Nông thôn với đời sống tâm linh phong phú

Một phần của tài liệu Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết việt nam về nông thôn từ 1986 đến nay (Trang 105 - 125)

Chương 3 HIỆN THỰC VÀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY

3.3. Hiện thực đời sống tâm linh và con người bản năng, tính dục

3.3.1. Nông thôn với đời sống tâm linh phong phú

Nền minh triết phương Đông cho rằng con người là một tiểu vũ trụ trong lòng đại vũ trụ. Vì thế, con người không chỉ sinh tồn trong ba chiều kích không gian, mà còn tồn tại ở chiều kích thứ tƣ -– đời sống tâm linh. Tâm linh là góc sâu kín, nhạy cảm và tinh vi nhất, nhưng cũng huyền ảo, khó nắm bắt nhất trong đời sống tinh thần con người. Vì thế

98

cho đến nay có rất nhiều ý kiến khác nhau về “tâm linh”*, nhƣng nhìn chung điều giống nhau ở chỗ coi tâm linh nhƣlà một thế giới mở với những biểu hiện đa dạng của nó, là một tầng văn hoá trong đời sống tinh thần của con người. Nó tham gia kiến tạo ý thức ngầm và có thể là vô thức. Nhưng thường, tâm linh gắn liền với những tín ngưỡng, niềm tin vào thế lực siêu hình cùng các quan hệ bí ẩn của con người, những sức mạnh thuộc về “trực giác”,

“linh giác”, những khả năng kỳ lạ, mà cho đến nay vẫn là điều khó lý giải của con người.

Bằng những nẻo đường riêng, tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này khai vỡ hiện thực tâm linh đã và đang tồn tại trong đời sống văn hóa nông thôn Việt Nam với những mức độ và biểu hiện khác nhau.

3.3.1.1. Trước hết, Văn hóa tâm linh thể hiện trong việc xây dựng những không gian thiêng. Làng Đông (Bến không chồng) đƣợc đất trời ƣu ái ban tặng cả phong cảnh và con người: “Đất làng Đông nằm trên mình con rồng. Con rồng đó chính là dòng sông Đình bắt nguồn từ cống Linh chảy qua làng Đông uốn lượn như một con rồng. Nước sông như dòng sữa mẹ làm tươi tốt đất và người làng Đông” [27549;tr.10]. Ở đó,, còn ngự trị ngôi từ đường họ Nguyễn uy nghi, có đình làng, hồ Mắt Tiên đầy thơ mộng, thoát tục và những ám ảnh rùng rợn của ba ba, thuồng luồng, con ma mặt đỏ ở đầu cánh mả Rốt chuyên săn đàn bà góa chồng và cả “bến không chồng” đầy quyến rũ. Người dân làng Đông rất ngưỡng vọng, tôn thờ, sùng kính. Chứng kiến những năm tháng thăng trầm của người dân làng Đông, Thắm đã nói với Hạnh: “Đất tổ mình thế mà thiêng thật đấy…, từ chuyện ông Xung, chú Xeng rồi chuyện ông Nghĩa lên tá và về vào ngày mười bảy, tất cả mọi chuyện ấy như có một ông thánh trong từ đường họ sắp đặt” [27549;tr.206]. Trong tột cùng đau khổ, bà Khiên và thím Xeng khuyên Thắm vào từ đường họ Nguyễn cầu lạynguyện cầu, xin cụ tổ cứu vớt bớt nỗi khổ đau: “Bà Khiên và thím Xeng từ trong hậu cung bước ra thấy cái Thắm khóc, bà Khiên bảo: Mày vào lạy tổ, mày sẽ hết đau khổ. Đúng đấy cháu à -– Thím Xeng nói và kéo cái Thắm ngồi dậy -– Nhờ phúc đức tổ tiên cứu vớt linh hồn tội lỗi của cháu. Cháu sẽ sống thanh thản” [27549;tr.82]. Xóm Giếng Chùa (Mảnh đất lắm người nhiều ma) cũng không kém gì. Thế đất “vƣợng nhƣng nghịch”, có “cổng tiền cổng hậu nhƣ hai ụ súng”

