Ngôn ngữ cuộc sống đời thường, nhiều màu sắc

Một phần của tài liệu Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết việt nam về nông thôn từ 1986 đến nay (Trang 125 - 142)

Chương 4 PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY

4.1. Ngôn ngữ nghệ thuật

4.1.1. Ngôn ngữ cuộc sống đời thường, nhiều màu sắc

Thực ra, đối với nhà văn, nhiệm vụ cá tính hóa ngôn ngữ là rất quan trọng. Tiểu thuyết viết về nông thôn lấy người nông dân làm trung tâm, cho nên vận dụng như thế nào để làm bật lên hồn quê, cốt cách quê và cả cái hiện thực phức tạp ngồn ngộn ở thôn quê, đòi hỏi nhà văn quá trình lao động nghệ thuật nghiêm khắc. Tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn nàysau 1986, ở một góc độ nào đó, đã đáp ứng đƣợc yêu cầu thẩm mĩỹ này của người đọc.

4.1.1.1. Nhằm miêu tả hiện thực đời sống nông thôn và người nông dân một cách chân thực, nhƣ nó vốn có, ngôn ngữngôn ngữ trong tiểu thuyết viết trong tiểu thuyết viết về nông thôn ông thôn giai đoạn này đã thoát ly đã thoát ngôn ngữly sự chuẩn mực, trang trọng, thay vào đó là thứ để trở về với nNgôn ngữ ruộng đồng, gần gũi lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân: ruộng đồng, gần gũi lời ăn tiếng nói hằng ngày. Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Lão Khổ, Ao bèo gợn sóng… đã “ghi lại”

đúng lời ăn tiếng nói của người nông dân: chân chất, mộc mạc, thô ráp, đôi khi đôi khisuồng sã, tục tĩu..

Trước hết, Ngôn ngữ đời thường thể hiện đời thường biểu hiện trong việc các nhà văn vận dụng những sử dụng đại từ xưng hô, gọi tên nhân vật rất thân mật, thậm chí suồng sã. rất thân mật, thậm chí suồng sã, bỗ bã. Trong giao tiếp, dù quen hay lạ, thân hay không thân, cách xưng hô của người nông dân xưng hô, gọi tên nhau rất “tự nhiên như nhiên”,vẫn

118

không khách khí, không đón trước rào sau. , “tự nhiên như nhiên” Những lớp đại từ nhưư mày, tao, hắn, thằng, bố thằng cu, thằng ngốc, hắn, thằng chó,… Lớp đại từ này chủ yếu đƣợc phát ra từ các cuộc đối thoại, lời chửi đổng, chửi thề... Chẳng hạn,, cuộc đối thoại giữa Lường và Hò (Ma làng): “Tưởng ai, hết cả vía, anh đi đâu mà lủi thủi một mình? - Thế chú ngồi đấy làm gì? Hay lại hồi xuân với chị Ló? - Anh mày nói thế, tội cho chú! Chú nấp ở đây là giữ chân thằng Hẹn nhà mình. Anh chƣa biết à? Thằng này thật đốn mạt, nó rình rập, chọc ghẹo con Lở… Con mẹ Ló nó biết… Nó có biết cái Lở là em của nó đâu”

[30173;tr.158-159]. Ngay Vương (Dưới chín tầng trời) đượccó học hành, đào dưỡng nuôitạo trong môi trường quân đội, nhưng diễn ngônlời nói lại rất chất phác, mộc mạc, vẫn mang cốt cách của người nông dân: “Tao mới phát hiện ra dãy núi bên kia có cả đơn vị vận tải của tỉnh đội toàn con gái, nhiều đứa trông cũng hấp dẫn lắm. Đã một lần tao tình cờ nhìn thấy các nàng tắm truồng dưới suối, trông đứa nào cũng ngồn ngộn sướng đếch chịu nổi.

