Chương 4. VĂN KHẢO CỨU PHÊ BÌNH VÀ SƯU TẦM DỊCH THUẬT TRÊN
4.1. Văn khảo cứu phê bình
4.1.2. Diện mạo và đặc điểm của văn khảo cứu, phê bình trên Tri tân
So với hai tạp chí lớn cùng thời (Thanh nghị và Hàn Thuyên) thì mảng văn khảo cứu trên Tri tân khá đồ sộ và thực sự có giá trị. Với tính cách của thể tài tạp chí: “Văn tự phải yêm báo, thâm thuý, tinh tường, khúc chiết. Nói về việc gì sự gì phải có nhiều tài liệu khảo cứu kỹ càng, đầu đuôi, gốc ngọn, nguyên tắc, chi tiết, phải nói rõ phân minh vì mỗi bài trong tạp chí đều có thể in thành sách nên phải hết sức thận trọng” (Tạp chí Tri tân, số 214, tr.15) nên văn khảo cứu là thể loại phù hợp nhất với yêu cầu của thể tài tạp chí
Hơn 5 năm tồn tại, Tri tân đã đón nhận, đăng tải được 388 bài khảo cứu ở đủ các lĩnh vực: Văn học, lịch sử, văn hóa, triết học, tôn giáo, khoa học, giáo dục, báo chí…
Đáng chú ý nhất là những bài khảo cứu về lịch sử, văn hóa, văn học dài kỳ mà cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Có thể kể đến những bài khảo cứu dài trên dưới một trăm số như Bia Văn miếu, những ông nghè triều Lê của Nguyễn Văn Tố (112 số, đăng tải trong suốt 4 năm, từ số 25, Novembre, 1941 đến số 204, tháng 9 năm 1945); Tài liệu để đính chính những bài văn cổ (90 số, từ số 19, Octobre, 1941 đến số 212 ngày 22 tháng 11 năm 1945 mà vẫn chưa kết thúc)… Có nhiều bài dài vài chục số như Đại Nam dật sự của Nguyễn Văn Tố (68 số, từ số 104, Juillet, 1943 đến số 209 ngày 25 tháng 10 năm 1945); Thử viết Việt Nam văn học sử của Hoa Bằng (32 số, từ số 1, Juin, 1941 đến số 56, Juillet, 1942 vẫn còn dang dở); Tra nghĩa chữ Nho (31 số, từ số 46, Mai, 1942 đến số 92, Avril, 1943); Việt Nam văn học sử (21 số, từ số 172, Décembre, 1944 đến số 210 ngày 1 tháng 11 năm 1945, vẫn trong tình trạng còn dang dở); Bản sách dẫn về “Đại Nam liệt truyện” của Thọ Xuân Lê Văn Phúc (18 số, từ số 57, Aout, 1942 đến số 170, Décembre, 1944); Bàn góp về nguồn gốc tiếng Việt Nam của Đào Trọng Đủ (12 số, từ số 129, Février, 1944 đến số 192 ngày 21 tháng 6 năm 1945)…
Để có được những bài khảo cứu với dung lượng chiếm từ hàng trăm tới vài trăm trang báo, các tác giả đã miệt mài tìm hiểu, nghiên cứu những tài liệu, sách vở cũ rồi so sánh, đối chiếu, phản biện trên một tinh thần khoa học nghiêm túc, cẩn trọng để đưa ra những nhận xét, đánh giá thuyết phục. Đồng thời các bài viết cũng thể hiện tinh thần phê phán một cách đúng mực, nhằm cho độc giả nhận biết rõ “cái thật, cái giả”. Kho tàng tài liệu mà các học giả say mê tìm kiếm chủ yếu là nguồn cổ văn (Hán, Nôm) viết về lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ, văn tự, văn học…
Đặc điểm nổi bật của thể văn khảo cứu trên Tri tân là sự tra cứu, so sánh, đối chiếu, hiệu đính một cách công phu nghiêm túc những điểm còn tồn nghi trong một bài văn cổ hoặc một sự kiện, một nhân vật lịch sử hoặc một nét hay một đặc điểm về văn hóa, tư tưởng… Đảm nhiệm công việc cần mẫn đó, không thể không kể đến vai trò chủ chốt của lực lượng cầm bút. Họ là những nhà nho uyên bác lớp trước như Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Đào Trọng Đủ, Nguyễn Đôn Phục... và những học giả lớp sau nhưng lại có vốn Nho học khá dày dặn như Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm, Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng, Đào Duy Anh, Dương Quảng Hàm, Biệt Lam Trần Huy Bá, Mãn Khánh Dương Kỵ… Đối với người sáng tác thì điều cốt yếu là sự trải nghiệm và thăng hoa của cảm xúc, in đậm dấu ấn chủ quan. Đối với người làm công việc khảo cứu đòi hỏi đức tính thận trọng, tỉ mỉ, miệt mài. Để có được một minh chứng khoa học họ phải tìm tòi, góp nhặt những tài liệu cổ từ nhiều nguồn (có thể từ trong kho tàng thư sách xưa, có thể trong thư viện, có thể lưu lạc trong nhân gian…) để làm cơ sở đối chứng, đưa ra những cứ liệu xác thực. Đồng thời, nhà khảo cứu phải làm việc trên tinh thần khoa học khách quan, có ý thức trách nhiệm cao đối với việc bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống.
