Giọng điệu giễu nhại, châm biếm

Một phần của tài liệu Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết việt nam về nông thôn từ 1986 đến nay (Trang 146 - 155)

Chương 4 PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY

4.2. Giọng điệu nghệ thuật

4.2.2. Giọng điệu giễu nhại, châm biếm

Sự xuất hiện giọng điệu giễu nhại, hài hước trong tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này chính là thành quả của thao tác tư duy nghệ thuật hướng tới việc xóa bỏ khoảng cách sử thi trong trần thuật; đồng thời khơi lại nguồn mạch trào tiếu vốn đã có trong văn học dân gian, từ đó khẳng định tính ƣu việt, sự năng động của thể loại tiểu thuyết.

4.2.2.1. Trong Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội, giọng điệu hài hước, giễu nhại được thể hiện đậm nét, trở thành thủ pháp nghệ thuật chủ đạo. Giọng điệu hài hước, giễu nhại được thể hiện đậm nét trong Thời xa vắng, Dưới chín tầng trời. Lê LựuTrước hết, tác giả sử

dụng giọng điệu này chủ yếunày nhằm nhận thức lại, đánh giá lại mọi thứ (Bakhtin) về lịch sửlịch sử nông thôn và người nông dân. Trong Thời xa vắng, giọng điệu giễu nhại, hài hước trở thành thủ pháp nghệ thuật chủ đạo. Trong Thời xa vắng, tTác giả không chỉ giễu quá khứ mà còn giễu ngay cái thực tại đang sống. Một thực tại đã lỗi thời, không còn phù hợp với đời sống nông thôn do sự trói buộc của những tư tưởng, quan niệm xưa cũ, lạc hậu;

trong khi người nông dân cố gắng thay đổi quan niệm, tư tưởng để chạy theo cuộc sống xô bồ, hỗn độn. Những cái kệch cỡm, rởm đời, lố lăng đó đều bị tác giả nhận thức lại, bị cười cợt và đƣợc tống tiễn “một cách vui vẻ” ra khỏi đời sống sinh hoạt. Cuộc họp của gia đình ông Đồ Khang và cảnh đám tang của cụ Đồ là hai màn hài kịch tiêu biểu nhất. Người đọc vang lên tiếng cười hả hê, bi đát trước sức mạnh của đồng tiền, trước những quan hệ giáo điều đạo đức giả và lối sống thực dụng, trọng danh hơn trọng thực: “Nườm nượp đông đúc sự tiếc thương, kính trọng, sự linh thiêng của mất, còn tỏa ra từ đám tang cụ đồ. Nhưng cũng còn cơ man nào là người không biết từ huyện xã nào ngơ ngác và thậm thụt, cung kính và cười cợt, nghênh ngang và khúm núm, họ là vô số người chưa hề biết cụ đồ là ai, cũng không phải vì lòng ngƣỡng mộ một gia đình cách mạng, một cuộc sống mẫu mực hoặc là vì sự yêu mến thân thiết người em, người con của cụ. Họ đi đám chỉ vì không đi sẽ không tiện.