Tao đã buông câu đƣợc một em trông đẹp mê hồn. Chuyện bí mật, bữa nào tao mồi cho mày một đứa” [30274;tr.133]. Cách xƣng hô, Cách gọi tên cũng chất phác, mộc mạc, mang sắc thái in đậm dấu ấn vùng miền rõ nét.. Trong Dòng sông chở kiếp, tác giả đặt têncác nhân vật sử dụng những đại từ để xƣng hô, gọi tên với những cái tên quen thuộc, mang đậm dấu ấn văn hóa miền Bắc nhƣ con đĩ Nhụ, cu Sơn, con đĩ Thị, tổng Cò, cụ Cờ, thầy đồ, nhà Bân, cụ Cật, u, thầy… Ví dụ: “Chị đĩ Nhụ vừa thổi lửa vừa nhấm nhẳng với cụ Cờ… Trong lòng chị đĩ Nhụ thương những con người nhà chồng lắm… U ăn cho nóng. Dễ thường u sắp sinh em rồi, cố ăn còn lấy sức mà rặn” [31284;tr.17-18]. Những từ tình thái -– lớp từ chuyên biểu thị ý nghĩa tình thái trong phát ngôn nhƣ nhá, ạ, nhỉ, à, kìa… cũng đƣợc các tác giả đƣa vào câu văn. Ví dụ nhƣ: “Vừa nãy cháu mang công văn lên, còn thấy bác ấy ngồi xem báo đấy ạ!... Em sang mời bác ấy sang đây nhá!... Thôi thì để mình sang.

Cô Lập bảo nhà bếp nấu thêm cho tôi suất cơm nhé!” [31082;tr.173].

Người nông dân thường ít bị ràng buộc trong việc sử dụng ngôn ngữ như những So với các thành phần xã hội khác, trong ăn nói, người nông dân ít bị ràng buộc nên trong giao tiếp hằng ngày hết sức hồn nhiên, bộc trực. Ngôn ngữ “chợ quê, đường quê”, chửi thề, văng tục của người nông dân được các nhà văn viết về nông thôn vận dụng một cách đắc địa, góp phần thể hiện sinh động hiện thực nông thôn, khẳng định cá tính riêng của người dân quê. đậm chất đời thường cũng chính là một phạm trù thẩm mĩ, có lực hút ghê gớm nếu đặt đúng chỗ. Lão Khổ, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Ba người khác… vận dụng một cách đắc địa, góp phần thể hiện sinh động hiện thực nông thôn, khẳng định được cá tính riêng của người nông dân. Chỉ vì những chú gà, chú chó không biết phân biệt ranh giới trên cái sân gạch thênh thang của gia tộc Hoàng Kỳ (Dưới chín tầng trời) đƣợc chia làm năm phần cho năm gia đình trong thời cải cách ruộng đất, nên khiến “gà nhà nọ ăn thóc rồi ỉa ra phần sân của nhà kia…, thóc nhà nọ lẫn lộn với khoai nhà kia” nên đã nảy

sinh mâu thuẫn, chửi bới nhau ỏm tỏi: “Thằng Đào Vương tức khí hung hăng vác đòn gánh phang chết tươi con gà nhà cô Lùn đang ăn thóc nhà nó. Cô Lùn đứng giữa sân chửi:

tiên sư cái đồ ác nghiệt, thằng bố thì giết người không run tay, thằng con thì hung hăng đập chết gà người ta. Giọng cô Lùn rít lên, từ nay con chó mực kia mà mò xuống đây bà đánh bả cho chết. Đồ chó đen phản chủ. Cô Cam xông ra giữa sân, giạng chân, hai tay chắp nách, phƣỡn cái bụng to kềnh càng chõ về phía nhà cô Lùn rủi: Cái con Lùn ế chồng kia! Mày nói mà không ngượng lỗ mồm, chẳng thằng đàn ông nào nó rước nên ganh ghét chửi càn. Loại không chồng, không con chết không có người thắp hương” [30274;tr.114].