Phần giá trị nhất của mảng văn khảo cứu trọng tâm ở hai lĩnh vực: Lịch sử và văn học. Ngoài ra còn có các bài khảo cứu về văn hóa, triết học, phong tục, tôn giáo, khoa học, giáo dục… rất có ý nghĩa.
Đối với mảng văn khảo cứu về đề tài lịch sử, Tri tân dành những chuyên mục khá hấp dẫn để thu hút người viết và độc giả như chuyên mục Sử liệu sống, Mảnh sử liệu, Anh hùng với giai nhân, Chép tân cổ nhắp ngon mùi chính khí, Danh nhân Việt Nam, Sử học luận đàm… Trong đó hai chuyên mục “trung thành” và “ăn khách” nhất của Tri tân là Sử liệu sống và Sử học luận đàm. Các tác giả không ngần ngại theo vết người xưa để tìm về khảo cứu một địa danh, một di tích đền chùa miếu mạo hay một nhân vật, một sự kiện trong một giai đoạn lịch sử của một vương triều phong kiến… bị sử sách lãng quên hoặc chỉ lược cứu hoặc còn nhiều nghi vấn. Thậm chí nhà khảo cứu còn “cất công” trong hành trình tìm về gặp gỡ các cổ nhân như tìm về nguồn nhân chứng sống để nghe và ghi chép lại những câu chuyện, những giai thoại lịch sử chỉ có được ở những nguồn Sử liệu sống rất hấp dẫn đó.
Trong chuyên mục Danh nhân lịch sử, chủ yếu các tác giả khảo cứu về nhân vật lịch sử, thường là các bậc danh tướng, danh nho, những người có công lớn đối với lịch
sử nước nhà mà sử sách chỉ nhắc đến sơ lược như Danh nhân nhà Trần, Danh tướng nhà Đinh, Danh nhân Bình Định, Danh nhân Nam Kỳ...; Những võ tướng như Tả quân Lê Văn Duyệt, Tiền quân Nguyễn Văn Thành, Hậu quân Lê Chất… Hay khảo cứu về một gia tộc, một dòng họ như Gia thế họ Đinh ở Hàm Giang, Gia đình Trưng Vương, Họ vua nhà Nguyễn… Loại bài khảo cứu này thường ngắn gọn, súc tích (trên dưới một trang báo) được viết dưới dạng một câu chuyện hoặc có thật, hoặc được ghi chép từ những giai thoại, những lời truyền tụng trong dân gian hoặc thuật lại theo lời kể của một lão nho để tìm về tận ngọn nguồn, gốc gác của nhân vật, phản biện lại những giả thuyết còn tồn nghi, đính chính những chỗ sai sót, đưa ra những kết luận khoa học.
Ngoài ra còn có những bài khảo cứu xoay quanh việc giới thiệu, hiệu đính một số sáng tác của các bậc danh nho, danh thần hoặc những câu đối, những bài thơ, bài phú, văn bia của người đời sau cảm tác tặng các bậc công thần đó.
Tri tân cũng rất cởi mở trong mục Sử học luận đàm để cùng bạn đọc gần xa trao đổi, bàn luận về một sự kiện hay một nhân vật lịch sử còn nhiều điểm chưa thống nhất.