[27751;tr.5], có núi ông Bụt nhiều ma, có Giếng Chùa gắn liền với lời nguyền “Ai hay đƣợc ngọc Giếng Chùa/Rủi ai núi Bụt thả bùa ma trêu” [51;tr.10]. Xóm Châu Giang (Dòng sông Mía) cũng có không gian tâm linh huyền diệu. Người đọc bị lôi cuốn vào câu chuyện cá thần Vực Diễm, ai cũng tôn thờ, ngƣỡng vọng nhƣxem đấy là một đấng thần linh đầy uy nghi và linh thiêng: “Khắp vùng ven sông Châu này ai cũng khiếp sợ cá thần…, dân bản địa cúng vọng…, ngày rằm, mồng một…, chỗ nào cũng thấy lôố nhôố bóng người quì gối, vái lậạy thì thầm” [29164;tr.57-58];, có đình Thái Hòa bên kia sông “thiêng ghê lắm…, thờ cá thần ngay sát mép sông” [29164;tr.26]. Đặc biệt, sự tích thằng Lẹp. Người dân cho rằng:

“Thằng Lẹp là con của cá thần sông Châu Giang” [29164;tr.47], trong cơn tuyệt vọng, ông Chép hấp hối, bà Mến cầu xin rồi thiếp đi, trong mơ cá thần “phủ” lên người rồi

sinh ra. Câu chuyện lão Chép, vì dại dột vội nghe lời xúi “trẻ con ăn cứt gà” của “cánh nhà bè”, dám cả gan báng bổ thần thánh, hung hăng quyết “bắt cóc” đôi cá Thần về “xơi tái” nên lão đã chết. Qua đó, người đọcchúng ta thấy đời sống tâm linh ở đây thật nguyên sơ, huyền bí, một thứ tín ngƣỡng dân gian trong trẻo, nhƣng rất mực linh thiêng, màu nhiệm.

Trong Mẫu thượng ngàn, Nguyễn Xuân Khánh xây dựng không gian tâm linh đậm đặc. Những tín ngƣỡng dân gian nhƣ tục thờ cúng bách thần và tín ngƣỡng vật linh (Thành hHoàng làng, thần cây đa, thần chó đá…) tạo nên không gian thiêng nơi làng Cổ Đình. Người ta đồn về đôi rắn làm tổ ở cây đa: “Dân làng có người nói đã trông thấy một đôi rắn, màu đỏ, to hơn cổ tay, dài nhƣ đòn gánh. Dân làng thì thầm: “Đó là ngựa dài để ngài cưỡi đi tuần quanh làng xóm” [30072;tr.221]. Người ta kể về ông Hiếu -– thầy phù thủy huyền thoại của Cổ Đình từ “ngày xửa ngày xưa” mang âm hưởng cổ tích, huyền thoại, nhưng phủ lớp sương huyền ảo ấy chính ông đã từng chữa khỏi ốm đau, bệnh tật rấtcho nhiều người dân nơi đây. Trong những tín ngưỡng chi phối mạnh mẽ nhất đối với người dân làng Cổ Đình là tín ngưỡng phồn thực qua hai lễ hội dân gian về ông Đùng, bà Đà và lễ hội đền Mẫu. Ngay cả trong đình làng thờ Thành hoàng cũng xuất hiện những hình ảnh “bốn cây cột lim gian giữa nhẵn bóng tựa sừng như nhắc lại chuyện những người khủng lồ ông Đùng, bà Đà” hay “ở một miếng ván nong, cảnh ông Đùng, bà Đà đi quanh núi. Bà đeo đôi hoa tai dài chấm đến ngang vai. Đôi vú khổủng lồ thỗn thện”. Và cả trên những bẩy, những rường…, là những hình chạm khắc của các “những đôi trai gái tự tình.

