Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THẾ HỆ THƠ CHỐNG MỸ VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TẠO CỦA LÊ ANH XUÂN
1.3. Lê Anh Xuân - Ca Lê Hiến, từ người chiến sỹ cầm bút đến người anh hùng nghệ sĩ
1.3.1. Lƣợc về tiểu sử và cuộc đời
Ở nửa sau thế kỷ XX lắm sóng gió, nhiều biến động gắn liền với hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc ta, các thế hệ nhà thơ đã có sự trưởng thành. Trong số đó không ít người đã anh dũng hy sinh ngã xuống trên chiến trường giữa lúc tuổi đời còn rất trẻ. Nhà thơ Lê Anh Xuân là một con người như vậy.
Lê Anh Xuân (bút danh) tên khai sinh là Ca Lê Hiến sinh ngày 05 tháng 06 năm 1940 tại xã An Hội, thị xã Bến Tre. Quê nội ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Ông chào đời đúng vào những ngày Nam Kỳ khởi nghĩa trên mảnh đất giàu truyền thống cách mạng mà như sau này ông đã viết trong một bài thơ:
Tiếng khóc đầu tiên tôi chào đất nước Năm bốn mươi cờ đỏ rợp Nam Kỳ
(Lên Bắc Sơn)
Ông xuất thân trong một gia đình trí thức yêu nước. Bố là Giáo sư Ca Văn Thỉnh (1902 - 1987), nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn học có tầm cỡ ở nước ta, cũng là người từng được Bác Hồ giao cho giữ chức vụ quyền Bộ trưởng Bộ giáo dục của chính phủ kháng chiến. Mẹ là Lê Thị Tài (1907 - 1990) – là một nhà giáo tận tụy, nhân từ và phúc hậu. Quả không sai khi có người đã nói gia đình Lê Anh Xuân là một cái hội “Liên hiệp văn học nghệ thuật thu nhỏ”. Những người anh em ruột thịt của ông là nhạc sĩ Ca Lê Thuần, đạo diễn Ca Lê Hồng, họa sỹ Ca Lê Thắng…đều là những tên tuổi quen thuộc với những người yêu thích văn học, âm nhạc, sân khấu và hội họa của cả nước. Ngay từ nhỏ, Lê Anh Xuân đã được sự dạy dỗ ân cần từ người cha mẫu mực và được sống trong không khí đầm ấm của một gia đình văn nghệ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Năm 1945, cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông bà Ca Văn Thỉnh tham gia kháng chiến, chị em Lê Anh Xuân từ thị xã Bến Tre về quê sống với ông bà nội. Hồi còn nhỏ Lê Anh Xuân học ở trường tiểu học Đà Lạt vì lúc đó mẹ của ông bị giặc Pháp bắt, đưa lên quản thúc ở Đà Lạt, rồi Phi Giăng (trên đường đi Buôn Ma Thuật). Lê Anh Xuân được đưa lên Đà Lạt sống gần mẹ, sau đó đi Phi Giăng thăm và ở với mẹ. Do ở đây không có trường nên mẹ của ông khuyên nên về Đà Lạt để học tập. Lê Anh Xuân coi Đà Lạt như quê hương của mình, Đà Lạt cũng hiện lên trong nỗi nhớ quê của ông:
Đà Lạt quê em anh nhớ mãi
Đường mùa xuân hoa rải cánh vàng Thung xanh thơm ngát mùi hoa dại Đồi cao thông đứng nắng mịn màng.
(Em đẹp nhất)
Năm 1950 (lúc này Lê Anh Xuân mới 10 tuổi), Lê Anh Xuân sống với bố mẹ ở vùng kháng chiến Tây Nam Bộ, học trường dành cho con em cán bộ Trần Quốc Toản tại Bạc Liêu, sau đó chuyển về trường Biển Bạch, huyện Trần Văn Thới tỉnh Cà Mau. Bạn học thân thiết của ông lúc này là Bùi Thị Xuân Lan (em gái của nhà văn Anh Đức), một cái tên quen thuộc được nhắc đến nhiều trong nhật ký, góp phần tạo nguồn cảm hứng thơ và hình thành lên bút danh Lê Anh Xuân.
Cuối năm 1952, Lê Anh Xuân vào làm việc tại nhà in Trịnh Đình Trọng thuộc Sở Giáo dục Nam Bộ. Tại đây, Lê Anh Xuân vừa tiếp tục học văn hóa vừa làm công nhân xếp chữ. Đây cũng là thời điểm ông bắt đầu tập làm thơ.
Lúc này Lê Anh Xuân mới 12, 13 tuổi nhưng đã bắt đầu làm thơ đăng báo tường của nhà in.