Thành ra không phải họ đi đƣa cụ đồ mà là đƣa đám ông Hà đã về làm bí thƣ huyện ủy đƣợc nửa năm nay và đƣa đám anh Tính ủy viên trực phụ trách nội chính của ủy ban hành chính huyện. Có người đến ngay từ chiều hôm kia, khi vừa phát tang. Ở ngoài đường họ đùa nghịch huyên náo, vào đến nhà họ lặng lẽ nghiêm trang. Ở ngoài đường họ còn dò la xem phong tục làng này ra sao, vào đến nhà họ thành thạo mọi nghi lễ và làm mọi việc tự nhiên như một người chủ. Họ phải liếc mắt xem thắp hương và khấn vái vào lúc nào, đứng ở đâu để ông Hà hoặc Tính chứng kiến nỗi lòng đau khổ, cung kính của họ…” [26336;tr.205- 206]. Người đọc bắt còn gặp những màn bi hài kịch cười ra nước mắt trong Chuyện làng Cuội. Đó là cảnh người dân đón chào quan tỉnh trưởng “giá đáo” về làng Cuội: “Từ nửa đêm, dân các làng đã được thúc ra miếu ông Cuội điểm mục xem đã đủ đầu người được phân bổ chƣa? Điểm mục xong, phải xếp hàng thử. Đứng thử, ngồi thử, hoan hô thử, vẫy cờ thử, cả nhỡ khi bí quá không chịu được, cũng phải thử cách đi đái, đi ỉa trước mặt quan như thế nào mà không lộn xộn, không được để quan thấy… Các cụ già tưởng chỉ giống trẻ con hay dỗi, hóa ra cả cái bệnh đi đái cũng giống nhau. Các cụ đứng khoanh tay, trẻ con thì cầm cờ vàng ba sọc đỏ quay đi, “tương” ngay bờ cỏ rồi vội vàng nhét nó vào chỗ cũ, quay lại thản nhiên nhƣ không hề có chuyện gì xảy ra. Cả các cụ và các cháu đều làm việc đó bốn năm lần mà vẫn chƣa thấy quan lớn” [60;tr.145-146]. Đó là màn hài kịch đầy dí dỏm, tếu táo của bí thư đảng ủy chỉ đạo người dân làng Cuội bán chuối: “Nghe đâu chuyện đó có được thường vụ và ủy ban “rút kinh nghiệm”. Thế là hết chuyện thứ nhất theo cách nói của anh đội Quyền thì: “Đấy, nó là nhƣ thế” [60;tr.421-422]. Tuy nhiên, tác giả giễu không

140

nhằm mục đích tạo ra tiếng cười hả hê như bậc tiền bối Vũ Trọng Phụng, mà lặn vào trong tiếng cười là cả một tấm lòng yêu thương, sẻ chia của nhà văn đối với người nông dân và cõi nhân sinh.

Lê Lựu không chỉ sử dụng giọng điệu này để thể hiện một thế nhìn về hiện thực nông thôn trong quá khứ/hiện tại, mà còn dùng để lật tẩy, soi rọi bản chất, tính cách của người nông dân. Độc giả còn bắt gặp những màn hài hước, trào tiếu này trong Chuyện làng Cuội. Đó là màn bi hài kịch cười ra nước mắt về cảnh người dân đón chào quan tỉnh trưởng “giá đáo” về làng Cuội: “Từ nửa đêm, dân các làng đã được thúc ra miếu ông Cuội điểm mục xem đã đủ đầu người được phân bổ chưa? Điểm mục xong, phải xếp hàng thử.

Đứng thử, ngồi thử, hoan hô thử, vẫy cờ thử, cả nhỡ khi bí quá không chịu đƣợc, cũng phải thử cách đi đái, đi ỉa trước mặt quan như thế nào mà không lộn xộn, không được để quan thấy… Các cụ già tưởng chỉ giống trẻ con hay dỗi, hóa ra cả cái bệnh đi đái cũng giống nhau. Các cụ đứng khoanh tay, trẻ con thì cầm cờ vàng ba sọc đỏ quay đi, “tương”

ngay bờ cỏ rồi vội vàng nhét nó vào chỗ cũ, quay lại thản nhiên nhƣ không hề có chuyện gì xảy ra. Cả các cụ và các cháu đều làm việc đó bốn năm lần mà vẫn chƣa thấy quan lớn”

[287;tr.145-146]. Đó là màn hài kịch đầy dí dỏm, tếu táo của bí thư đảng ủy chỉ đạo người dân làng Cuội bán chuối: “Nghe đâu chuyện đó có được thường vụ và ủy ban “rút kinh nghiệm”. Thế là hết chuyện thứ nhất theo cách nói của anh đội Quyền thì: “Đấy, nó là nhƣ thế” [287;tr.421-422]. Tuy nhiên, tác giả giễu không nhằm mục đích tạo ra tiếng cười hả hê như bậc tiền bối Vũ Trọng Phụng, mà lặn vào trong tiếng cười là cả một tấm lòng yêu thương, sẻ chia của nhà văn đối với người nông dân và cõi nhân sinh.

