Chương 2. CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT
2.2.1. Khái niệm về nhân vật
Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện văn học. Những con người này có thể được miêu tả kỹ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm.
Nhân vật văn học có thể là con người có tên, có thể là những người không có tên hay có thể là một đại từ nhân xưng nào đó. Khái niệm nhân vật
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
này cũng cần được hiểu một cách rộng rãi trên hai phương diện: số lượng: hầu hết các tác phẩm từ văn học dân gian đến văn học hiện đại đều tập trung miêu tả số phận của con người. Về chất lượng: dù nhà văn miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật...nhưng lại gán cho nó những phẩm chất của con người.
Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật có tính ước lệ, có những dấu hiệu để nhận biết: tên gọi, những dấu hiệu về tiểu sử, nghề nghiệp, những đặc điểm riêng...Những dấu hiệu đó thường được giới thiệu ngay từ đầu và thông thường, sự phát triển về sau của nhân vật gắn bó mật thiết với những giới thiệu ban đầu đó. Việc giới thiệu nhân vật khác nhau dường như cũng báo trước về số phận của mỗi nhân vật sau này: gắn liền với những suy nghĩ, nói năng, hành động trong quá trình phát triển về sau của nhân vật.
Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ thuật khác. Ở đây, nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng là ngôn từ. Vì vậy, nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng để dựng lại một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ của nó.
Quan niệm về nhân vật
Tác phẩm tự sự không thể thiếu và có nhiều nhân vật. Nhân vật mang linh hồn của tác phẩm và là trung tâm của sự miêu tả. Thế giới nhân vật là phương tiện tất yếu và quan trong nhất để thể hiện tư tưởng trong tác phẩm tự sự. Nó là phương tiện có tính thứ nhất trong hình thức các tác phẩm ấy, quyết định phần lớn vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết, vừa phương tiện ngôn ngữ và thậm chí cả kết cấu nữa. Chức năng cơ bản của nhân vật là khái quát tính cách con người, người dẫn dắt độc giả vào các thế giới khác nhau của đời sống. Điều chính yếu khi xây dựng nhân vật văn học là qua nhân vật mà nhà văn đàm luận với người đọc về vai trò và số phận con người giữa cuộc đời. “
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nhân vật là nơi tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác”
(Tô Hoài).
Trung tâm của thế giới nhân vật là con người. Quan niệm nghệ thuật về con người như là thước đo trình độ chiếm lĩnh hiện thực đời sống của một tác giả, một tác phẩm, một trào lưu hay một thời đại văn học. Quan niệm nghệ thuật về con người chính là yếu tố chi phối các yếu tố khác của nghệ thuật thể hiện, gắn với đời sống văn học mỗi giai đoạn lịch sử.
Trong điều kiện chiến tranh, mục tiêu giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước được đặt lên hàng đầu. Văn học cách mạng đã làm tròn xứ mạng của nó. Hình tượng con người sử thi và con người cộng đồng đã góp thêm một nguồn động viên, góp thêm sức mạnh cho cuộc chiến tranh của dân tộc đi đến thắng lợi cuối cùng. Cuộc triến đấu cho quyền sống của dân tộc đã thành công và cuộc chiến đấu cho quyền sống cho từng cá nhân đã trả lại cho văn học bản chất vốn có của nó. Văn học thời đổi mới chuyển từ cảm hứng lịch sử dân tộc sang cảm hứng thế sự, đời tư. Số phận con người trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà văn trong việc thể hiện cái nhìn dân chủ đối với sự phức tạp của con người. Vấn đề con người cá thể được đặt ra một cách bức xúc. Văn học hôm nay không quan tâm phục hồi một chỉnh thể đời sống, không quá chú trọng xây dựng tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Sức hút lớn nhất là từ hiện thực tinh thần đời sống của con người ở thời điểm này, là sự nhận thức và tự nhận thức của cá nhân trong những mối quan hệ đan dệt vô vàn phức tạp trong hành trình sống. Được – mất, thiện ác, tốt - xấu, dự định – bất ngờ, có thể - không thể, hạnh phúc - đau khổ … tất cả chỉ là tương đối, ứng với mỗi cá nhân, mỗi thời khắc. “ Theo hướng này, nhà văn cảm nhận cuộc sống không phải có sự sai khiến của lí tính mà theo “mệnh lệnh của trái tim”… Nhà văn hôm nay cho căng hết các giác quan của mình để đón bắt hết những xung đột âm thầm đang diễn ra trong tâm hồn con người ” [44,128].