Mở ra diễn đàn luận bàn về sử học, rõ ràng Tri tân rất thành tâm trong việc lượm nhặt, gom tìm, vun vén những giá trị đích thực về lịch sử. Tạp chí luôn trân trọng công việc thu gom kho tài liệu cổ sử bốn phương. Để có được những bài khảo cứu lịch sử hẫp dẫn cống hiến cho độc giả, ngay ở những số đầu tiên, Tri tân đã đề ra chủ trương và nhiệm vụ rất cụ thể:
“1/ Tìm tòi trong đống sách Đông Tây, nhặt lượm lấy các sử liệu có dính líu đến Việt Nam;
2/ Phê phán các sử liệu trong sử sách cũ, vạch rõ những cái giả hiệu, những cái sai lầm trong các sách mới xuất bản thuộc loại sử ký;
3/ Đến hỏi tận nơi mấy bậc cố lão chuyện mắt thấy tai nghe ở lớp các cụ, rồi ghi chép lấy để làm sử liệu sống;
4/ Đến thăm tận nơi những vết cũ, dấu tàn có dính líu đến lịch sử như lăng vua Bố Cái Phùng Hưng, thành Cổ Lộng…” (Tạp chí Tri tân, số 2, tr.2).
Đặc biệt hơn là những bài khảo cứu về lịch sử đã thể hiện sâu sắc nhất tinh thần của tạp chí- niềm tự tôn, tự hào dân tộc: “Lấy công tâm mà phán xét thì lịch sử Việt Nam so với lịch sử của bất cứ nước nào, không kém phần vinh diệu; Sử còn là một nguồn sinh lực cho tinh thần quốc gia. Những cảnh loạn lạc lầm than của nhân dân gặp khi quốc biến nhắc ta nhớ rằng quanh mình ta còn có đồng bào, chủng tộc; Có đọc sử
mới thấy rằng tinh thần quốc gia Việt Nam trải mấy ngàn năm không bao giờ chết! Có đọc sử mới thấy rõ công khó nhọc của tổ tiên gây dựng nước nhà, gìn giữ giang san, mở mang bờ cõi là lớn lao đến thế nào” (Tạp chí Tri tân, số 7, tr.2). Trong hoàn cảnh đất nước bị nô dịch và thực tế không ít thanh niên trí thức Việt Nam thời bấy giờ thông thạo sử người mà không biết về lịch sử nước mình thì thông điệp đó chẳng phải rất có ý nghĩa sao? Trong lời kết, tác giả đã thể hiện rất rõ tinh thần yêu nước và cũng chính là chủ trương, mục đích của tạp chí Tri tân khi tìm hiểu về lịch sử dân tộc: “Muốn thiệt dạ yêu nước cần phải hiểu biết lịch sử nước nhà”. Thiết nghĩ, đó cũng là niềm động viên, cổ vũ thiết thực của tạp chí Tri tân cho công cuộc đấu tranh giành độc lập, dù không trực tiếp.
Trong bài “Cột Đồng Mã Viện” (số 14), để khảo cứu về di tích lịch sử từ thời cổ lai, Nguyễn Văn Tố dày công tra cứu đủ các loại sách: Từ sách Tàu đến sách Ta, từ tục truyền đến chính sử biên niên... để cuối cùng khẳng định: Cột Đồng Mã Viện với lời thề “Đồng Trụ triết, Giao Chỉ diệt” là không có căn cứ mà đó chỉ là lời tục truyền. Bài viết đã khẳng định rất rõ tinh thần tự chủ của dân tộc ta, không chịu bất cứ sự áp đặt nào của phong kiến Phương Bắc.