Năm 1954, Lê Anh Xuân cùng gia đình tập kết ra Miền Bắc vào học trường học sinh miền Nam (Hải Phòng), khi lên cấp III Lê Anh Xuân học ở trường phổ thông trung học Nguyễn Trãi (Hà Nội), được gần gũi với cha mẹ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Khoảng năm 1960, 1961 Lê Anh Xuân trở thành sinh viên khoa sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nay là trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Những năm này Lê Anh Xuân sáng tác bài thơ Nhớ mưa quê hương và đạt giải nhì cuộc thi thơ do Tạp chí Văn nghệ tổ chức. Điều này cho chúng ta thấy rằng suốt những năm theo gia đình tập kết ra Bắc, quê hương Bến Tre luôn là nỗi nhớ chất chứa trong tâm hồn nhà thơ. Ông đã có những câu thơ day dứt, ám ảnh: “Quê nội ơi/ Mấy năm trời xa cách/ Đêm nay, ta nằm nghe mƣa rơi/ Nghe tiếng trời gầm xa lắc…/ Cớ sao lòng thấy nhớ thương”. Năm 1962, tốt nghiệp đại học ông được nhà trường giữ lại là cán bộ giảng dạy và năm 1963 được cử đi nghiên cứu sinh ở Liên Xô. Nhưng rồi cuộc kháng chiến ngày càng diễn ra ác liệt nên ông xin ở lại và tình nguyện trở về quê hương miền Nam để tham gia chiến đấu.
Những ngày cuối năm 1964, Lê Anh Xuân rời miền Bắc theo đoàn cán bộ Giáo Dục vượt trường sơn vào chiến trường Nam Bộ và công tác ở Tiểu ban Giáo dục thuộc Ban Tuyên huấn trung ương cục. Tháng 7 năm 1965, chuyển sang công tác ở Hội Văn nghệ Giải phóng. Từ đây, Lê Anh Xuân sống và chiến đấu với tư cách là người chiến sĩ – nghệ sĩ. Ngày 07 tháng 8 năm 1966, Lê Anh Xuân vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông tham gia vào chiến dịch tống tiến công xuân Mậu Thân 1968 đợt 2 và đã anh dũng hy sinh vào ngày 24 tháng 5 năm 1968 tại ấp Phước Quảng, xã Phước Lợi, huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
Lê Anh Xuân ngã xuống vì nền độc lập của nước nhà khi tuổi đời còn rất trẻ, khi ấy ông 28 tuổi. Sự hy sinh của ông đã để lại tấm gướng sáng cho đồng đội, đồng chí noi theo. Sau này trong cuốn nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc có đoạn viết: “Còn Ca Lê Hiến, anh chẳng yên tâm ngồi trên giảng đường đại học, anh không thể nghe hết tập giáo trình lịch sử - không thể ngồi nghe gươm khua trong những trang giấy…Ca Lê Hiến giờ đã nằm xuống, tài năng của anh đang độ phát triển và anh chƣa kịp làm những gì
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tuổi thơ hằng mơ ƣớc. Nhƣ những dòng sông ấy, có bao giờ cạn đƣợc. Tiếng thơ của anh vẫn tiếp sức cho những người sau đi tới” [38, tr. 264].
Ngày 28 tháng 3 năm 1977, Lê Anh Xuân được Thủ tướng Chính phủ công nhận là liệt sỹ. Năm 1961, ông được nhận giải nhì cuộc thi thơ của Tạp chí Văn nghệ với bài Nhớ mưa quê hương. 1965 ông được nhận giả thưởng Nguyễn Đình Chiểu của Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam. Năm 2011, nhà thơ được Chủ tịch nước truy tặng giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật và danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Hiện nay phần mộ Lê Anh Xuân được di táng về nghĩa trang liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh. Ở tỉnh Bến Tre, thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương khác có những con đường, trường học mang tên nhà thơ Lê Anh Xuân.
Nhà thơ Hoài Anh khi viết về cuộc đời Ca Lê Hiến đã có những nhận xét chính xác: “Sống học sử chết đi vào sử”. Cuộc đời của Lê Anh Xuân đã trở thành một tấm gương cao đẹp về nhà thơ – chiến sỹ, về ý thức trách nhiệm của người cầm bút.
1.3.2. Lƣợc về sự nghiệp sáng tác
Theo một số tài liệu nghiên cứu thì Lê Anh Xuân bắt đầu sáng tác thơ từ khi còn nhỏ tuổi: “Mới 12, 13 tuổi nhƣng anh đã bắt đầu làm thơ đăng báo tường của nhà in” . Nhưng phải đến bài Nhớ mưa quê hương đạt giải nhì, giải thưởng của Tạp chí Văn nghệ năm 1961 thì Lê Anh Xuân mới khẳng định được tài năng thơ của mình. Và cũng từ đó sự nghiệp sáng tác của Lê Anh Xuân mới thực sự nở rộ, và có vị trí tỏa sáng trong nền thơ chống Mỹ.
Những tác phẩm chính đã xuất bản - Tiếng gà gáy, thơ, 1965
- Giữ đất, văn xuôi,1966
- Có đâu nhƣ ở miền Nam, thơ in chung, NXB Thanh niên, 1968 - Nguyễn Văn Trỗi, trường ca, 1969
- Chào anh giải phóng quân, tập thơ, in chung, NXB Quân đội nhân dân, 1972
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Thơ Lê Anh Xuân, tuyển thơ, 1981
- Thơ Ca Lê Hiến (Lê Anh Xuân), tuyển thơ, 1993 - Nhịp chày ba, thơ, tủ sách tác phẩm đầu tay, 1998
- Ca Lê Hiến – Lê Anh Xuân toàn tập, NXB Văn hoa Văn nghệ TP.
