binh để đi nhận chức mới.

Trương Định không chấp hành lệnh của triều đình, ông ở lại cùng nhân dân tiếp tục chiến đấu. Cuối cùng ông đã hy sinh dũng cảm (Truyện Trương Định). Còn Hồ Huân Nghiệp thì khi Trương Định xướng nghĩa chống Pháp, có người băn khoăn

không biết thành hay bại, Huân Nghiệp trả lời: “Kẻ làm việc nghĩa, không kể thành hay bại”. Sau đó, mặc dù có mẹ già cần phụng dưỡng, ông vẫn ra làm việc nước.

Ông bị giặc bắt, trước giờ lên máy chém, “bọn Tây tra hỏi Huân Nghiệp tên những người cầm đầu nghĩa binh, ông không trả lời. Chúng lại hỏi hòa ước đã định, sao còn sinh sự hại dân. Ông khảng khái cãi lại, bọn Tây không sao làm cho ông thua lý đƣợc. Rồi chúng đem máy chém ra. Có tên cố đạo biết chữ Hán, thấy Huân Nghiệp là một người Nho học, muốn tìm cách cho ông được tha. Hắn đem giá chữ thập ra bảo ông lạy, nhƣng ông không chịu khuất, lấy giá chữ thập vứt xuống đất, Đến lúc sắp hành hình, Huân Nghiệp rửa mặt, sửa khăn áo, ung dung đọc bốn câu thơ rồi chịu chém, ai thấy cũng sa nước mắt” (Truyện Hồ Huân Nghiệp).

Các truyện ký về liệt sũ anh hùng của Nguyễn Thông chẳng những để lại cho chúng ta hình ảnh cao đẹp của những người xả thân vì Tổ quốc mà lời bình khái quát của tác giả còn gây trong lòng ta nỗi căm giận khôn nguôi đối với một triều đình cam tâm bán nước, bỏ dân: “Than ôi! Người ta đang cơn loạn lạc hồ dễ mấy ai chịu quyên sinh để giữ vững khí tiết. Thế mà có những người nêu cao được tiết tháo, nhƣng việc làm lại bị che lấp, không ai biết mà truyền lại, cho nên không đƣợc triều đình ban khen. Cũng trong đám người trung nghĩa mà có người may, có người không may, đáng thương lắm thay!”.

Nói tóm lại, những tác phẩm trực tiếp viết về những con người chiến đấu ở quê hương của nhà thơ không nhiều, nhưng đó là những tác phẩm gây được ấn tượng sâu đối với người đọc.

Một phần của tài liệu Đặc điểm nghệ thuật thơ văn nguyễn thông (Trang 51 - 55)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(83 trang)