Thọ Xuân Lê Văn Phúc lại miệt mài với “Bản sách dẫn về Đại Nam liệt truyện”
với lí do: Soạn giả của cuốn “Đại Nam liệt truyện” sắp xếp các tổng mục, các mục lục chưa khoa học, chưa gọn làm cho độc giả khó tra cứu đồng thời còn có chỗ sai sót, cần phải hiệu đính lại. Vì vậy Lê Văn Phúc đã biên soạn lại bộ sách này, sắp xếp các mục khoa học để tiện cho việc tra cứu (Tên chính, tên phụ của các nhân vật được sắp xếp theo thứ tự A, B, C…; chia thành các tập, quyển, sắp niên biểu theo từng họ, từng tỉnh…). Quyển sách được tạp chí Tri tân giới thiệu không chỉ hấp dẫn bởi lối khảo cứu công phu, tỉ mỉ về thân thế, sự nghiệp của danh nhân lịch sử (triều Nguyễn) mà còn bởi những câu chuyện đời của các bậc danh nhân, danh tướng đó, như chuyện về Hậu, Phi, Hoàng tử, Công chúa, Chư thần, Ẩn dật, Cao tăng, Gian thần, nghịch tặc…
Khi khảo cứu về 82 tấm bia trong Văn Miếu Quốc Tử Giám với mục đích “để bổ khuyết một đoạn lịch sử nước nhà”, học giả Nguyễn Văn Tố đã kỳ công tra cứu các nguồn sử sách (Lịch triều hiến chương, Đăng khoa lục, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Minh sử…) rồi dịch ra chữ Quốc ngữ, cung cấp cho độc giả những tri thức về gốc gác, lai lịch, thiên năng, thiên phú, đóng góp của 1111 ông nghè được vinh danh trong Văn Miếu. Bài khảo cứu được đăng tải trong 112 số tạp chí, chiếm 224
trang báo có thể coi như một pho cổ sử sống động đồng thời cũng là một công trình nghiên cứu hữu ích cho những ai quan tâm đến lịch sử nước nhà.
Chuyên mục dành đăng tải những bài khảo cứu về lịch sử luôn đồng hành cùng Tri tân trong suốt những tháng năm sinh tồn. Ngay cả hai số cuối cùng năm 1946 (số đặc san), tạp chí Tri tân dành ưu ái đặc biệt cho lĩnh vực khảo cứu, khảo đính về lịch sử. Đặc san số 1 năm 1946 là chuyên san về vùng đất Nam Bộ: Cả tập có 39 trang báo thì có tới 36 trang nói về vùng đất Nam Bộ của tác giả Long Điền. Để khẳng định:
“Nam Bộ đối với lịch sử luật pháp hoàn toàn là Việt Nam và đối với thế giới tinh thần cũng thuần túy Việt Nam” (Tạp chí Tri tân, số 1, tr.39), tác giả vừa là nhà khảo cứu lịch sử, vừa là nhà văn hóa vừa là nhà địa lý, thậm chí vừa là nhà nhân chủng học tổng hợp, nghiên cứu, tích lũy, huy động tối đa kiến thức của các lĩnh vực làm căn cứ, cơ sở.
Học giả đã tìm về từ cội nguồn, gốc rễ lịch sử ra đời, hình thành vùng đất Nam Bộ đến việc việc ghi nhận công cuộc khai sinh vùng đất này, trước hết là những người dân bản địa (sau đó mới có công cuộc khai thác áp đặt của nhà nước bảo hộ). Tiếp đến là việc xác định nhân chủng cũng như văn hóa của vùng đất này. Rồi tác giả lại đi đến điểm mặt người thật, việc thật, họ là những chân dung tiêu biểu có công lớn đối với vùng đất Nam Bộ như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định… Cuối cùng, Long Điền minh chứng bằng tinh thần đấu tranh của người dân Nam Bộ dưới thời thuộc Pháp: “Muốn để cho biết dân chí và dân khí của đồng bào ta ở Nam Bộ thế nào, tôi chỉ xin kể lược qua những cuộc phản động, tranh đấu riêng khu vực Nam Bộ mà đã được 32 việc trong 86 năm” (Tạp chí Tri tân, số 1, tr.35). Trong thời điểm khởi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, rõ ràng tinh thần ấy của con người Nam Bộ đã có ý nghĩa lớn lao trong việc khơi gợi, khích lệ ý thức, truyền thống dân tộc trong mỗi dân sinh đất Việt đồng thời còn có ý nghĩa thức tỉnh thế hệ trẻ về tội ác dã man của kẻ thù trong gần 100 năm đô hộ nước ta dưới chiêu bài Văn minh, Mẫu quốc.