Lê Lựu không chỉ sử dụng giọng điệu giễu nhại, hài hước để thể hiện một thế nhìn về hiện thực nông thôn trong quá khứ/hiện tại, mà còn dùng để “lật tẩy”, soi rọi bản chất, tính cách của đối tượng. Tác giảTác giả mạnh tay “sổ toẹt” những người nông dân trí thức giả cầy nhƣ Lão Quyền, anh Nạc (Chuyện làng Cuội). Quyền - cán bộ cải cách luôn khoe giỏi văn hóa, thông lịch sử nhƣng lại mù chữ, ngu dốt, đần độn, hỏng kiến thức đến giật mình: “Thằng tướng Ca-di và thằng Tắc-xi (De Castries và Delattre de Tassigny) đã thua thì nay thằng A Xu Hao (Aixenhao)?) có to đến mấy thì to cũng không xui thằng Ngô Đình Diệm đánh nước ta. Đấy nó như thế. Điểm thứ hai: Xưa kia dân ta bị một cổ ba vòng (ba tròng) phong kiến là đế quốc Pháp là Nhật, địa chủ là phú nông đã đè lên đầu bắt dân ta phải cúi xuống, dân ta vẫn cứ ngóc đầu dậy đƣợc thì bây giờ đã đƣợc thoát ra cả ba cái vòng rồi bà con bần cố ta phải vùng lên đấu tranh. Đấy nó nhƣ thế. Điểm thứ ba: Đảng ta rất sản xuất (có tiếng nhắc là sáng suốt. Anh đội Quyền nghiêm mặt lại) tôi nói là Đảng ta rất sản xuất lãnh đạo… Anh vừa nói xong thì ở một góc nào đó có tiếng nói to Thƣa đội, nên nói phong kiến và đế quốc, Pháp và Nhật, vì nước Pháp ở bên Tây mà nước Nhật ở bên đông, hai nước này khác nhau đấy ạ” [28760;tr.190-191]. Anh chàng Nạc làm văn hóa

xã, phụ trách mảng văn hóa văn nghệ (thơ văn, nhạc họa, sách báo) nhƣng trình độ thấp kém, chuyên môn yếu, lại lên giọng dạy dỗ thiên hạ, phán đại loại kiểu: “Thằng nhà thơ lại đọc thơ của tay Nguyễn Du nào đấy làm thơ ca ngợi con gái dám trèo tường đi quan hệ bất chính. Nghe rất ủy mị sướt mướt có tính chất khêu gợi chuyện nam nữ lăng nhăng.

Hành động của chúng không những sặc mùi phản động mà còn phá hoại tinh thần và ý chí của hàng mấy chục nam nữ thanh niên ngồi nghe”. Anh chàng này vì thế đi đến kết luận rằng “chú xem tay Nguyễn Du nó công tác ở đâu nên có công văn của huyện ủy đề nghị trên xử lý tay này không có thì nguy hiểm lắm” [28760;tr.403-404].

4.2.2.2. Viết về đề tài nông thôn và nông dân, Dương Hướng cũng sử dụng giọng điệu này khá thành công. Bến không chồng, Dưới chín tầng trời là hai tác phẩm tiêu biểu.

