Chương 3 HIỆN THỰC VÀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY
3.2. Hiện thực cải cách ruộng đất và con người làng xã, họ tộc
3.2.1. Cải cách ruộng đất - hướng tiếp cận mới từ đề tài cũ
Cải cách ruộng đất là một trong những vấn đề cốt lõi đƣợc văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới chú ý, quan tâm. Nhận thức lại lịch sử không có nghĩa phủ nhận sạch trơn quá khứ, khơi lại thù hằn mà nhằm đánh giá, xem xét lại một cách khách quan, tránh sai lầm có thể xảy ra trong tương lai. Hiện thực nào cũng có hai mặt tốt xấu, đúng sai. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, phong trào cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam trong những năm 1953 - 1956 đƣợc ví nhƣ là một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử dân tộc. (bắt đầu từ những năm 1953, kết thúc vào tháng 7 năm 1956), NNó biến ƣớc mơ ngàn đời của tầng lớp nông dân nghèo khổ, nô lệ, tối tăm, không ruộng đất trở thành người làm chủ cuộc đời mới:
Người cày có ruộng.. Mục đích của phong trào cải cách ruộng đất là đúng đắn, hợp lí: “Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp tình hợp lý. Chẳng những là làm cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ”*. Nhƣng thực tế, khi áp dụng vào thực tiễn lại cứng nhắc, giáo điều dẫn đến hiệu quả chưa cao, để lại những hậu quả nặng nề, ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng đất nước. Trước tình hình như vậy, Đảng Lao động Việt Nam
và Chính phủ đã nhận ra sai lầm, thừa nhận khuyết điểm trước toàn thể nhân dân và tiến hành sửa sai (tháng 10 - 1956)**.
Cải cách ruộng đất không phải là đề tài mới. Các tiểu thuyết gia viết về đề tài nông thôn trước đổi mới đã chú ý, quan tâm, tập trung phản ánh như Nguyễn Văn Bổng (Bếp đỏ lửa), Nguyễn Huy Tưởng (Truyện anh Lục)... Nhưng đó Những thắng lợi to lớn đã được văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn trước 1975 phản ánh (Bếp đỏ lửa của Nguyễn Văn Bổng, Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng...). Nhưng đó chỉ là những mặt tích cực, mặt thắng lợi,, còn mặt trái, mặt khuất lấp và sự mất mát lớn lao cả vật chất lẫn tinh thần vẫn còn đọng mãi trong chiều sâu tâm thức tình cảm, tâm lý của mỗi người dân Việt Nam chƣa có dịp đề cập tới, vì một thời là “trái cấm bất khả xâm phạm”. , mặc dù Đảng đã nhận ra sai lầm và sửa sai (tháng 10-1956). Sau 1986, vấn đề này đƣợc tiểu thuyết viết về nông thôncác nhà văn soát xét lại một cách rốt ráo, trở thành tâm điểm nóng bỏng của quá khứ mà bấy lâu nay vẫn âm thầm day dứt trong chính nội tại của đời sống văn học.
Võ Văn Trực (Chuyện làng ngày ấy), Lê Lựu (Chuyện làng Cuội), Dương Hướng (Dưới chín tầng trời), Hoàng Minh Tường (Thời của thánh thần), Tạ Duy Anh (Lão Khổ), Tô Hoài (Ba người khác)… đã không ngần ngại, né tránh, mà dũng cảm “xông thẳng” vào vấn đề gai góc, tưởng cũ nhưng còn nhạy cảm này. Trong Hành trình tìm về quá khứ, hình ảnh nông thôn Việt Nam trong cơn giông bão cải cách ruộng đất hiện lên chân thực, sinh động.
