Nhu cầu đổi mới tƣ duy nghệ thuật của tiểu thuyết về nông thôn sau 19863128 2.2. Nhu cầu nhận thức và sự chiếm lĩnh hiện thực đa chiều

Một phần của tài liệu Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết việt nam về nông thôn từ 1986 đến nay (Trang 39 - 68)

Chương 2 DIỆN MẠO CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VỀ NÔNG THÔN TỪ

2.1. Nhu cầu đổi mới tƣ duy nghệ thuật

2.1.2. Nhu cầu đổi mới tƣ duy nghệ thuật của tiểu thuyết về nông thôn sau 19863128 2.2. Nhu cầu nhận thức và sự chiếm lĩnh hiện thực đa chiều

2.1.2.1. Với sự đổi mới kiểu tƣ duy tiểu thuyết, tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này có những tìm tòi, thể nghiệm trong hình thức nghệ thuật. Về cấu trúc tác phẩm, ngoài một số tiểu thuyết có xu hướng quay về mô hình tự sự truyền thống, kết cấu rõ tràng, mạch lạc, có mở đầu, có kết thúc, cách kể không quá phức tạp (Thời xa vắng, Giời cao đất dày, Đứa con của thần linh, Ma làng, Bến không chồng, Thủy hỏa đạo tặc) là kết cấu “phức hợp”. Ở đó, các nhân vật (người kể chuyện, nhân vật xưng tôi, tác giả…) đối thoại với nhau, không ai có quyền phán xét, áp đặt (Chuyện làng Cuội, Bên kia bờ ảo vọng, Ba người khác). Kết cấu nhƣ một trò chơi rubich, tạo nên sự hỗn loạn, lỏng lẻo, rời rạc, lắp ghép, gấp khúc, khó nắm bắt (Giã biệt bóng tối, Lão Khổ). Kết cấu theo lối đảo lộn thời gian (quá khứ - hiện tại -– tương lai), không có sự tổ chức sắp sếp theo quy luật (Lão Khổ, Chuyện làng Cuội). Kết cấu “buông lửng”, “bỏ ngỏ” -– nhằm đưa người đọc tự do suy nghĩ, tự do sáng tạo kiểu kết thúc riêng theo quan niệm riêng (Mảnh đất lắm người nhiều ma, Dòng sông Mía). Kết cấu liên văn bản, “tiểu thuyết lồng tiểu thuyết” (Giã biệt bóng tối, Lão Khổ, Dòng chảy đất đai)… Chính tƣ duy tiểu thuyết và những biến đổi thi pháp đã chi phối nguyên tắc xây dựng tác phẩm, tạo ra nhiều mô hình cấu trúc mới mẻ:

cấu trúc theo đường đời nhân vật (Thời xa vắng, Giời cao đất dày), cấu trúc đan cài số phận mỗi con người với mỗi dòng họ, gia đình, làng quê, đan cài hiện tại với các lớp trầm

32

tích văn hóa lịch sử (Mảnh đất lắm người nhiều ma, Lời nguyền hai trăm năm, Lão Khổ, Đội gạo lên chùa, Thuyền nghiêng), cấu trúc theo ký ức hồi cố (Giời cao đất dày, Lão Khổ), cấu trúc tập trung vào nhân vật cá nhân dị biệt (Dòng sông Mía), cấu trúc đảo lộn thời gian xen kẽ quá khứ và hiện tại (Chuyện làng Cuội), cấu trúc dồn tụ chất liệu hiện thực để khắc sâu một tư tưởng, một luận đề (Thời xa vắng, Dưới chín tầng trời, Mảnh đất lắm người nhiều ma)… Nghĩa là điểm nhìn đƣợc tối ƣu hóa trong tiểu thuyết viết về nông thôn đương đại. Một khi tư duy tiểu thuyết thắng thế tư duy sử thi thì ngôn ngữ cũng biến đổi theo hướng đó. Do nhu cầu phản ánh hiện thực đời sống xã hội nông thôn trong thời đại mới, các nhà văn tiếp cận đời sống ở cự li gần chứ không phải qua một “khoảng cách sử thi tuyệt đối”(M. Bakhtin) nên ngôn ngữ ít mực thước, trang trọng, chuẩn mực, mỹĩ lệ, mà xu hướng đời thường hóa, đậm tính khẩu ngữ, thậm chí thô tục trở thành “hiệu ứng”