Dòng họ Trịnh Bá (Mảnh đất lắm người nhiều ma) gửi đơn kiện lên ủy ban xã về việc Phúc gian díu với bà Son. Sự việc lan tỏa “nhƣ một đàn liu điu thóc mách bay báo tin khắp các ngõ ngách” nên anh em dòng họ Vũ Đình đấu khẩu, cãi nhau ầm ĩ. Trong lúc cãi vả, bà Dần -– vợ Phúc “nhƣ con cọp cái, nhảy thách lên, lao ra ngõ” thốt ra những lời lẽ vốn “chất chứa và sôi sục” trong người từ lâu: “Cha đẻ mẹ thằng đàn ông, con đàn bà nào quen bán không chịu mua, quen vay đầy giả vơi đã đẻ ra đứa con có mồm mà nói điêu, có mắt mà nói mò là mày!” [27751;tr.315]. Cảnh bà Kha (Bến không chồng) chửi đổng:

“Sáng ra bà Kha nhìn vườn chuối, bà tru tréo: Cha bố thằng nào sấp mặt hại tao. Tao ăn ở hiền lành mà bỗng dƣng nó phá”. Thím Ngô thấy bà Kha chửi cũng nhảy ra sân la lối:

“Tao biết rồi, biết rõ cái mặt nó rồi. Tao nguyền rủa ba đời nhà nó ốm dần ốm mòn. Nó hại tao thì có trời trị tội nó. Cả nhà nó sẽ điên…” [27549;tr.186]. Tội nghiệp, và cảm thương cho những mảnh đời của những ngườinhững người phụ nữ làng Đông quanh năm với những lo lắng vụn vặt đời thường. Cuộc đời lão Khổ (Lão Khổ) là một tấn bi kịch. Tàn cuộc chơi, lão mất hết, lão chua chát, ngán ngẫm số kiếp bèo bọt, nhận ra cuộc đời “đầy chó đểu” nên lão đã coi khinh cuộc đời này. Lão vì thế đã tỏ bày thái độ qua những câu chửi thề tục tĩu, đầy bất mãn: “Ta xé toạc móng heo ra nhé. Ta coi anh chẳng qua nhƣ thứ rẻ lau chân hoặc lau cái gì nữa thì tùy…, nếu người ta cần. Danh vọng, bổng lộc, tiền tài cho đến cả đàn bà… ở tuổi ta cũng chẳng khác gì cứt. Dây vào đâu thối đấy. Còn cái thứ anh…, rửa đít chƣa sạch, ngủ với vợ chƣa thạo” [28861;tr.55-56]; “Thế ra đời mình chỉ toàn bỏ đi -– lão nghĩ -– Mẹ kiếp! Mẹ kiếp! Đã thế ông đếch thèm sống nữa” [28861.tr.7],

“Ô hô…, lại vẫn muốn thế này nó ra thế kia! Đã vậy ông mày đéo chết nữa” [28861;tr.11].

Bà Khổ cũng vậy, người đàn bà chân quê nên nói năng cũng suồng sã, tục tĩu: “Ông Nhực hết đời vì ông không biết nghe tôi một lần. Cái hồi sửa sai đã bảo đái vảy vào, quan với tước cho thêm nặng trĩu. Giá cứ chăn vịt cũng không khổ thế này”. Bà Khổ còn là người đanh đá, chua ngoa: “Cha sƣ bố nó chứ đời! Những thằng Ngô và những con đĩ thì mũ áo xeng xang. Cha bố nó chứ đời” [28861;tr.36].

Ngay nơi chốn thiêng liêng, thành kính nhất (điện thờ) có những kẻ nhƣ đám con cháu cụ Chánh họ “Tạ Tự Ất Chi” ở làng Đồng Trƣa (Lão Khổ) vẫn ngang nhiên văng tục

120

chửi thề ngay trước bàn thờ nhân ngày húy cụ tổ: “Cha tông ngôn bố thằng trời đánh, mày để dái mày vào mặt các cụ đấy à?”, “Thằng nào đánh tiết canh thế, khác đéo gì của vợ mày… Thôi, tế sớm cho khỏi ruồi. Đứa nào có sức thì tọng đi” [28861;tr.77].

Không những thế, đám con cháu hậu thế còn nhắn gửi người quá cố: “Ông còn thiêng thì quản lũ âm binh hộ tôi. Mẹ kiếp! Sợ vãi đái ra cả quần” [28861;tr.126]. Nhƣ vậy, qua ngôn ngữ, độc giả nhận biết được tính cách, văn hóa, đạo đức của từng người nơi chốn quê ấy. Nói như nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: “Ngôn ngữ phản chiếu con người rất rõ. Ngôn ngữ thế nào, tâm hồn thế ấy” [28861;tr.50].