3.2.1.1. Bao đời nay, làng quê Việt Nam vốn thanh bình, yên ả, đoàn kết, yêu thương, đùm bọc nhau. Nhưng từ khi phong trào cải cách ruộng đất được triển khai, nông dân không còn vai trò chủ nhân tích cực của lịch sử, trở thành đám đông thụ động, bạc nhược, mù quáng và thô bạo. Bao đời nay, làng quê Việt Nam vốn thanh bình, yên ả, đoàn kết, yêu thương, đùm bọc nhau, nhưng từ khi phong trào cải cách được triển khai, Làng quê “nhƣ đứa trẻ đang vui bỗng gặp nạn, không khí ảm đạm, nghi ngờ bao trùm khắp nơi, người nọ nghi ngờ người kia, anh em, vợ chồng, cha con cũng nghi kỵ lẫn nhau. Tối đến gà lên chuồng thì mọi nhà cũng đóng cửa im ỉm, không ai dám sang nhà ai trò chuyện hân hoan nhƣ ngày mới giải phóng” [308;tr.14]. Nông dân không còn vai trò chủ nhân tích cực của lịch sử, trở thành đám đông thụ động, bạc nhƣợc, mù quáng và thô bạo. Một Họ trở thành đám đông lẫn lộn trắng đen trong việccách đấu tố, quy định thành phần giai cấp, xử lý cường hào ác bá phản động, tịch thu của cải địa chủ chia chia cho nông dân.. cho nông dân.
ĐMột đám đông làng Đông (Bến không chồng) rầm rộ, hỗn loạn và trâng tráo. Từ già đến trẻ “kẻ gánh người kiêng, kẻ đội người bê”, trong đó, Vạn - – anh hùng Điện Biên có công lao lớn nhất “đƣợc chia ngôi nhà của địa chủ Hào… Lão khi đƣợc chia chiếc cối đá thủng to tổ bố, lão bảo: “ông đéo vác đƣợc”. Không lấy thì tiếc lão đành phải thuê anh
80
Nhương điếc hai đồng. Bà Nhị được chia một cối xay, chú Đang được vại khoai ngô, chị Vòng đƣợc chia bốn vại dƣa muối. Có hai vại còn đầy ắp dƣa cải nén vàng rộm… Mọi thứ bị tịch thu đƣợc đem chồng chất thành đống ngổn ngang ra sân không thiếu thứ gì, từ cày bừa cuốc xẻng, gạo thóc nồi niêu, bát đĩa, mâm đồng” [27549;tr.35-36]. Song, cuối cùng người xúi quẩy nhất vẫnlà nhà chú Dĩ “ba đời đi hót cứt trâu được chia trục đá kéo lúa.
Chắc nhà chú Dĩ tiếc buổi đi hót cứt trâu nên sai hai thằng con chổng mông đẩy phía sau, trẻ con khoái chí xúm vào đẩy. Chúng vừa đẩy vừa reo hò. Chiếc trục đá lăn cồng cộc lao phăng phăng trên đường làng. Thằng hai cầm càng, tới khúc quanh mất đà, cả người lẫn trục lao ùm xuống ao, bị cái trục đá tương đúng vào đầu phọt óc chết tươi” [27549;tr.36- 37]. Cách phân chia tài sản nhƣ thế, bạn đọc cảm nhận đƣợc phần nào hiện thực ở nông thôn miền Bắc những năm tháng ấy đầy ngổn ngang, thương tâm, xa xót., Ởở đó, có không biết bao nhiêu mảnh đời chìm nổi trước thời cuộc. Kẻ bị tịch thu tài sản không hiểu vì tiếc hay uất ức mà cắn lưỡi tự tử đã đành (thằng Công con lão Hào), còn người được nhận của chia cũng chẳng được hạnh phúc trọn vẹn trong niềm vui sướng được mỗi cái trục đá kéo lúa phải đánh đổi cả thằng con trai tuấn tú, khôn ngoan. Đám đông làng Đồng Trƣa (Lão Khổ) thô bạo, nhốn nháo, nhếch nhác, đói khổ do Tạ Khổ cầm đầu tràn đến nhà chánh tổng họ Tạ để vơ vét, tranh gidành nhau: “Lão Khổ đi trước. Theo sau lão là cả một đám đông nhếch nhác, đói khổ, bị không khí của thời cuộc quét lên cái vẻ hăm hở pha chút hung bạo. Họ mang theo mã tấu, gậy gộc và quang gánh… Mắt họ lơ láo tìm kiếm những thứ có thể đút miệng ngay được. Vườn chuối xanh bị tịch thu trước hết. Tiếng bẻ chuối, tiếng nhai, tiếng khạc nhổ… Những cót thóc chồng cao ba bốn mét bị đâm xé, tranh cướp tơi bời. Tiếng cười hỉ hả, tiếng kêu thét chói tai nhức óc. Một đội thanh niên có nhiệm vụ riêng phá hủy tất cả những đồ dùng nhơ bẩn. Từ chăn màn, quần áo, dày dép…
đến những đồ hương hỏa…, nhất nhất đều bị vằmn nát, đốt thành tro” [28861;tr.66-69].