Những cô gái quê khỏa thân, tóc dài với những nét mềm mại;, những chàng trai lực điền giao duyên” [30072;tr.679]. Tín ngƣỡng phồn thực không chỉ có riêng ở làng Cổ Đình, mà còn in đậm trong đời sống của các làng quê khác. Bởi lẽ, Việt Nam vốn là cƣ dân nông nghiệp lúa nước nên từ bao đời nay việc thờ thần Đất, thần Nước, thần Núi…, đều đồng nhất với Âm -– hiện thân của nữ tính -– Mẹ. Thuộc tính của nữ tính - – Mẹ là bảo trữ, sinh sôi, sáng tạo. “Thiên địa chi đại đức viết sinh”* (Trình Hạo). Tín ngƣỡng phồn thực có sức lan tỏa và thấm sâu vào đời sống văn hóa của người dânnông thôn Việt Nam.

3.3.1.2. Tôn giáo (Phật giáo, Thiên chúa giáo) cũng (Phật giáo, Thiên chúa giáo…) cũng là một “nhu cầu tín ngưỡng, nhu cầu tâm linh” của người nông dân Việt Nam. Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Các tôn giáo từ ngoài du nhập vào thường bị biến dạng để thích ứng với đời sống tâm linh con người Việt Nam, nên xu hướng “dân gian hóa” các tôn giáo là hiện tượng dễ thấy” [197;tr.39]. Nhƣ vậy, các tôn giáo khác khi vào Việt Nam không giữ nguyên tính sơ khởi mà đã Việt hóa để hòa đồng vào đời sống tâm linh của người Việt, trong đó, đạo Phật là một trong những tôn giáo được tôn sùng nhất, bởi những tư tưởng của đạo Phật rất gần với những phẩm chất của người dân Việt Nam: dung dị, khoan hòa, hữu ái. Nói như nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: “Đạo Phật dạy người ta lòng từ bi. Không có từ bi thế gian này sẽ rơi vào mông muội. Rồi lại dạy con người phải dựa vào chính mình. Ta luôn phải tìm Phật trong

100

bản thân ta. Thế gian ngày nay rất cần đến cái tâm cao thƣợng. Có đƣợc cái vô ngã, cái từ bi hỉ xả của đức Phật thì mới mong thế gian đƣợc an lành. Phật giáo là một lối sống. Lối sống tốt đẹp lành mạnh nhất” [32294;tr.331]. Đời sống tâm linh của người dân làng Sọ (Đội gạo lên chùa) gắn liền với đạo Phật. Không gian làng Sọ như được “xông hương” (Phạm Xuân Nguyên), từ hương thơm ngào ngạt của giếng thơm trong chùa đến mùi hương đậm đặc tỏa ngát từ căn buồng của bà cụ Hiệp;, mẹ ông trưởng bạ làng Sọ - bà thà chết trong hương thơm của Phật chứ không chịu bị đấu tố, xét xử, vì thế “xác bà được tẩm hương nhà chùa” cùng với đó là hương đàn bà. Chùa Sọ là nơi không chỉ thu hút những người dân có tín tâm, có tiền duyên cửa Phật, mà còn chở che, đùm bọc những số phận bất hạnh không nơi nương tựa như chị em Nguyệt, An (bố mẹ bị giết trong một trận càn). Chùa Sọ còn là nơi trau dồi những phẩm chất thiên lương, cốt cách làm người. , bởi Người dân nơi đây tin vào thuyết luân hồi,

“gieo nhân nào gặp quả ấy”, “ở hiền gặp lành”, vì thế họ luôn hướng tới cuộc sống an lành, từ bi để mong “khi chết đi đƣợc nhập thân vào những bông hoa đẹp hoặc những con chim có giọng hát hay, nhƣ con chim họa mi, con chim sáo. Nhập vào nhƣng không vĩnh viễn. Họ chỉ chờ dịp đầu thai trở lại cõi trần, hoặc đầu thai vào cõi trời làm các cô tiên nữ rắc hoa”

[32294;tr.749].