riêng trong phản ứng mỹĩ cảm của nhà văn với thế giới (Lão Khổ, Ba người khác, Thời của thánh thần). Xuất phát từ tinh thần dân chủ và ý thức cá tính trong việc đi sâu tìm hiểu, khám phá đời sống nông thôn ở chiều sâu nên giá trị triết lý trong diễn ngôn đƣợc các nhà văn chú ý ngôn ngữ ngày càng gia tăng tính triết luận, khái quát, thông qua việc sử dụng và cách ứng xử ngôn ngữ của họ tự do, phóng khoáng hơn, nhằm đem lại hiệu ứng trực tiếp mạnh mẽ trong sự tiếp nhận của công chúng (Lão Khổ, Giã biệt bóng tối, Màu rừng ruộng).

Từ lớp nhà văn trưởng thành ở các gia đoạn trước đến lớp nhà văn xuất hiện từ cao trào đổi mới và những cây bút phần lớn còn trẻ vẫn luôn nỗ lực sáng tạo, vẫn lặng lẽ kiếm tìm nhằm tạo ra những hình thức mới, mang lại hiệu quả cao nhất. Hiện tƣợng những cuốn tiểu thuyết viết về nông thôn ngắn gọn, co lại, dồn nén về mặt dung lƣợng là một trong những biểu hiện của sự đổi mới của tƣ duy tiểu thuyết viết về nông thôn từ sau đổi mới. Tạ Duy Anh - nhà văn trẻ chuyên viết về nông thôn cũng rất tâm huyết đã nói lên tính ưu việt của tiểu thuyết ngắn: “Xu hướng ngắn, thu hẹp bề ngang, vừa khoan sâu theo chiều dọc, đa thanh hóa sự đối thoại, nhiều vỉa ý nghĩa, bi kịch thời đại được dồn nén trong một cuộc đời bình thường, không áp đặt chân lý là dễ thấy. Tiểu thuyết ít mô tả thế giới hơn là tạo ra một thế giới theo cách của nó. Ở đó con người có thể chiêm ngƣỡng mình từ nhiều chiều hơn là chỉ thấy cái bóng của mình đổ dài xuống lịch sử” (Dẫn theo Bùi Việt Thắng), [194;tr.185]. Xu hướng này phù hợp với kiểu tư duy của con người hiện đại. Dưới áp lực cơ chế thị trường, áp lực cạnh tranh phương tiện nghe nhìn và sự bùng nổ thông tin, con người buộc phải hối hả chạy đua với thời gian, vì thế ngoại trừ những nhà nghiên cứu, phê bình và những ai quan tâm đến tiểu thuyết, còn lại ít người chịu bỏ ra một lượng thời gian lớn để đọc những cuốn tiểu thuyết dày hàng trăm, hàng nghìn trang nhƣ thời chống Pháp, chống Mỹ (Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Xung đột của Nguyễn Khải, Cửa biển của Nguyên Hồng). Vì thế, tiểu thuyết đƣợc mệnh danh là “cỗ máy cái” buộc phải “thu mình lại” để có một