Với chất giọng này, Tác giả sử dụng giọng điệu châm biếm, giễu nhại nhằmra sức giải phẫu những khối u ác tính đã/đang tồn tại trong đời sống nông thôn Việt Nam. Đọc Dưới chín tầng trời, độc giảngười đọc không khỏisẻ vang lên tiếng cười hả hê trước cảnh người dân xã Chiến Thắng khổ cực, nghèo đói nhưng buộc phải mặc chiếc áo lông cừu rực rỡ, sang trọng để chào đón cán bộ huyện: “Xã viên đói nhƣng hợp tác xã Chiến Thắng vẫn dẫn đầu toàn huyện về mọi mặt, vẫn trống giong cờ mở đón đoàn cán bộ huyện về tham gia học tập mô hình tiên tiến xã” [30274;tr.117]. Qua đám tang của ông Đức Cường, người đọc nhận ra sự tráo trở của thế thái nhân tình. Đám tang thật đông đúc, long trọng nhưng lại không xuất phát từ tấm lòng đau thương, tiếc nuối của người sống đối với kẻ quá cố, mà đó là sự phô diễn thanh danh, khuếch trương thanh thế của những kẻ háo danh, giả “trí thức thượng lưu”: “Đám tang ông Đức Cường được vợ chồng Thu Cúc lo tổ chức thật long trọng. Phải thế chứ, ông Đức Cường là một thương gia yêu nước đã hiến cho cách mạng những hai nhà máy, và có công giúp đỡ quân giải phóng trong thời kỳ chiến tranh gian khổ. Quan khách các cấp chính quyền từ phường xã quận huyện đến tỉnh đều về dự đông đủ. Ai cũng rưng rưng nghe chị Thu Cúc đọc điếu văn trước giờ đưa vị thương gia về nơi an nghỉ cuối cùng” [30274;tr.280]. Tác giả còn tiếu táo, bỡn cợt trước cảnh gia đình Hoàng Kỳ Bắc giàu có nhờ làm ăn chân chính lại có tội chỉ vì “đi xe về ngựa học đòi tƣ sản”, “nhiều ruộng đất nhất làng Đoài”, “nhà to nhất làng Đoài” [30274;tr.85]. Trong Bến không chồng, Dương Hướng sử dụng giọng giễu cợt để lật tẩy sự nhố nhăng, rởm đời của đám con dân họ Nguyễn trong ngày chạp tổ. Ông Xung giao Nghĩa làm mật vụ “theo dõi các tay dao thớt và các bà các cô đầu bếp xem có ai ăn cắp thịt quẳng qua bờ rào hoặc chìm vụng xôi, oản chuối dắt cạp quần giả vờ đi đái đi ỉa rồi lẻn mang về cho con”

[27549;tr.27]. Cuối buổi chạp, Nghĩa báo cáo lại sự việc: “Chú Xeng lấy trộm một khoanh thịt nạc và một chai rƣợu giấu vào thùng phủ đầy lá bắp cải đƣa cho thím Xeng đƣa về.

Ông Xung tái mặt đứng ngây ra một lúc rồi cười hềnh hệch vỗ vào vai Nghĩa: Mày thật thà quá hóa hỏng. Đấy là thằng Xeng nhà ông nuôi mấy con chó to tướng, khi nào đẻ ông

142

cho một con mà nuôi. Thôi được ông thưởng một hào mua bi. Cấm được mở miệng nói với ai đấy” [27549;tr.29]. Chính sự bao biện vụng về cũng nhƣ cách “trị tội” không công minh của lão Xung để che dấu sự vụng trộm của con cháu nhà lão đã bật lên tiếng cười nhẹ nhàng từ phía người đọc.

Dương Hướng sử dụng gGiọng điệu hài hước trong tiểu thuyết của Dương Hướng còn nhằm “liễu tận tri tường”chỉ ra ngọn nguồn bản chất những con người xấu xí. Chính căn bệnh chạy theo thành tích, thích hãnh tiến và lối làm việc quan liêu, ấu trĩ, non kém của những “bần cố nông” như Trần Tăng, Đào Kinh (Dưới chín tầng trời) đã khiến mà người nông dân trở nên long đong, lận đận. Để cấp trên đƣợc khen, Đào Kinh lấy “thóc tốt đem đóng thuế cho nhà nước, còn lại cân đối công điểm chia cho từng nhà. Điểm thì nhiều nhƣng thóc lại ít”, mƣợn lợn của các gia đình xã viên thả vào trại lợn hợp tác, ra lệnh