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Có thể nhận ra vị trí và tình cảm đặc biệt Đỗ Bích Thúy dành cho nhân vật phụ nữ. Mô típ nhân vật thường thấy trong tác phẩm của chị là người mẹ, người chị - những người đàn bà miền núi âm thầm, lặng lẽ. Bản thân chị đã không ít lần tự hỏi: “ Tại sao tôi cứ viết về người đàn bà?”, “Tại sao những người đàn bà của tôi khi nào cũng phải sống trong những nỗi khát khao lớn hơn dãy Tây Côn Lĩnh, sâu hơn đáy sông Nho Quế, những nỗi khát khao không gì nhấn chìm được, cũng không có cách gì đạt tới được?”. Cuốn sách thứ nhất, cuốn sách thứ hai, thứ ba… chị vẫn dành cho người đàn bà. Người phụ nữ miền núi và những ước vọng luôn bị trói buộc bằng những sợi dây vô hình mà điều chị muốn bạn đọc thấu hiểu. Viết vì nhu cầu nội tâm, Đỗ Bích Thúy khát khao tìm đến để sẻ chia quan niệm, cách nhìn con người và ứng xử trong cuộc sống cùng độc giả. Những đấu tranh nội tâm người phụ nữ là điều chị quan tâm nhất trong tập Tiếng đàn môi sau bờ rào đá: “Trước đây không có chuyện ấy, những người phụ nữ vũng cao sống khép kín, họ cặm cụi sống hi sinh vì chồng, vì con họ ít nghĩ đến mình. Giờ cuộc sống mở ra, con người cá nhân trỗi dậy, họ có nhu cầu sống cho riêng mình”. Đã có nhiều chân dung người phụ nữ miền núi “không dừng ở ngưỡng cửa của nhà mình nữa, không bó buộc mình như bó chân trong xà cạp nữa”, khát vọng hạnh phúc và tình yêu tự do khiến họ “có sự bung phá trong suy nghĩ” [9]. Bà Mao (Tiếng đàn môi sau bờ rào đá), Nhẻo (Như con chim nhỏ), Pao ( Ngoài cửa trời chưa sáng)… bước ra khỏi “ cái ngưỡng cửa cao” ấy đến đâu? Đỗ Bích Thúy chưa dám đẩy vấn đề đi quá xa nhưng chị đã thành công trong việc khắc họa sinh động, chân thực những đấu tranh nội tâm, những xao động và cả giằng xé quyết liệt trong tâm hồn người phụ nữ. Sự đa cảm, nhạy cảm của một cây bút nữ từng sống và lớn lên ở vùng cao, với giọng kể thì thầm, da diết chị đã khơi dậy những câu chuyện “ngợi ca vẻ đẹp của lòng vị tha, sự nhẫn nại và đức tin vào một ngày mai chan hòa ánh nắng trong mối quan hệ giữa con người với con người” [52].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hệ thống nhân vật trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy chưa thể gọi là đông đảo nhưng cũng đủ cơ sở để nhận ra một số kiểu loại nhân vật. Ỏ đây, chúng tôi đề cập đến kiểu nhân vật mà sự xuất hiện của nó đã tương đối rõ nét trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy.
2.2.2. Các loại nhân vật
2.2.2.1. Người phụ nữ và những nỗi cô đơn
Trong bài Người đàn bà miền núi Đỗ Bích Thúy tâm sự: “Trong những năm tháng tôi đã sống và viết về vùng đất xa tít tắp của mình, điều làm tôi day dứt nhất, ám ảnh nhất là thân phận người đàn bà. Người đàn bà miền núi, dậy trước gà gáy, ngủ sau trăng sao, cõng trên lưng sự tồn vong của cả một gia đình, với một đàn con lít nhít, đứa lớn hơn đứa bé cái chỏm tóc. Tôi rất nhớ hình ảnh những người đàn bà gùi trên lưng hình ảnh cái gùi rất nặng nặng ngô, lúa, mật ong, lợn con, rượu, củi… xuống chợ, lại gùi một cái gùi nặng mắm muối, vật dụng trở về khi chiều tàn, chợ tan nhưng nhớ là phía trước, ngay dưới những gương mặt cúi gằm vì phải nhìn đường, vì thói quen, vì giữ ý… là những chiếc bứu rất nặng nề, xấu xí” [46;93].