“khuôn hình” phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu bạn đọc trong thời đại công nghệ thông tin. Theo Bùi Việt Thắng, “những biểu hiện của khuynh hướng tiểu thuyết ngắn trong văn học Việt Nam” [194;tr.186] xuất hiện đầu những năm 60 của thế kỷ trước. Chúng tôi thiết nghĩ, phải đến 30 năm sau (những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX) thì khuynh hướng dồn nén dung lượng như tiểu thuyết ngắn mới thật sự có mặt, đúng theo tinh thần “less is more”(càng ít càng nhiều), “thiểu ngôn đa ý” (ít lời nhiều ý). Một số tiểu tiểu thuyết viết về nông thôn ra đời gần đây gây đƣợc bạn đọc chú ý với khuôn khổ nhỏ, có hình thức rất ngắn gọn, chú trọng sự cô đọng, góin gọn trong phạm vi một tập, với số lượng phổ biến dgiao động dưới 30072 trang, dồn nén đúng nghĩa của tiểu thuyết ngắn nhƣ Bến không chồng (28155 trang), Lời nguyền hai trăm năm (191 trang), Lão Khổ (260 trang), Ma làng (187 trang), Ba người khác (250 trang), Đứa con của thần linh (231 trang), Giời cao đất dày (243 trang), Trăm năm thoáng chốc (183 trang), Họ vẫn chưa về (210 trang), Cánh đồng lưu lạc (256 trang), Cách trở âm dương (260 trang)... Độ ngắn nhƣ thế chƣa nói đƣợc điều gì đáng kể, song ít nhất “sự thành công của không ít tác phẩm thuộc dạng này đã nói lên rằng giá trị của một cuốn tiểu thuyết hoàn toàn không phụ thuộc vào bề dày và số trang của nó” [200;tr.54], nhưng mặt khác, nó thể hiện thiên hướng “chống lại một xu hướng chính từng ngự trị trong truyền thống: viết những bộ sử thi, tùng thƣ dài trang đƣợc xem nhƣ một giá trị, còn viết ngắn đồng nghĩa với sự non yếu, thất bại; mặt khác minh chứng cho một sự mới mẻ rằng: tính toàn thể của thế giới chỉ có thể đƣợc biểu hiện và nhận ra trong từng phân mảnh của thực tại, rằng miêu tả toàn bộ hoặc phần lớn thế giới trong một tác phẩm tiểu thuyết là siêu hình và trên thực tế là không thể đạt đƣợc, do vậy mà tiểu thuyết truyền thống đã rơi vào tình trạng quá nhiều lời và thừa mứa ngôn từ” [51]. Và dĩ nhiên, khuôn hình ấy không làm giảm đi dung lƣợng phản ánh, trái lại có sự dồn nén lớn về nội dung phản ánh hiện thực, góp phần tạo nên chất thơ và tính triết lí trong tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới. Chất thơ và tính triết lí nhƣ thể là cặp song sinh trong hệ hình tư duy của tiểu thuyết viết về nông thôn đương đại. Tính triết lí toát ra từ những suy tƣ, tranh biện giữa các nhân vật (đối thoại) và trong chính nhân vật (độc thoại). Chất thơ thể hiện qua những trang văn miêu tả thiên nhiên đồng quê, với những vẻ đẹp kỳ thú, huyền ảo, thơ mộng, có sức sống; chất thơ đi sâu vào những cảm xúc của thế giới nội tâm đầy huyền bí của con người, tạo nên sắc thái thẩm mĩ cho lời văn.

Ngôn ngữ giàu chất thơ xuất hiện nhiều trong những trang văn làm nên sự quyến rũ riêng cũng như hiện thực “bỏng rát” chuẩn bị tâm thế để người đọc lắng dịu lại mà cảm nghiệm hiện thực. Thứ ngôn ngữ đời sống đó đƣợc thăng hoa trong dòng cảm xúc bay bổng, mãnh liệt dùng để bày tỏ trọn vẹn những cảm hứng phức hợp của nhà văn về bức tranh hiện thực đời sống nông thôn, về sự diệu kì của tâm hồn người nông dân

34

(Bến không chồng, Dòng sông Mía, Dòng chảy đất đai). Nhƣ vậy, tiểu thuyết viết về nông thônnông thôn sau đổi mới đã giai đoạn này vẫn kế thừa, phát triển những đặc điểm ưu việt của hình thứcvề phương thức nghệ thuật trước đóuyền thống, nhưng mặt khác, đã tiếp thu những kĩ thuật mới của nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại trên thế giới. Những nét mới mẻ, tinh túy nhất đƣợc tiểu thuyết viết về nông thôn vận dụng, biến hóa linh hoạt, uyển chuyển trên tinh thần dân tộc.