Ở vào giai đoạn đặc biệt của lịch sử (những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp), rõ ràng tâm huyết và nỗ lực cuối cùng của những người làm báo Tri tân cũng ít nhiều hướng tới mục đích làm chính trị. Song vốn là một tờ tạp chí văn hóa thiên về khảo cứu nên con đường làm chính trị của Tri tân còn mờ nhạt (không rõ ràng như Thanh nghị và Hàn Thuyên). Vì vậy, hai số tạp chí cuối cùng này, chủ yếu các học giả của Tri tân muốn định chân quốc hồn, quốc tuý dân tộc Việt bằng cách “Ôn cố”. Tạp chí vẫn duy trì mục Sử liệu nhằm mục đích: “Sưu tầm các tài liệu về lịch sử như đồ thư,
di bút, tiểu sử, giai thoại… của các tiên hiền danh nhân cổ kim; Đăng tải hết các tài liệu nhặt được để bạn đọc kiểm điểm hết xem có chỗ nào sai, có gì nhầm, xin phủ chính cho để khỏi bị xuyên tạc” (Tạp chí Tri tân, số 2, tr.18). Trước tình trạng tam sao thất bản do chiến tranh, loạn lạc và nạn xuyên tạc lịch sử của thế lực thù địch, rõ ràng công việc nhặt nhạnh, thu gom, bổ khuyết, hiệu đính tài liệu lịch sử của tạp chí Tri tân thật đáng trân trọng. Song, bối cảnh chính trị đương thời đòi hỏi con người phải nhập cuộc và thôi thúc bằng hành động vì thế chủ trương, mục đích của Tri tân không hợp với thời đại mới và tạp chí đình bản như một tất yếu khách quan.
Đối với những bài khảo cứu về văn học, đáng chú ý và giá trị nhất vẫn là những bài khảo cứu được đăng tải nhiều kỳ như Thơ Đường ở Nhật Bản của Bách Thảo Sương (6 số), Phác sơ về mẹo tiếng ta của Đào Duy Anh; Phong dao chia loại và giảng nghĩa của Hoa Bằng (7 số), Cách xếp đặt chữ Nho trong từ điển của Đào Trọng Đủ (8 số), Bàn góp về nguồn gốc tiếng Việt (Đào Trọng Đủ, 12 số), Thử viết Việt Nam văn học sử của Hoa Bằng (số 54 )… Đặc biệt hơn là những bài trường kỳ với dung lượng hàng trăm trang báo của Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố như Tài liệu để đính chính những bài văn cổ (90 số), Tra nghĩa chữ Nho (31 số), Việt Nam văn học sử (22 số), Hạnh thục ca (20 số)…
Ngoài ra, tạp chí Tri tân còn chọn đăng loạt bài khảo cứu theo các nhóm đề tài, chủ đề trên các số đặc san chuyên về văn học theo từng kỳ: Văn học phụ nữ (1943), Thi ca Việt Nam, Tục ngữ phong dao (1944)… Riêng kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du vẫn luôn thu hút mối quan tâm của các nhà khảo cứu: Với tổng số 29 bài nghiên cứu, tìm hiểu về tác phẩm này cũng đủ để minh chứng. Trong đó, phải kể đến những bài viết có ý nghĩa định hướng, gợi mở của các tác giả Nguyễn Văn Tố, Đào Duy Anh, Dương Quảng Hàm, Đặng Thai Mai, Hoa Bằng, Vũ Văn Lợi, Lê Thước…
Do đặc điểm của thể văn khảo cứu đòi hỏi sự tra cứu công phu, kiếm tìm tỉ mỉ, nghiên cứu kỹ lưỡng có so sánh đối chiếu, thực chứng nên hầu như các bài khảo cứu đều có trường độ. Bài ngắn nhất cũng được đăng tải trên 2 số tạp chí (4 trang báo), bài dài nhất 90 số (180 trang báo). Bởi vậy, đội ngũ đảm nhiệm công việc này phải là người có tâm huyết, có niềm say mê, có tinh thần khoa học, cẩn trọng, đúng mực và đặc biệt phải có vốn văn hóa, văn học cổ sâu rộng. Các nhà nho như Dương Quảng Hàm, Nguyễn Văn Tố, Đào Duy Anh, Đào Trọng Đủ, Hoa Bằng… vẫn là lực lượng giữ vai trò chủ chốt làm nên diện mạo riêng của mảng văn khảo cứu trên Tri tân tạp chí.