“cấm đi mót”, “cấm chợ nhà” [30274;tr.116]. Nguyễn Vạn (Bến không chồng) từ chiến trường trở về làng Đông, vì muốn dòng họ, dân làng ngưỡng mộ như một thánh nhân nên đã kìm nén dục tính một cách vô lí. Cả đời Vạn chƣa có mối tình nào, sắc màu tình yêu Vạn không hề hay biết! Dẫu biết rằng đôi khi bản năng quẫy đạp mạnh mẽ khiến “lí trí của Vạn không kìm nén đƣợc để cho bản năng của xác thịt tự do phóng túng nhìn mụ Hơn vén quần nằm tênh hênh ở giữa sân, phơi bộ đùi trắng hớn đầy quyến rũ của ma quỷ”

[27549;tr.220]. Và đã có lần đập vào mắt Vạn: “Bọn đàn bà con gái lại hớ hênh phơi cái phần da thịt trắng hớn ra giữa trời đất” nhưng “Vạn lại nhảy vào giường vật mình, vật mẩy và nhận ra mình là kẻ hƣ hỏng quá lắm” [27549;tr.28760].

4.2.2.3. Góp mặt trong giọng điệu đó, Trịnh Thanh Phong đưa đến người đọc một cái nhìn đầy hài hước, trào tiếu trước những mảng màu đen/trắng của hiện thực nông thôn. Trong Ma làng, giọng điệu hài hước, trào tiếu trở thành phương tiện hữu hiệu để tác giả phủ nhận hiện thực nông thôn xô bồ, trần trụi, dung tục cũng nhƣ đả kích, vạch trần những thói tật của người nông dân. Người đọc nở nụ cười cay đắng trước cảnh hội họp ban chấp hành của phe cánh họ Phạm thu hẹp. Nhìn bề ngoài, đây là cuộc họp hệ trọng của xã, đủ thành phần, chương trình làm việc hẳn hoi, ghi chép đầy đủ; bên trong, thực chất cuộc họp kín của anh em nhà Phạm Tòng. Cuộc họp xoay quanh vấn đề tiêu trừ anh Tâm -– chủ nhiệm hợp tác xã và đẩy cô Mƣa vào tù - nhổ bớt cái gai nguy hiểm. Cuộc họp diễn ra rất khẩn trương, cùng suy ngẫm, vắtách óc để đóp góp ý kiến, cũng đập bàn đập ghế, cũng đỏ mặt tía tai… Cuối cùng đi đến thống nhất, đƣa vào biên bản ghi nhớ:

“Căn nhà lặng phắc rồi cả năm cánh tay cùng giơ cao. Cái biên bản hội nghị ban chấp hành thu hẹp của nhà họ Phạm cũng đƣợc thông qua. Họ rót rƣợu tuyên thề cùng thể hiện”

[30173;tr.52]. Việc tổ chức đám cưới con trai của lão Tòng cũng đầy hài hước, trào tiếu.

Biết đám cưới tốn kém, hao hớt của cải, lão Tòng như có gai đâm, muối xát trong lòng nhƣng vì danh dự, uy tín lão phải ngậm bồ hòn lên giọng: “Việc trăm năm của các em có