Phật giáo còn là nơi mỗi người dân nỗ lực để thực hiện chân lí, gửi niềm tin, nỗi niềm, cầu mong “ban phát tài lộc, hóa giải hung hạn, ngõ hầu có một cuộc sống sung túc khỏe mạnh bình an” [31890;tr.220]. Chính tâm từ, niềm tin vào sức mạnh tuyệt đối của chân lí đã giúp bà Đội (Đứa con của thần linh) vượt qua được nghiệp chướng của cuộc đời, đó chính là sức mạnh của tâm linh xuất phát từ sức mạnh tinh thần của bà. Trong sự đau khổ, tuyệt vọng vì chồng chết, đứa con trai duy nhất nối dõi tông đường bị ngớ ngẩnmất trí, bà Đội đã đi theo sự dẫn dắt của tâm linh: “Ngẫm nghĩ lan man lúc ngẩng đầu nhìn về phía trước bà Đội bỗng nhận ra cổng tam quan chùa Đông hiện ngay trước mắt. Như có người chỉ đường dẫn lối bà bước vào cổng bên phải ngác ngơ đi dưới tán cây um tùm, hướng về phía tiếng mõ lốc cốc hòa quyện trong tiếng đọc kinh ngân nga của một vị hòa thƣợng”. Ý niệm đƣợc sự linh diệu của đấng quyền năng, bà Đội quỳ xuống khấn vái một cách thành khẩn: “Bà Đội lo sợ, chắp tay quỳ xuống khẩn khoản thưa: Bạch thầy! Con người trần mắt thịt không nhìn thấy Bồ TBát! Cầu xin thầy mở lòng từ bi cho con lời chỉ giáo mong hóa giải được nghiệp chướng” [31890;tr.219-220]. Lời khẩn cầu của bà Đội đã thể hiện niềm tin thiêng liêng trước Đức thế tôn, mong tìm được chốnnơi tu dưỡng tâm tính, giác ngộ giải thoát. Bà Đội thấu hiểu cõi phàm chỉ tạm bợ: “Tiền bạc, nhà cửa, ruộng vườn, địa vị cao sang… chỉ là những thứ hảo huyền vô nghĩa, không thể nào đem đến niềm vui cùng sự nhàn tản thƣ thái. Trái lại, nó trở thành nỗi bất hạnh khổ đau với bao hệ lụy, cầm tù kiếp người trong sự tham lam bần tiện, nham hiểm độc ác, ngập ngụa hằn thù”. Vì vậy, “Bà cảm thấy cửa thiền đã gắn bó với đời mình từ kiếp trước. Trở về Tây Lưu bà sẽẻ thu xếp ổn thỏa việc nhà, để mợ Gấm làm phụng sự dâu trưởng họ Đào, nuôi đứa cháu đích tôn

của bà khôn lớn kế nghiệp ngôi vị trưởng tộc. Bà sẽẻ ra đi tìm một ngôi chùa ở cách xa tổng Hà để dốc lòng tụng kinh niệm Phật” [31890;tr.221].

3.3.1.3. Tin vào sự tồn tại của linh hồn người đã chết (ông bà, cha mẹ, anh em, những người vì nghĩa cả) cũng là cách để họ người nông dân tìm về với với đời sống tâm linh. Người xưa quan niệm, con người có hai phần: phách và hồn. Khi con người chết đi, phách tan hủy cùng thể xác, hồn tách ra, bay vào khoảng không và có cuộc sống riêng biệt. Do đó, chết không phải là hết, mà chỉ tiếp tục sống một đời sống siêu nhiên, tinh thần, vì thế, người đã khuất luôn tồn tại, neo giữ trong ký ức người còn sống. Nếu không có chiến tranh, gia đình chị Nhân (Bến không chồng) sống hạnh phúc biết dường nào.