Việc đấu tố, xử lý địa chủ, kẻ “phản động”, bọn quốc dân đảng diễn ra trong không khí căng thẳng. Thành phần bắt buộc tham gia đấu tố “là “các ông bà bần cố nông cốt cán của các thôn các xã, những rễ chuỗi tin cậy, những thẩm phán và hội thẩm, quan tòa trong các cuộc đấu tố”, “các đối tƣợng trực tiếp của cuộc cải cách, những phú nông và địa chủ, Việt gian Quốc dân đảng dự kiến của từng thôn xã theo chỉ tiêu đã đƣợc cấp trên duyệt”
[30779;tr.153]. Các cuộc đấu tố diễn ra vừa sặc mùi thế tục, vừa đầy ắp hài hước. Chẳng hạn, cuộc đấu tố Hoàng Kỳ Bắc (Dưới chín tầng trời) tại sân đình làng Đoài. Tay Đảo chuyên nghề bắt ếch xông lên chỉ vào mặt: “Mày là tên địa chủ cường hào ác bá, mày cậy có tiền hênhành hoang nịnh bợ mọi người để che lấp tội lỗi mình. Mày mua sắm những thứ xa hoa, đèn giời đèn kéo quân về chơi bời hát xướng vô độ làm hư hỏng dân làng.
Mày tiêu hoangao phí trong khi nhà tao còn đói rách. Còn mụ vợ mày là con đàn bà keo kiệt. Mày có còn nhớ không, mấy lần nhà tao hết gạo sang vay nhà mày, mụ vợ mày chỉ cho tao vay gạo xấu, còn gạo ngon mày để lại cho nhà mày ăn. Mày khôn quá đấy. Mày cứ làm nhƣ mỗi mình nhà mày biết ăn gạo ngon, còn bà con nông dân chỉ biết ăn gạo
xấu”. Tay Tắc hoạn lợn lu loa: “Dân làng đã nghe đồn đại nhiều những chuyện chướng tai gai mắt nhƣng chƣa rõ thực hƣ ra sao. Hôm nay dân làng muốn chính cô Yến Quyên đứng lên tố cáo tuyên bố chồng máu gái để có cơ sở thiến béng cái của nợ ấy đi. Cô cũng là người đẹp, chồng lại đi biền biệt, dứt khoát bị tên Việt gian phản động này ức hiếp”. Mụ Vó - vợ tay Côn hàn nồi nhảy lên: “Chính nó đã đƣa thằng Đỗ Hiền, em trai con Yến Quyêền chạy vào Nam theo địch” [302;tr.54-55]. Mụ Vườn rêu rao: “Còn cái thằng Hoàng Kỳ Trung chồng con Yến Quyên nữa, tiếng là đi kháng chiến, nhƣng có khi nó là gián điệp cài cắm trong đội ngũ cách mạng cũng nên”. Thằng Rược người làng Đông chuyên đi hót phân bò, phân trâu cũng hùng hổ xông lên, hô to xía vào mặt: “Mày có biết tao là ai không? - Tại sao hôm nay mày lại ngoan cố không nhận tội?”. Có đám đông khác ùa vào xôn xao, bàn tán: “Thế thì đúng rồi, khiếp quá, nguy hiểm quá, hai nhà chúng nó đã âm mưu cấu kết với nhau từ đời nảo đời nào mà mình không biết đấy thôi. Cũng may mà cách mạng sáng suốt phát hiện ra sớm, tiêu diệt tận gốc rễ mầm mống bọn Việt gian phản động chứ để lâu làng Đoài mình sẽ bị tên Hoàng Kỳ Bắc đầu độc dụ dỗ theo địch hết” [30274;tr.545-56].