Trong mỗi truyện ngắn của Đỗ Bích Thuý là mỗi số phận, mỗi cảnh đời ngang trái khác nhau. Trong bức tranh đó, chị tập trung khai thác chiều sâu nội tâm của nhân vật, phần lớn là những người đàn bà với cuộc đời làm dâu, làm vợ, làm mẹ âm thầm, chịu nhiều buồn tủi, đắng cay...“Sau những mùa trăng”, “Tiếng đàn môi sau bờ rào đá”, “Những người đàn bà miền núi”,
“Bóng cây sồi”,... Nhưng sau bao khó khăn, vất vả, những người phụ nữ miền núi luôn thể hiện là những người chịu thương, chịu khó, cam chịu mọi thiệt thòi để vun vén cho cuộc sống gia đình.
Người mẹ già tên Mao trong truyện “Tiếng đàn môi sau bờ rào đá”
trong suốt hai mươi năm đi làm dâu mà không có khả năng sinh nở. Khi ông Chúng (chồng) đưa về nhà một cô gái trẻ người Kinh (mẹ Hoa) làm vợ hai,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
nỗi buồn tủi, cô đơn trong những đêm dài mất ngủ khiến đôi mắt bà Mao thâm quầng. Từ một thiếu nữ đẹp người, đẹp nết, giỏi se lanh, thêu thùa ngày xưa, bà Mao ngày càng héo hon với “hai bàn tay khô như hai cành mua cong queo, đầy vết chai dầy như miếng cháy trong chảo cám”. Vì không sinh được con nên bà Mao luôn nghĩ mình chỉ là “cái cục đá kê chân cột nhà chồng”.
Cùng cảnh làm dâu như bà Mao nhưng cuộc đời bà Kía trong truyện
“Gió không ngừng thổi” là những chuỗi ngày lo âu, tủi nhục, mặc cảm tội lỗi dày vò. Bà Kía bị đứa em họ bên chồng hãm hiếp, sinh ra thằng con bất trị Thào Mí Chứ. Khi đã như một chiếc lá vàng chuẩn bị lìa cành, bà Kía vẫn không hay biết bí mật cuộc đời mình ông Sùng (chồng bà) đã tỏ từ lâu. Không ai nói ra nhưng những cơn giông gió luôn cuộn dâng, gào xé trong sâu thẳm lòng họ...
Những số phận người phụ nữ trong trang văn Đỗ Bích Thúy như bà Mao, bà Kía hay Mai ( Cạnh bếp có cái muôi gỗ), Vi (Giống như cái cối nước), Nhẻo (Như một con chim nhỏ), mẹ của Thơm (Những buổi chiều đi qua cuộc đời). mỗi người có một hoàn cảnh éo le khác nhau song, họ đều lựa chọn một cách sống giống nhau: âm thầm hi sinh, cam chịu số phận. Căn nguyên sâu xa xô đẩy cuộc đời những người phụ nữ bất hạnh đó đến những bi kịch nghiệt ngã chính là những định kiến, những phong tục, tập quán lạc hậu của xã hội phong kiến còn rơi rớt lại trong xã hội Mông, Tày, Dao hôm nay.
Đó là tư tưởng trọng nam hơn nữ: “Phải có được đứa con trai để giữ đất, thờ cúng tổ tiên”; là sự phân biệt giai cấp: “Đứa con trai nào nhà nghèo không đủ bạc trắng mang vợ về là phải ở rể. Thằng đàn ông gửi rể khổ hơn đứa đàn bà đi làm dâu nhiều. Trong nhà không dám nói to, ra đường không dám ngẩng mặt nhìn hàng xóm”; là sự “định giá” người phụ nữ bằng những đồng bạc trắng. Chính vì lối suy nghĩ đầy định kiến đó đã gây ra áp lực nặng nề đối với tất cả những người đàn bà khi đi làm dâu. Nhân vật Mai trong truyện “Cạnh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
bếp có cái muôi gỗ” chỉ vì không đẻ cho nhà chồng được một thằng con trai mà phải cam phận một mình nuôi ba đứa con gái để chồng đi lấy người khác.
Còn nhân vật Nhẻo truyện “Như một con chim nhỏ”. Lấy chồng chưa được bao lâu, con cũng không kịp có thì chẳng may chồng vướng phải bẫy thú mà chết. Suốt hai năm sau ngày chồng mất, Nhẻo vẫn quần quật làm việc như trâu như bò trong gia đình nhà chồng mà không một lời oán thán. Nhẻo cũng như bao cô gái vùng cao khác, đã bước chân vào cửa nhà chồng thì toàn bộ cuộc đời từ đó trở về sau là thuộc về nhà chồng và cuộc đời Nhẻo cũng giống như một con chim nhỏ, chỉ mãi quẩn quanh một chiếc lồng ngay cả khi tận đáy lòng cũng biết khát khao một khung trời rộng. Tất cả những điều đó đã ăn sâu vào trong tiềm thức của họ và dường như khi muốn nghĩ tới một điều tốt đẹp nào đó cho riêng mình, người phụ nữ nơi đây luôn cảm thấy không phải.