Nhưng chiến tranh đã cướp đi người chồng và hai đứa con yêu quí của chị. Dẫu vẫn biết, chiến tranh luôn hiện diện sự đau thương,phải có hi sinh, mất mất, nhưng không ngờ sự mất mát đó lại quá lớn lao đối với chị Nhân. Mất Chồng và con hi sinh nhƣ mất đi một phần đời của chị. Chị cảm thấy có lỗi với chồng, con nên tinh thần ngày càng suy sụp, nhƣ cái bóng không hồn. Hình ảnh người chồng và hai đứa con hiện về đêm đêm oán trách luôn lèn chặt, ám ảnh chị: “Chị cảm thấy mình hụt hẫng đi như người rơi tõm xuống một chiếc hố sâu thăm thẳm. Đêm chị nằm mơ thấy cả ba bố con nó dẫn nhau về oán trách.

Chị nhìn vào mắt chồng, mắt hai đứa con cứ cháy rực lên. Hạnh -– con gái chị Nhân đêm đêm cũng mơ thấy em trai (Hà) hiện về báo mộng. Mới nhập ngũ không đƣợc bao lâu, em trai Hạnh hi sinh ngoài chiến trường. Nhận được giấy báo tử, Hạnh khóc nức nở, thương nhớ, đau lòng vì đứa em trai yêu quí vĩnh viễn không về với người thân. Nhiều đêm Hạnh nằm mơ thấy giấy báo tử của em trai: “Gần sáng Hạnh thiếp đi và một giấc mơ khủng khiếp đến với Hạnh, Hạnh mơ thấy có giấy báo tử về xã nhƣng họ vẫn giấu Hạnh, Hạnh kêu thét lên, úứ ớ khóc” [27549;tr.145]. Những người thân thích chung sống nghĩa tình sâu đậm nên khi xa nhau, chết đi thường thương nhớ, ám ảnh không nguôi.

Trong Mảnh đất lắm người nhiều ma phản ánh vấn đề này ở góc nhìn khác. Bước vào làng Giếng Chùa, người đọc rùng mình, sờn gáy bởi một thế giới toàn ma: “ma người, ma sống”, “ma keo kiệt” như Quàng -– kẻ “làm một việc táng tận” lương tâm “chôn ông anh khốn khổ bằng bó chiếu” [27751;tr.63], ma quyền lực, dục vọng thật ghê tởm nhƣ những người trong hai cánh Trịnh Bá – Vũ Đình. Ma sống thực sự là nỗi kinh hoàng với con người, hợp lực cùng ma chết tác oai tác quái cuộc sống người dân. Đôi lúc ta không nhận ra đâu ma thật, ma giả nữa: “Người sống tàn sát nhau liên miên, người chết đã nửa thế kỷ còn đội mồ sống lại, cười nói xoe xóe…, hằng trăm oan hồn, mấy chục năm vẫn trà trộn với người sống, vật vã” [27751;tr.127]. Ngay cô Thống Biệu - người cao niên cuối cùng xóm Giếng Chùa chuyên sống bằng nghề yểm bùa, trị quỷ non một thế kỷ, bây giờ phải tự nhận mình đã hết phép, bất lực, bởi bùa giải “chỉ yểm đƣợc ma chết, chứ ma sống thì chịu”: “Ma còn đang đẻ sinh đôi sinh ba nữa cơ đấy… Xưa nay người ta chỉ sợ người chết chứ ai sợ người sống… Những người thân ngồi đấy mà cấm còn nhận ra ai nữa. Càng

102

nhìn càng thấy đúng là những ụ mối, những bao bì dựng ngƣợc, cái cao cái thấp lố nhố đầy nhà! Những con ma tham, ma ác từ đấy chui ra. Con nào cũng lành chanh lành chói mồm năm miệng mười, chả còn bùa đâu mà yểm cho xuể” [27751;tr.16-17]. Qua lời cô Thống Biệu, hàm ý “ma người” đã bóc trần bản chất mưu mô của cõi người đầy toan tính.