2.1.2.2. 2.1.2.2. Tƣ duy tiểu thuyết cũng góp phần đắc lực cho các nhà văn cũng góp phần đắc lực cho tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn giai đoạn này đi sâu khám phá thế giới bên trong đầy bí ẩn, thầm kín, nhấn mạnh tới và chiều kíchsâu tâm linh của người nông dân,; đi vào những hướng tiêu cực, cổ hủ lạc hậu, những mất mát hi sinh và cả những bi kịch của người nông dân; khám phá sâu con người đời tư, con người tự vấn, tự ý thức, con người bản năng, đa phân lưỡng trị… tạo nên quan niệm nghệ thuật mới về con người. Đây chính là nét đổi mới đáng kể thể hiện tƣ duy nghệ thuật khác trước. Nguyễn Thị Bình có lý khi cho rằng: tiểu thuyết (trong đó có tiểu thuyết nông thôn) sau 1986 “có một dòng chảy mới, lúc đầu âm thầm lặng lẽ, càng về sau càng mạnh mẽ hơn, trong đó chứa đựng nhận thức khoa học hơn, đầy đủ hơn về hiện thực” [10;tr.22]. Đặc biệt, với kiểu tƣ duy nghệ thuật mới, tiểu thuyết viết về đề tài này đã khám phá ra con người đời tư (tiếp cận người nông dân ở góc độ riêng tư).

Phát hiện ra con người nông dân dưới góc độ đời tư, thực ra không phải là bước đột phá mới trong tiểu thuyết nông thôn đương đại, vì đã từng xuất hiện ở giai đoạn trước đó (những năm 1930 -– 1945 của thế kỷ XX trong văn học hiện thực phê phán và Tự lực văn đoàn), thể hiện ước mơ, khát vọng sống mãnh liệt của người nông dân trong

“đêm trường trung cổ”. Giai đoạn 1945 -– 1975, nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ (hậu phương lớn chi viện tiền tuyến lớn) nên quan niệm cũng như tư duy nghệ thuật luôn hướng tới cái chung của cộng đồng, dân tộc. Con người chủ yếu là mẫu số chung của cộng đồng, là con người quần chúng, tập thể, lịch sử đã che khuất con người đời thường. Ở đó, mọi nhận thức, đánh giá được “bao bọc trong một không khí vô trùng” (Niculin), nên họ là ai, ở vị trí nào đều thể hiện chung một trình độ nhận thức về chính trị, xã hội, về niềm tin đối với cách mạng, ý chí và tấm lòng sắt son, thủy chung với quê hương đất nước (Bão biển của Chu Văn, Chủ tịch huyệncủa Nguyễn Khải). Trong hoàn cảnh ấy, cái tôi cá nhân hết sức mờ nhạt, không có điều kiện để phô diễn mình, những tiếng nói riêng của “cái tôi” bị lạc lõng, cô đơn (Xung kích của Nguyễn Đình Thi, Con trâucủa Nguyễn Văn Bổng). Từ 1975 trở về sau, con người đời tư xuất hiện trở lại nhưng phổ biến hơn, đậm nét hơn và được xem như một kiểu tư duy của “thời hiện đại”. Con người đời thường, con người cá nhân ấy