Trong những hoàn cảnh éo le nhất của cuộc đời, nhân vật trong trang văn Đỗ Bích Thúy đều không có hành vi sống quẫy đạp, bứt phá, không ganh tị, cay nghiệt với mọi người mà chỉ âm thầm chịu đựng một mình. Họ luôn nhận về mình sự thua thiệt để người khác được vui, được hạnh phúc. Đó chính là đức hạnh, là phẩm giá đáng quý của người phụ nữ vùng cao. Bà Mao dù không sinh nở được nhưng suốt đời đã dồn hết tình cảm nuôi dạy, chăm sóc hai đứa con chồng như chính con ruột thịt của mình. “Từ sáng đến khuya, lúc nào May cũng nằm trên lưng mẹ già. Không biết đã bao lần, May ngậm hai bầu ngực của mẹ già mà nhay cho đến bật máu vì thèm sữa”. Bà dạy cho các con cách ứng xử ở đời, những nghi lễ, phép tắc mà người phụ nữ Mông luôn phải ghi xương, khắc cốt: “Ấy, chuyện cũ đừng nhắc nữa. Cái gì cần nhớ hãy nhớ, cái gì nên quên phải biết quên. Hôm qua trời mưa nước suối đục, nhưng không đục mãi được. Con người cũng thế”. Quả thực, chỉ những người phụ nữ có tấm lòng cao cả, nhân hậu mới có được suy nghĩ và đức hi sinh như vậy!
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Còn ông Chúng, chồng bà Mao dù “vượt rào” lấy thêm vợ hai nhưng cũng luôn cảm thấy day dứt, có lỗi với người vợ cả. Biết bà Mao vẫn nặng tình với tiếng đàn môi của người xưa, ông đã giục vợ mang rượu ngô đi bán ở chợ hai bảy tháng Giêng (thực ra chỉ là cái cớ để tạo cơ hội cho vợ gặp lại người yêu cũ). Hành động đó thật cao thượng biết nhường nào!
Lòng cao thượng của người đàn ông Mông còn thể hiện ở cách ứng xử rất tế nhị khi gặp những nghịch cảnh ngang trái. Ông Thào Mí Sùng (Gió không ngừng thổi) dù biết thằng Chá không phải con ruột nhưng vẫn thương yêu, chăm sóc nó như giọt máu của mình. Ông đã cất giấu thật sâu bí mật đó trong lòng vì sợ bà vợ và thằng Chá không chạnh lòng, tủi phận mặc dù tâm can ông luôn bị dằng xé. Tình yêu là thứ không thể san sẻ cho người thứ ba, sự chiếm đoạt trong tình yêu lại càng khó có thể tha thứ. Vậy mà ông Sùng đã vượt lên trên được lòng ích kỷ, sự ghen tuông hẹp hòi, lòng tự trọng bị tổn thương để sống trọn tình, trọn nghĩa với vợ suốt cuộc đời. Lòng bao dung, độ lượng đó cao hơn cả đỉnh Tây Côn Lĩnh!
Qua những trang viết nhẹ nhàng mà sâu lắng, Đỗ Bích Thuý đã là cho người đọc thấy nhiều nỗi xúc cảm và cả những ý niệm về cái đẹp trong hồn người, tình người, tình quê hương sâu nặng. Những đứa con của bản như Din (Ngải đắng mọc trên núi), Khún (Như một con chim nhỏ), Liêu (Mần tang mọc trong thung lũng) dù đã thoát ly ra khỏi làng bản để trở thành cán bộ trẻ nhưng tâm hồn họ vẫn luôn hướng về nơi chôn rau cắt rốn. Cả những thầy giáo, cô giáo từ miền xuôi lên cắm bản đều cảm thấy gắn bó như máu thịt với lũ học trò nghèo để rồi không thể rời xa được bản làng heo hút (Cái ngưỡng cửa cao, Hẻm núi, Mần tang mọc trong thung lũng).
Có thể nói những trang văn của Đỗ Bích Thúy đã đánh thức phần sâu thẳm nhất trong tâm hồn con người, đó là tính thiện và lòng nhân bản. Đó là