Cuộc đấu tố không chỉ diễn ra ở những con người có “lập trường chính trị” rõ ràng, mà những đứa trẻ conn trong làng cũng rầm rộ thành lập tòa án đấu tố. Chúng chƣa hề biết như thế nào là phản động? Cường hào ác bá là gì? Chúng chỉ biết cha của một đứa trẻ nào đó trong làng bị kết tội địa chủ, thì đứa con cũng phải địa chủ, nên bị xử nhƣ cha. Bọn trẻ chăn trâu làng Đông (Bến không chồng) bắt chước người lớn “đào tận gốc rễ bọn địa chủ”
bằng cách phá tan hoang khu vườn địa chủ Hào, lập phiên tòa án xét xử thằng cu Tốn con mụ Hơn: “Chúng bê gạch chồng lên làm khán đài. Thằng Tốn bị trói hai tay ngồi bệ xuống đất, chúng lấy gạch quay xung quanh thành vành móng ngựa. Ngồi trên khán đài có thằng Tỹ con nhà Dĩ ngọng, thằng Tường con nhà Nhương điếc, con Hương nhà Hạnh nghèo rớt mồng tơi. Khán giả tham dự là mấy đứa bé lít nhít còn để truồng, mũi lò thò, miệng đầy rớt dãi ngồi trố mắt nhìn thằng Tốn bị xử bắn. Hai thằng choai choai con nhà Đan, nhà Hồng lấy quả xoan làm đạn, dương súng cao su thi nhau nhằm vào đầu thằng Tốn bắn. Thằng cu Tốn khóc tóe lên” [27549;tr.54]. Bọn trẻ làng Chì (Ao bèo gợn sóng) “túm tụm từng đám một, gương thẳng những nắm tay lên trời hô to: “Đả đảo địa chủ, đánh đổ bọn cường hào gian ác” [29769;tr.91]. Chúng quát nạt, bắt chú Hội thƣa trình, cúi lạy, quát mắng: “Này địa chủ Hội, không chào các ông bà nông dân hả”. Chú Hội lễ phép: “Chào các ông bà nông dân ạ” [29769;tr.93]. Bọn trẻ làng Đồng Trƣa (Lão Khổ) bàn nhau trả thù lão Tự, chúng “bu vào, dùng que chọc lên những vết ghẻ lở ở chân tay lão. Rồi một đứa bắt nhịp “hai - ba” cho cả bọn đồng thanh gào lên: - Địa chủ! Hai ba: Địa chủ…, mút cu nhân dân… Lão Tự méo xệch mặt, dở khóc dở cười, dùng tay đẩy bọn trẻ con khỏi túm áo lão. Tuy thế có đứa trẻ lăn xả vào cắn xé, giật áo lão rách xoàn xoạt. Lão Tự vừa đƣa tay giữ quần, vừa van xin thảm thiết: - Thôi, thôi, đừng mà, tôi chỉ có một bộ quần áo… Đừng mà”. Chúng hả hê đƣợc lão
82
Tự: “Những lúc ấy thằng Hai Duy thấy nó rất oách… Nó hả hê nhìn lão Tự run lẩy bẩy đang lần tìm những mụn vải bay tứ tung trên cỏ” [28861;tr.109].