Một số người đọc “truyền thống” tỏ ý quan ngại, khó chịu, thậm chí chỉ trích, lên án về tính thẩm mĩ của lớp ngôn ngữ này. Ví dụ đoạn văn tả lời và hành động của một cán bộ cải cách ruộng đất trong Ba người khác: “Vợ đội trưởng Cự đã bước vào nền đất thềm nhà:

Chào… Duyên đã lao ra túm tóc, dìm xuống: “Tiên sƣ con đĩ! Bà xé xác con đĩ”. Ả nọ chƣa kịp biết thế nào đã bị ngã huỵch lƣng vào chiếc cột tre nhƣ cây dừa đổỗ, cả cái nhà rung răng rắc chao đi. Đơm cũng vừa lăn xả tới. Tiếng chửi, tiếng đấm đạp huỳnh huỵch, tiếng xé quần áo rợn tai. Ả nọ chết dí không ngoi đầu đƣợc. Duyên ngồi cƣỡi lên – “Mày mà kêu thì bà nhét cứt vào mồm!”. Người đàn bà bị hai người nắm tóc dằn xuống ngồi phệt vào mặt, cứ xoay nhƣ cối xay, tiếng ngạt ú ớ” [30375;tr.188]. Lời nói của lão Nhinh (Dưới chín tầng trời) trong buổi phát động phong trào gây quỹ khuyến học ở làng Đoài. “Tao móc đâu ra tiền mà cho cái lũ trẻ ranh làng này, toàn loại ba que mách qué, học thì dốt như bò lại tinh tướng. Đấy nhìn thấy đứa con nhà Miêu, con nhà Thoại cậy có tí chữ chạy chọt vào được cơ quan nhà nước về làng vênh cái mặt lên không thèm chào hỏi ai. Mẹ kiếp, học hành nhƣ loại ấy vào đƣợc cơ quan nhà nước cũng lại tìm cách đục khoét tiền dân thôi” [30274;tr.467]. Hay lời nói suồng sã, trắng trợn của mụ Hơn (Bến không chồng) khi mụ tán tỉnh Nguyễn Vạn: “Bác với em cứ nhƣ mặt trăng mặt trời chán bỏ mẹ. Bác thừa hiểu tầm tuổi em bây giờ có mà vui thú với ma.

Có muốn cũng chẳng ma nào ngó tới. Ở làng này gái tân kia còn ế đầy ra đấy” [27549;tr.189].

Tuy nhiên, Chúng tôi thiết nghĩ, ngôn ngữ thô sơ, trần trụi chính là cái “lẽ đời” nơiở chốn quê.

Nó là một phạm trù thẩm mĩ và có lực hút mạnh nếu đặt đúng chỗ. Chính ƣu điểm ấy, các nhà văn viết về nông thôn, Nhà văn muốn lưu giữ chất sống sinh động ấy trên trang viết của mình.

Họ đã không ngừng tìm tòi, thể nghiệm biểu hiện lớp ngôn ngữ “nhà quê” đónày, góp phần lột tả chân thực đời sống xã hội nông thôn và người nông dân trên phạm vi rộng hơn.

Phương ngữ (ngôn ngữ địa phương) cũng được thể hiện rõ nét. Mỗi một vùng miền có cách phát âm khác nhau, vì thế, nhà văn đã tôn trọng cách sử dụng ngôn ngữ riêng của từng vùng miền đó bằng cách ghi lại đúng cách phát âm của nhân vật. Đọc Mảnh đất lắm người nhiều ma, người đọc sẽ nhận ra dấu ấn phương ngữ Bắc bộ. Chẳng hạn: “Hôm nay em sắp cơm canh quấy quá, nhớ cụ cháu. Nuôi đƣợc con cầy béo quá, mà mấy anh em thợ

vụng nàm hỏng mất bộ nòng. Bố nó xem có phải hâm nại canh không”[50;tr.127]. “Nó định bôi gio trát trấu vào họ Trịnh nhà này, dắng lại không liên quan đến bà” [51;tr.320].

Vận dụng khéo léo ngôn ngữ đời thường - lời ăn tiếng nói của người nông dân, các tiểu thuyết gia viết về đề tài này đã thể hiện thái độ yêu thương người nông dân, trân trọng ngôn ngữ truyền thống, góp phần làm mới ngôn ngữ dân tộc.