tốn kém nhưng có mất gì. Dân làng có yêu thì người ta mới đến. Như thế mình là người phúc đức, ăn ở phải chỗ với làng. Lợn bò sẵn đấy cứ vật ra mà thịt” [30173;tr.85]. Đằng sau giọng “u mua”, người đọc nhận ra bản chất “u mê”, thối tha, vô luân của bọn quan lại hãnh tiến cấp xã. Tác giả còn giễu cả sự hiểu biết về Đảng của người nông dân ở cái thời duy ý chí, ấu trĩ. Ông Thịnh đã trải qua trên năm mươi năm tuổi Đảng, nhưng nhận thức quá lệch lạc và sùng bái một cách thái quá về Đảng. Hành động tối nào “ông lọ mọ thắp hương khấn ông bà tổ tiên. Khấn xong ông lại đứng trước tấm huy hiệu năm mươi tuổi Đảng tay vung cao: Xin thề! Xin thề! Xin thề!”. Không chỉ thế, tên tuổi nhân vật, gia thế nhân vật… cũng đƣợc tác giả nhại. Tác giả đặt tên nhân vật không phải ngẫu nhiên, trái lại có chủ ý, mang ý nghĩa và thông điệp của nhà văn tới bạn đọc. Luồn, Lọt, Lường, Nợn Nòi… nói lên bản chất sống điểu giả, thối tha, toan tính, đầy mưu mô danh vọng, đầy quyền lực của bọn đứng đầu chính quyền xã. Nhằm củng cố gia thế, tạo mối quan hệ thân thuộc với cấp trên, lão Tòng ép buộc con trai lấy cháu bí thƣ huyện dù tàn tật, sứt mẻ. Lão Tòng vì thế đứng trước bà con xóm làng bao biện: “Vết sẹo trên mặt thằng Ất, nó ngã xe máy làng Lộc ai lạ… Duy có cái môi của em Sứt chƣa đi mỹ viện đƣợc thì có bận gì.

Thằng Ất nó còn chả ngại huống hồ ta. Ta cưới vợ cho con là lấy người, lấy cháu ông huyện chứ đâu phải lấy cái môi nó, cái môi nó sứt chứ cái giống cái má nhà nó có sứt đâu mà lo” [30173;tr.83-84]. Tiếng cười giòn giã còn bật ra trước sự hài hước, thâm trầm, sâu cây của anh Dỏ sáng tác bài hát giễu cánh nhà họ Phạm: “Tiền chùa đội nón lên chùa. Ý a… Phải chi tài giỏi mà lừa người ta. Ý a… Cầu danh cầu phúc về nhà. Lại mua con khỉ.

Ý a -– răng chìa ngoài môi. Ý a -– làng hả trận cười. Để tôi say rượu bét nhè trời mây.

Hay, hay, say say. Đéo mẹ lũ trời đầy” [30173;tr.92]. Giọng điệu hài hước, trào tiếu vừa tạo sức hấp dẫn cho tác phẩm, vừa thể hiện lập trường của Trịnh Thanh Phong trong việc đả kích bọn “ma làng” sống giả nhân giả nghĩa, và cả những lệch pha trong xã hội nông thôn đương đại.

4.2.3. Giọng điệu suychiêm nghiệm, triết lí

Thực ra Giọng điệu triết lí, suy nghiệm đã từng xuất hiệnđã có trong tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn giai đoạn trước đó, tùy theo mỗi thời kỳ mà biểu hiện của nó khác nhau. Giai đoạn Trước 1986, giọng điệu triết lí trong tiểu thuyết viết về đề tài này đã đưakhiến nhân vật trở thành cái “loa phát ngôn” cho nhà văn khá rõ. Sau đổi mớiNgƣợc lại, giọng điệu nàytriết lí giai đoạn này thể hiện quan niệm cá nhân, cánh nhìn nhận cuộc sống của nhà văn. Người viết không

“dạy dỗ”, áp đặt người đọc, không hề khô khan, sáo mòn mà trở thành một giọng đối thoại với nhiều giọng điệu khác. Viết về đề tài nông thôn và nông dân, các nhà văn như Dương Hướng, Tạ Duy Anh, Lê Lựu…, sử dụng giọng điệu nàytriết lí nhằm nêu lênthể hiện những chính kiến, suychiêm nghiệm sâu sắc thấm đẫm nhân văn về những vấn đề nhân sinh, thế sự, đạo đức, mưu sinh, cái chết…

Một phần của tài liệu Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết việt nam về nông thôn từ 1986 đến nay (Trang 146 - 155)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(212 trang)