đƣợc soi rọi từ nhiều chiều khác nhau, đặt vào vòng xoáy nghiệt ngã của cuộc đời nhất. Con người ấy không còn giản đơn, một chiều, “không có những bất ngờ, may rủi”, không “nhạt” như trước, mà đó là những con người “đầy những vết đập xóa trên thân thể, trong tâm hồn”. Ở đó, con người đồng thời tồn tại cả mặt tốt lẫn mặt xấu, cả nhân tính và phi nhân tính, cả bản ngã và phi ngã, cả ý thức và vô thức và luôn biểu hiện cá tính rõ rệt. Cá tính ấy biểu lộ xung đột trong cùng một thời điểm tạo nên nét riêng biệt của mỗi con người. Con người đời tư pha lẫn hối hận, dằn vặt, đau đớn, day dứt, sám hối. Họ dằn vặt trước thời cuộc, sống trong sự tự bộc bạch, tự mổ xẻ chính mình nhƣ Chị Nhân, Hạnh (Bến không chồng), Giang Minh Sài (Thời xa vắng), bà Son (Mảnh đất lắm người nhiều ma), bà Đất (Chuyện làng Cuội), chị Cả Thuần (Dòng sông Mía), Hai Thìn (Lời nguyền hai trăm năm), Thuần (Giời cao đất giày)… Họ đắng cay, xa xót xa nhất khi hiển lộ ra sự sai trái của mình, bởi con người không phải bao giờ cũng sáng suốt tuyệt đối, trái lại có những lúc, thậm chí nhiều lúc đã để mình rơi vào những khoảng tối. Hạnh (Bến không chồng) luôn mang nỗi khổ đau, đơn côi để cuối cùng Hạnh nhận ra “trên đời này không có ai tốt nhƣ chú Vạn và không có ai khổ cô đơn nhƣ chú Vạn” [49275;tr.30880]. Lão Xung suốt đời chìm đắm trong hận thù, về già khi không còn đủ sức để làm điều xấu điều ác đã ăn năn: “Tôi bây giờ già rồi, giờ nghĩ lại mà khiếp sợ” [49275;tr.304]. Cuộc đời của chị Cả Thuần (Dòng sông Mía) là một chuỗi dài tủi nhục vì quá khứ ám ảnh, nỗi đớni đau của người mẹ khi người con thân yêu hi sinh ngoài chiến trường. Nhà văn đã tạo ra những con người có nội tâm phong phú, biết suy xét, thức nhận cuộc sống ở mức độ riêng, đấu tranh trong cùng một con người để tìm ra được chân lý đích thực của hiện tại, tìm ra chính bản thân mình nhƣ nhân vật Sài (Thời xa vắng) là một điển hình. Đồng thời, với mặt trái tiêu cực trên của xã hội nông thôn, con người cá nhân được tự do phát triển, suy nghĩ, bộc bạch, theo đuổi ƣớc mơ, sở thích của mình. Họ có quyền riêng tƣ, chọn lựa phong cách sống dù phải nhận lấy bi hài kịch, cá tính đƣợc phát huy cao độ, không phân biệt giai cấp, địa vị. Trong Dòng sông Mía, Đào Thắng xây dựng người nông dân rất đỗi đời thường, họ có ước mơ, hoài bão và khát vọng riêng. Một cô bé xinh đẹp, con nhà giàu nhƣng dám quẳng thân vào gió bụi, lao vào cuộc tình éo le với Lẹp -– đứa con rơi, tàn tật. Một bà Mến lúc nào cũng tâm niệm: “Đàn bà chúng tôi không cần cái gì, tiền bạc, của nả, danh tiếng không bằng một đứa con, khi khỏe mạnh đã vậy, còn lúc ốm đau, trái gió trở trời, thêm nữa tránh sao khỏi miệng đời, người ta rủa xả mình là vô phúc”

[64291;tr.157]. Trong thẳm sâu tâm hồn người nông dân, luôn ẩn chứa bao nỗi niềm khắc khoải, dằn vặt thao thức, luôn đi tìm ý nghĩa cuộc sống, nhạy cảm trước đổi thay của thế cuộc. Ông Phúc (Mảnh đất lắm người nhiều ma) luôn bày tỏ quan niệm của mình về hiện thực đời sống xã hội: “Thời buổi bây giờ nó nhiễu nhương, trắng đen lẫn

36

lộn, cóc ngóe nhảy lên làm người! Muốn có chỗ đứng thì phải biết lựa” [51277;tr.29].