3.3.1.4. Thế giới tâm linh cũng xuất hiện khi con người rơi cũng xuất hiện khivà o người nông dân rơi vào trạng thái khủng hoảng, bất an.trạng thái khủng hoảng, bất an . Trước cõi tâm linh huyền diệu, con người nhận ra thái độ, hành vi ứng xử của mình đối với mọi người, tìm nơi bấu víu để an ủi, động viên, tiếp tục cuộc sống an nhiên. Ông Hàm (Mảnh đất lắm người nhiều ma) coi trời bằng vung, làm nhiều việc thất đức: đào mộ bố Phúc, nhẫn tâm đẩy vợ đến cái chết đầy thương tâm...). Cái chết của vợ (bà Son) luôn bị ám ảnh, đêm đêm mơ thấy vợ về gọi hồn, ông Hàm đã thắp hương đứng trước bàn thờ khấn vái trước vong linh, vì ông tin rằng “khi khấn, khi gọi hồn, người ở chốn dương gian chỉ cần nói thầm ra cửa miệng, nhưng phải gọi đúng tên, chỉ đúng người âm đang trú ngụ, là lập tức mạch thông tin giữa âm dương được nối liền” [27751;tr.388]. Chính sức mạnh tâm linh đã cảm hóa đƣợc ông Hàm, giúp nhận ra sai trái, lỗi lầm của mình.

Nếu nhƣ lão Bành (Đồng làng đom đóm) thay đổi tâm tính qua lòng tốt của Hữu, thì Tòng và Lường (Ma làng) chịu sự tác động bởi một sinh thể siêu hình: bóng ma. Trong thời gian làm chủ tịch xã, lão Tòng đồng lõa với Lường thực hiện nhiều phi vụ “độc ác, mưu mô giết người, chặn của, kéo cánh, kéo bè gây bao oán hận trong làng xã”

[30173;tr.157]. Sau khi mẹ thằng Nghiệp chết, hồn ma của bà cứ hiện về ám ảnh, đeo bám lão Tòng. Một lần, lão đến nhà Lường bày mưu tính kế hãm hại cánh nhà anh Tâm, khi ra về đến cống Đõ, hồn ma mẹ thằng Nghiệp lại xuất hiện: “Đến chỗ gò Quả khắp người lão lạnh toát, hai bàn chân lão nhƣ bị lụt sâu xuống đất, mắt lão nhòe nhoẹt khi nhìn thấy trên nấm mộ mẹ thằng Nghiệp những vòng hoa đỏ chói. Lão quẳng bao thuốc sâu gồng mình co cẳng chạy. Cứ thế lão chạy thục mạng khi thấy những vòng hoa đỏ chói cứ lăn theo”

[30173;tr.144]. Sau lần ấy, lão Tòng chết thê thảm: “Lão Tòng đảo mắt nhìn, hai tay lão cố ngoi ra nắm lấy tay ông Tĩnh. Nhƣng không kịp nữa rồi, toàn thân lão tự nhiên vồng lên cong như cái vỏõ đỗ, lão rãy rụa rồi thở ra hồng hộc…, anh Lường nhẹ tay vuốt lên hai tròng mắt lão. Lạ, đôi mắt không khép lại mà cứ trợn trừng nhìn” [30173;tr.146]. Lão Tòng chết, Lường xác định ngay vị trí để cũng cố địa vị dòng họ, mặc dù trong tâm trí Lường có sự xuất hiện giao động báo hiệu sự đổi thay: “Đến đầu chỗ cống Đõ tóc gáy Lường rợn lên, Lường sực nhớ chuyện trắng đen trong cái chết của ông Thệ sau bữa rượu thịt dím ở nhà chú Tòng về”, nhưng Lường còn vẫn toan tính “chuyện đánh đấm sẽ kiểm điểm và cho anh Tâm lên thớt ngay. Trời đất phù hộ ta rồi đấy. Lường cười thầm”

[30173;tr.150-151]. Linh ứng trong tâm hồn Lường báo hiệu trước sự bất ổn, đổ vỡ trong dòng họ phe cánh do có sự tranh chấp món tiền lấy đƣợc từ công quỹ và số vàng lão Tòng

Một phần của tài liệu Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết việt nam về nông thôn từ 1986 đến nay (Trang 105 - 125)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(212 trang)