Phương ngữ (ngôn ngữ địa phương) cũng được thể hiện rõ nét. Mỗi một vùng miền có cách phát âm khác nhau, vì thế, nhà văn đã tôn trọng cách sử dụng ngôn ngữ riêng của từng vùng miền đó bằng cách ghi lại đúng cách phát âm của nhân vật. Đọc Mảnh đất lắm người nhiều ma, người đọc sẽ nhận ra dấu ấn phương ngữ Bắc bộ rõ nét. Chẳng hạn:

“Hôm nay em sắp cơm canh quấy quá, nhớ cụ cháu. Nuôi đƣợc con cầy béo quá, mà mấy anh em thợ vụng nàm hỏng mất bộ nòng. Bố nó xem có phải hâm nại canh không”[50;tr.127]. “Nó định bôi gio trát trấu vào họ Trịnh nhà này, dắng lại không liên quan đến bà” [277;tr.320].

4.1.1.2. Ngôn ngữ đời thường còn thể hiện trong việc sử dụng Chất liệu dân gianNgôn ngữ đời thường còn thể hiện trong việc sử dụng chất liệu dân gian như thành ngữ, tục ngữ, ca dao, hò vè, những cách nói ví von, so sanh… : thành ngữ, ca dao, hò vè, những cách nói ví von, so sánh… Nhiều thành ngữ, tục ngữ đƣợc vận dụng một cách tự nhiên, uyển chuyển, hợp lí, phù hợp với môi trường sống và phong cách giao tiếp của người nông dân. Tục ngữ, thành ngữ ữ… vốn là kho tàng kinh nghiệm sống của người nông dân xƣa và nay. Nó có đặc điểm ngắn gọn, dễ đọc, dễ nhớ, dễ thuộc, chứa đựng nhiều tâm tư, tình cảm, vì thế người nông dân thường sử dụng linh hoạt trong giao tiếp hằng ngày. Trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, Bến không chồng, Lão Khổ, Dòng sông Mía, Dòng chảy đất đai… yếu tố dân gian hóa trong ngôn ngữ đƣợc các tác giả vận dụng một cách tự nhiên, uyển chuyển, hợp lí, phù hợp với môi trường sống và phong cách giao tiếp của người nông dân. Đọc Mảnh đất lắm người nhiều ma, Bến không chồng, Lão Khổ, Dòng sông Mía, Dòng chảy đất đai… sẽ thấy tần xuất xuất hiện tục ngữ, thành ngữ rất lớn. Chẳng hạn, trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, với độ dày hơn 400 trang nhƣng số lƣợng , nhƣng số lƣợng thành ngữ lại chiếm rấtsố lƣợng lớn trong các trang văn. Chúng tôi không thể liệt kê hết số lƣợng hiện có trong tác phẩm, nhƣng thử lật bất cứ trang văn nào cũng có một vài thành ngữ mà tác giả đã vận dụng*. Nhiều khi, trong một đoạn văn ngắn, có đến vài thành ngữ nhƣng độc giả vẫn không cảm thấy gò bó, trái lại nó góp phần kiệm lời, chứa đựng nhiều tầng nghĩa khác nhau. Đoạn văn miêu tả cảnh sau khi chôn cất lão Quềnh, ông thợ đấu cao tuổi lầm bầm khấn trước vong linh: “Tạ vong linh bác Quềnh, sinh có nhà, tử có mồ. Hôm nay chúng tôi sửa sang lại chỗ ở cho bác đây. Bác sống hiền thác lành, phù hộ độ trì cho anh em liền khúc ruột, cho làng xóm láng giềng chúng