Hương (Thời xa vắng) nhận thấy cuộc đời đầy bất công, ngang trái: “Đời hay thật, kẻ hèn nhát không muốn mất đi cái gì thì được tất cả. Người sẵn sàng đánh đổi tất cả cho một cái gì thì chỉ còn thân tàn ma dại” [36263;tr.97]. Đôi khi ƣớc mơ chỉ là giản dị, đơn sơ nhưng mãi là giấc mơ xa vời đối với người nông dân. Hạnh (Bến không chồng) suốt cuộc đời “chỉ ƣớc mơ đƣợc ở một căn nhà nhỏ”, đƣợc cầm chiếc chổi rơm quét nhà, đƣợc tự tay nhóm lửa nấu cơm” [49275;tr.30779] vậy mà cũng không có đƣợc.

Con người đời tư, con người cá nhân hiện diện trong tiểu thuyết viết về nông thôn đương đại được các nhà văn phản ánh trung thực bằng kinh nghiệm sống chắt lọc, vắt kiệt trên từng câu chữ, trang văn. Con người ấy hiển lộ đời sống nội tâm phong phú và đa dạng: có cái tốt xen lẫn với cái xấu, có niềm vui pha lẫn nỗi buồn, có hạnh phúc lắng lại trong nỗi đau…

2.1.2.3. Tƣ duy nghệ thuật trong tiểu thuyết viết viết về đề tài nông thôn giai đoạn nàyy còn còn thể hiện sự nhạy bén của các tác giả trong việc nhận thức tối đa đạo đức tối đa về thực trạng suy thoái đạo đức, băng hoại đạo đức, nhân cách của người nông dân trong quá trình đô thị hóa nông thôn. Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện, xã hội nông thôn Việt Nam biến đổi nhanh chóng theo vòng quay hối hả của cơ chế thị trường, thì tiếng gọicảnh báo khẩn thiết về sự suy thoái đạo đức của người nông dân đƣợc đặt ra bức khẩn thiết hơn bao giờ hết.! Chính những điều kiện tốt đẹp đó đưa người nông dân ngự trên những vinh quang nhưng cũng sẵn sàng tước đoạt đi “nhân tính” thiêng liêng nhất của mình. Những cơ hội thách thức đã hòa trong mỗi cá nhân để mở ra cả một xã hội bộn bề trong một con người bé nhỏ. Và cũng chính từ đây, các nhà văn truy tìm trong cơ chế thị trường và quá trình hiện đại hóa nông thôn, người nông dân đã đánh mất đi chất thuần hậu, đạo đức bị băng hoại, tha hóa và biến chất về mặt nhân phẩm. Lối sống thực dụng đã làm đảo lộn, lung lay và có nguy cơ sụp đổ những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc vốn bám sâu nơi làng quê trước cơn sóng gió của thời cuộc. Phan Cự Đệ có lý khi cho rằng: “Cơ chế thị trường có những mặt tích cực của nó nhƣng cũng kéo theo những mặt tiêu cực. Nó đƣa đến một lối sống cạnh tranh vô chính phủ, lối sống chụp giật hoặc thực dụng, lấy đồng tiền làm thước đo mọi giá trị.

Đạo đức, nhân cách được coi là dại dột, lỗi thời, người tốt bị cô đơn, lép vế, bị rơi vào tình trạng bi kịch, còn cái xấu, cái ác…, có nguy cơ lộng hành, thậm chí xâm nhập vào những gia đình truyền thống” [40;tr.268]. Nông thôn đương đại vì thế không là một chiều, giản đơn, dễ hiểu mà luôn biến chuyển phức tạp, sinh động và đa thanh. Am tường những ngóc ngách đó, các nhà văn lần lượt đưa ra những con đường lựa chọn nhân cách giằng co để bạn đọc suy nghĩ, đắn đo và tìm ra những giải pháp tối ƣu nhất mà các nhà văn quan tâm thể hiện. Với nội lực riêng trong cá tính sáng tạo, các nhà văn

Một phần của tài liệu Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết việt nam về nông thôn từ 1986 đến nay (Trang 39 - 68)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(212 trang)