Những kẻ nhân danh Đảng, Đội, Cách mạng thô bạo, giáo điều, cuồng tín ấy còn đánh đổ cả một nền văn hóa ngàn đời của cha ông dựng xây, bồi đắp. Họ đập phá miếu mạo, đình làng, chùa chiền, chặt phá cây cối; người chết, mồ mả chôn chung, đủ loại hình thù quái gở; ngày dỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thần thánh cũng chung. Người đọc chạnh lòng, xa xót, đau đớn trước cảnh những cây cổ thụ ngàn đời nay trở thành máu thịt của người dân, nơi biết bao thế hệ nối tiếp nhau sinh ra, lớn lên và qua đời gửi lại cho cây những kỉ niệm vui buồn của thời gian, giờ bị chặt phá trơ trụi: “Những cây cổ thụ vốn tình yêu là máu thịt của quê hương nơi mà bao nhiêu thế hệ nối tiếp nhau sinh ra, lớn lên và qua đời, gửi lại cho cây những chứng tích kỳ diệu của thời gian đã bị chặt bỏ không thương tiếc” [279;tr.56], vì thế “làng xóm và đồng điền quang quẻ, trơ trụi, vô duyên như mặt người bị cạo nhẵn thín lông mày” [27953;tr.56-57]. Họ xây dựng một thế giới đại đồng: làm chung, của chung, ăn chung… Nhưng người sống chưa thực hiện được, thì thần thánh, tổ tiên ông bà, mồ mả thực hiện trước: “Tập thể hóa tổ tiên, thần, thánh, phật và những người chết trước khi tập thể hóa người sống. Vì vậy, người sắp chết hoảng sợ, thều thào trong cơn hấp hối: “Tao nhìn cái nghĩa địa, tao sợ lắm, đừng bắt chết tao”
[27953;tr.94]. Họ phế bỏ những ngày hội cổ truyền nhƣ rằm tháng Giêng, Thanh Minh, Đoan Ngọ, rằm tháng Bảy… Vì họ cho rằng, đó là “phong kiến cổ hủ, là mê tín dị đoan”
[27953;tr.27]. Họ tổ chức cho người dân thực hiện “đời sống mới” như: Đám cưới, cô dâu
“không đòi lễ cưới linh đình, tốn kém, mà chỉ đòi bên nhà trai mang sang hai quả lựu đạn”
[27953;tr.39]. Họ đập phá đình làng để làm nhà kho, sân đình làng làm sân phơi lúa của hợp tác xã: “Đình Đoàilàng bị phá bằng địa giờ đã mọc lên mười gian nhà kho mái ngói đỏ chót. Sân đình Đoài đƣợc mở rộng làm sân phơi của hợp tác xã” [30274;tr.115]. Nhà nghiên cứu Tôn Phương Lan nhận xét rất xác đáng về vấn đề này: “Ví như cải cách ruộng đất đã đem lại ruộng cày cho nông dân, đã tạo nên những ngày hội xuống đồng, trống gióng cờ mở thì cũng chính cuộc cách mạng ấy đã làm hƣ hỏng không ít những tài sản văn hóa quý báu. Con người cách mạng được giáo dục chỉnh chu về trách nhiệm trước “cái chung”, trước lợi ích của Tổ quốc, nhân dân nhưng có những người trong số đó đã không coi trọng trách nhiệm, tình cảm với gia đình nên nhiều khi học trở thành nhẫn tâm, dị dạng mà không nhận biết” [95;tr.48]. Hỗ trợ công cuộc đấu tố, tàn phá là những tiếng trống, tiếng kẻng vang khắp các nẻo đường, thôn xóm: “Từ bốn giờ sáng, dân khắp ba mươi xã và một thị trấn huyện Phương Đình đã từ các ngả, mang theo cờ, trống, thanh la, não bạt, băng rôn, biểu ngữ bằng giấy, bằng cót, bằng mẹt đủ loại lũ lƣợt kéo nhau về nơi xử án.…
Đả đảo Chánh tổng Thiện, cường hào Quốc dân đảng, Việt gian phản động, tay sai phong kiến đế quốc”. “Có những tốp đi theo gia đình, hoặc chòm xóm, người già trẻ con bồng bế nhau như ngày trước đi tản cư, mang theo cả khoai, sắn luộc, cơm nắm trộn ngô, khoai khô hay rau khúc. Có nhóm đi theo toàn thể, nhi đồng, thanh niên, phụ nữ hay dân quân
du kích. Tiết mục văn nghệ đặc sắc nhất là những câu hò tự phóng tác: “Nông dân đói khổ bao đời… Ai đi hò lờ… Phóng tay cải cách chuyển dời núi sông… Hò lơ hò lắng tai nghe tiếng ai hò lơ…” [30779;tr.151-152]; những khẩu hiệu, biểu ngữ “viết nguệch ngoạc” trên các vật liệu có sẵn (thúng, mẹt, cót, nong nía, giấy, vải), đủ các kiểu: “Đả đảo bọn cường hào ác bá” [27751;tr.26], “Bọn địa chủ phú nông là những con chó” [28861;tr.65], “Đả đảo bọn cường hào gian ác đầu sỏ”, “Đả đảo bọn việt gian quốc dân đảng” [27549;tr.57],
“Có nghèo ôn nghèo, có khổ kể khổ. Không bao che, không bị mua chuộc”, “Bần cố nông quyết tâm một lòng đoàn kết với trung nông, liên hiệp với phú nông đánh đổ bọn địa chủ cường hào ác bá”, “Nhiệt liệt hoan nghênh chính sách giảm tô, cải cách ruộng đất”
[28760;tr.186].… Thế Nhƣng, những đám đông ấy “hô khẩu hiệu một cách a dua chứ chẳng biết căm thù ai, hoan hô ai, ý thức giai cấp thế nào” [30779;tr.152].