HCM, 2012
Thơ Lê Anh Xuân được đưa vào giảng dạy trong các trường phổ thông, cao đẳng, đại học. Có những tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp và nhiều tác phẩm được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc.
Như đã đề cập, trong Luận văn này chúng tôi chủ yếu đi sâu nghiên cứu hai tập thơ Tiếng gà gáy (1965), Hoa dừa (1968) và Trường ca Nguyễn Văn Trỗi(1969).
Tiếng gà gáy (1965), là tập thơ đầu tay, tập hợp những bài viết của Lê Anh Xuân trong 10 năm sống ở miền Bắc gồm 24 bài thơ và đã khẳng định vị trí của ông trong đội ngũ sáng tác thơ thời kì chống Mỹ.
Hoa dừa (36 bài thơ) là tập thơ thứ hai bao gồm những bài thơ sáng tác trong những năm ở chiến trường miền Nam cho đến khi hy sinh (1965 - 1968).
Đây cũng là thời kỳ Lê Anh Xuân có những bước trưởng thành cả về nhận thức tư tưởng lẫn vốn sống và bút pháp nghệ thuật. Bước trưởng thành này gắn liền với con người của ông: từ một nhà thơ – trí thức đến một nhà thơ - chiến sĩ.
Hồn thơ Lê Anh Xuân giai đoạn này tràn ngập niền vui, niềm tự hào về quê hương miền Nam anh dũng trong thời điểm dầu sôi lửa bỏng. So với tập Tiếng gà gáy, giọng điệu của tập Hoa dừa vừa sôi dộng, phấn khởi, chắc khỏe và phơi phới tình yêu quê hương đất nước vừa nồng nàn, sâu đậm cảm hứng trữ tình – sử thi hơn. Hoa dừa mang hình ảnh của nhiều mảnh đất, nhiều con người, mang dấu ấn của những chuyến đi, những lần gặp gỡ của nhà thơ trẻ giàu nhiệt huyết đang say sưa, hòa nhập và sáng tạo.
Tiếp theo tập Hoa dừa là Trường ca Nguyễn Văn Trỗi. Tác phẩm được lấy cảm hứng từ câu chuyện rất thật về tấm gương hy sinh anh dũng của người
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
anh hùng đất Quảng, ngay sau khi tác giả gặp chị Quyên – vợ anh Trỗi. Để hoàn thành tác phẩm dài hơi này Lê Anh Xuân đã phải lao động rất cật lực.
Chính bản thân ông đã chủ động tìm gặp chị Quyên để nghe kể chuyện về anh Trỗi và đồng thời đọc và suy ngẫm từ tác phẩm Sống như anh của Trần Đình Vân để có thêm tư liệu. Theo nhà văn Anh Đức, Lê Anh Xuân bắt tay vào viết Trường ca Nguyễn Văn Trỗi từ năm 1967, trong rừng của chiến khu D: “Trong nhiều buổi chiều tà, khi cánh rừng bằng lăng chút dần ánh nắng, cũng thường là khi cơn sốt của Hiến hạ dần. Tối đến, Hiến lại ngồi vào bàn làm thơ. Dạo ấy Hiến đang viết Trường ca Nguyễn Văn Trỗi dài trên một ngàn câu” [8, Tr.110 – 111]. Có thể nói Trường ca Nguyễn Văn Trỗi của Lê Anh Xuân là một bản tình ca, một khúc anh hùng ca. Đối với một nhà thơ trẻ như Lê Anh Xuân có được một trường ca dài 1341 câu trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt và khi thể loại trường ca còn đang rất mới mẻ, chưa phổ biến là một đóng góp rất đáng trân trọng của ông vào dòng chảy thơ ca kháng chiến chống Mỹ. năm 1969 (Sau khi Lê Anh Xuân hy sinh), Trường ca Nguyễn Văn Trỗi chính thức được Nhà xuất bản Giải Phóng cho in ấn và phát hành. Theo Hoài Thanh, Trường ca Nguyễn Văn Trỗi xứng đáng là “Tƣợng đài liệt sĩ bằng thơ”.
Với hai tập thơ và một bản trường ca, Lê Anh Xuân đã để lại những dấu ấn rất riêng trong lòng người đọc và ông cũng đã khẳng định được vị thế của mình trong nền thơ chống Mỹ. “Cuộc đời và sự nghiệp của Lê Anh Xuân mãi mãi là mẫu mực về nhân cách của một nghệ sĩ chân chính, đã có những đóng góp đáng kể không chỉ đối với nền văn học giải phóng miền Nam mà cả với nền văn học cách mạng dân tộc” [47, tr.346].
Trong các chương sau, Luận văn sẽ đi sâu vào phân tích chất thơ lý tưởng thuần khiết và bút phấp hiện thực lãng mạn của thơ Lê Anh Xuân như là một đặc trưng cho phong cách của thời đại đồng thời in đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của người anh hùng nghệ sỹ này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 2