122

tôi”[27751;tr.71]. Hay miêu tả cảnh người dân xã Thượng Lâm (Dòng chảy đất đai) tức giận kẻ cướp đánh trọng thương Nguyễn Tiến Thịnh - vị chủ tịch vì dân, vì quê hương giàu đẹp: “Đêm ấy. Đêm Thượng Lâm thức trắng. Người già sinh ngẫm ngợi… Đời cụ nó, đời ông nó và bố nó điều khổ. Nay cuộc đời thay đổi thì người ta lại nỡ làm hại nó. Người đời vẫn bảo “Đời cha ăn mặnnặn, đời con khát nước”. Mà đâu phải thế. Đời ông cha người ta khổ rồi, thì đời con, đời cháu phải được sung sướng chứ. Sao thế nhỉ? Người đời cũng dạy: “Chữ nhân, chữ đức là lương thức của con người”. Rằng “Có phúc thì có phần... Rằng, ở lành thì gặp hiền. Ở dữ thì xửgặp dữ. Gieo gió thì gặp bão… Người ta cầu trời cầu đất; cầu trời đánh thánh vật kẻ gây tội; chỉ mặt chỉ tên, chỉ danh chỉ diện kẻ xấu ở Thượng Lâm cho dân làng trừng trị” [32193;tr.112-113]. Người nông dân thường hay vận dụng thành ngữ nhằm để thể hiện thái độ, cách ứng xử và tình cảm, tâm trạng của họ đối với những vấn đề từ cuộc sống, nhân sinh. Khi Trịnh Bá Hàm (Mảnh đất lắm người nhiều ma) bị bắt giam vì tội đào trộm mả, người dân làng Giếng Chùa tỏ thái độ dè bỉu, người yêu Đào im lặng đến khó hiểu, làm Đào bực tức: “Đây chƣa chết đâu mà đã vội múa tay trong bị! Đào sẽ lên xã, trước bàn dân thiên hạ để nhìn rõ những ai đang hí hửng, giậu chưa đổỗ mà bìm đã leo. Đồng thời Đào lên đấy để nhìn mặt cái người đã ném đá giấu tay kia, xem anh ta thỏa chí đến mức nào!” [27751;tr.173].

Để tạo sắc thái ý nghĩa, các tác giả vận dụng với nhiều hình thức khác nhau. Có lúc đƣa “nguyên xi” mà không hề gọt giũa: “Ở vùng đất màu mỡ mới thuần, lại cần kề dòng sông, nhất cận thị, nhị cận giang nhiều người đổ xô đến dựng dò kéo mật”[29164;tr.36];

“Ông bố Hàm – Trịnh Bá Hoành lại cày sâu cuốc bẫm để dựng lại cơ đồ Miếng ăn giữa làng hơn sàng xó bếp” [27751;tr.95]. Có lúc cải biến (bằng cách thay đổi trật tự từ, thêm bớtmột vài từ, mượn ý) tạo thành trường nghĩa làm lạ hóa câu văn. Ví như đoạn văn miêu tả cảnh Trịnh Bá Hoành trước lúc chết trăn trối với con trai Trịnh Bá Hàm: “Nó đã dám bạo nghịch dẫm đạp lên cả gia bảo nhà ta, thầy ân hận là chƣa đòi cái món nợ ấy đƣợc vì chƣa gặp dịp… Đấng nam nhi có khi lấy đĩ về làm vợ để dạy, nhưng không được để vợ làm đĩ! Anh chỉ đƣợc phép tha riêng vợ anh thôi”[27751;tr.78], hoặc câu “Cốc để xơi” [29769;tr.105]. Hay đoạn văn miêu tả cảnh sau khi Tùng hết hạn nghĩa vụ trở về xóm Giếng Chùa, Tùng đến gặp Thủ - phó bí thư thường trực xã nộp giấy chuyển sinh hoạt Đảng, nhƣng Tùng biết tính của Thủ hay móc máy nên khi Thủ nói: “Mới có vài năm mà xóm làng đã ngói hóa đỏ cả”, thì Tùng đã tiếp lời “Nhƣng nhà tôi thì vẫn nhà tranh vách đất. An cƣ mới lạc nghiệp. Không có cái nhà hẳn hoi, mƣa gió không yên, mà bà con dân làng cũng khinh cho” [27751;tr.105].

Ca dao, hò vè, đồng dao cũng đƣợc các nhà văn viết về nông thôn vận dụng rất thường xuyên, tinh tế, linh hoạt trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, Dòng sông Mía

Các tác giả sử dụng ca dao, hò vè, đồng dao như một phương thức nghệ thuật, làm tăng

Một phần của tài liệu Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết việt nam về nông thôn từ 1986 đến nay (Trang 125 - 142)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(212 trang)