3.2.1.2. Sự đảo nghịch trong đời sống xã hội nông thôn lúc bấy giờ là Có lẽ Xa xót hơn, đó là cảnh người ta kiểm chứng lòng trung thành với Đảng bằng cách xử lý người cùng gia đình, dòng tộc, làng xã của mình. Thước (Bến không chồng) cầm súng bắn cha nuôi từng cưu mang, nâng đỡ, yêu thươngcưng chiều hắn nhất. Để kiểm chứng lòng kiên trung, Vạn đã ra tay bắn chú Xèng và chú Xình cùng họ Nguyễn với anh. Lưu Minh Hiếu (Chuyện làng Cuội) đƣợc đội Quyền giáo dục “về cái lý lịch mang huyết thống cách mạng…, về cống hiến và sự hi sinh của người cha đã đẻ ra anh. Còn cái con đã đẻ ra anh bị choáng ngợp trước hào quang phú quý, trước sự phỉnh nịnh lừa gạt ngon ngọt của bọn đế quốc phong kiến, phản động mà đã dứt bỏ tình nghĩa với người chiến sĩ cách mạng để làm vợ một tên đại địa chủ, đại phản động gian ác”. Vì thế “mụ Đất từ nay không thể là mẹ của anh. Nó thuộc về giai cấp bóc lột. Anh là giai cấp bị bóc lột. Hai giai cấp phải đấu tranh một mất một còn không thể có mẹ con tình nghĩa gì vào đấy” [28760;tr.229]. Em (Lão Khổ) bị buộc bịa ra chuyện để tố anh ruột; chú ruột bị bắt lên đấu tố cháu “run cầm cập”, “đã ngã vật xuống đất, máu ộc qua mồm, qua mũi chảy thành vũng” [28861;tr.145];
lão hàng xóm “chẳng khác con chó nhà lão Khổ là mấy” [28861;tr.142], đƣợc lão Khổ cưu mang, đùm bọc cũng buộc bịa ra chuyện đấu tố. Chỉ vì “đang làm bí thư đoàn thanh niên toàn xã”, “được kết nạp Đảng từ mấy năm trước khi còn ở du kích”, cũng như “tỏ rõ mình không bị giai cấp địa chủ nhuộm đen, mình đã ly khai nguồn gốc xuất thân, không dính dáng gì tới kẻ bóc lột” [27751;tr.24], Vũ Đình Phúc (Mảnh đất lắm người nhiều ma) tổ chức thanh thiếu niên trong làng đi cổ động, hô vang khẩu hiệu đả đảo chính cha ruột của mình khản đặc cả tiếng: “Đả đảo tên địa chủ bóc lột Vũ Đình Đại! Kiên quyết đánh đổ tên địa chủ Vũ Đình Đại!”. Khi đƣa ra đấu tố công khai tại sân nhà, Phúc đấu tố hùng hổ nhất, đanh thép nhất, bản lĩnh nhất: “Địa chủ Đại, mày có biết tao là ai không?”. Ngay cả đứa con dâu (vợ Phúc) cũng xông ra “cầm cái liềm nhảy choi choi trước mặt những kẻ bóc lột, cái mỏ liềm cứ mổ trước mặt Vũ Đình Đại, vừa mổ chị vừa kể tội bọn chúng đã bóc lột đè nén mình ra sao” [27751;tr.26-27]. Trước lời ngon ngọt, lôi kéo, mua chuộc, về phía ông bà nông dân bần cố để triệt hạ ông Lý Phúc, Cục (Thời của thánh thần) nhẫn tâm