Ngôn ngữ mang dấu ấn đời thường

Một phần của tài liệu Tiểu thuyết lịch sử của hồ thủy giang (Trang 87 - 91)

Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA HỒ THỦY GIANG

3.3. Ngôn ngữ nghệ thuật

3.3.2. Ngôn ngữ mang dấu ấn đời thường

Việc sử dụng ngôn ngữ đời thường, bình dân đã đưa người anh hùng từ thế giới cao sang trở về gần gũi, thân thuộc, xoá nhoà khoảng cách quan phương, lịch sử. Đây cũng có thể coi là ưu điểm được các nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử thời kì hiện đại sử dụng nhiều, chẳng hạn như Phạm Minh Kiên (với Lê triều Lý thị), Nguyễn Xuân Khánh (với Hồ Quý Ly)… Hồ Thuỷ Giang cũng kế tục kinh nghiệm của người đi trước khi sử dụng một ngôn ngữ một mạc, bình dân, thậm chí là suồng sã trong các tiểu thuyết lịch sử của mình. Chỉ trong một đoạn đối thoại với ngôn ngữ bình dân, hình ảnh nhân vật hiện lên đậm chất đời thường:

“- Hôm nay là ngày 30 sao chúng nó không phát lương? Định ăn quịt của bố nó à?

Viên cai trực ban há hốc mồm, lo sợ:

- Chết, ra thày Cai Mánh! Thế thày không biết đây là lệnh của thày Phó Quản Lạp chứ không phải của ma-đam tài vụ à?

Cai Mánh vằn mắt:

- Thằng Phó Quản Lạp thì tao cũng chửi cha lên chứ tao sợ à?

[…] Cai Mánh càng hăng tiết, quát to:

Tao sợ đ…gì thằng Đội Hành. Tao thách thằng dê cụ ấy lên tâu hót với quan thày. Đây Mo phú tuốt” [12, tr.8-9].

Một số ngôn ngữ thông tục, đời thường như: tao, thằng, ăn quỵt, bố nó, chửi cha, thằng dê cụ, tâu hót… thậm chí cả là lời văng tục: Tao sợ đ… gì đã được sử dụng trong đoạn đối thoại giữa Cai Mánh và viên cai trực ban.

Điều này cho thấy sự sinh động, đồng thời cũng hé lộ cho bạn đọc tính chất

đời thường của nhân vật vốn là những quan chức trong bộ máy cai trị của thực dân Pháp.

Một bộ phận không nhỏ ngôn ngữ đời thường mang màu sắc địa phương cũng được Hồ Thuỷ Giang sử dụng trong các tiểu thuyết viết về lịch sử nhằm tô đậm thêm màu sắc địa phương và xuất thân của các nhân vật. Chẳng hạn những đoạn miêu tả ngôn ngữ và suy nghĩ của nhân vật Lưu Nhân Chú, của Ngọc Tiêm và của Slao - cô gái dân tộc vùng Nậm Cang. Khi miêu tả tiếng sáo da diết nhớ quê hương, tác giả đã đưa nhân vật Lưu Nhân Chú gợi nhớ về văn hoá quê hương Thái Nguyên. Mỗi khi tiếng sáo vang lên như đưa hồn người trở về những khúc hát lượn, đối đáp, giao duyên tình tứ của trai gái người Thổ đầy ân tình và sâu sắc:

Ong bướm bay đi về đại ngàn Biết ngày nào hoa rơi lại nở Ong lại được vui xuân cùng bạn Như em ước với anh cùng về

Đó là những lời ước hẹn tình duyên đằm thắm ân tình của những chàng trai cô gái miền núi vào những ngày hội đã trao cho nhau. Và thậm chí, không đến được với nhau, “thất duyên” nhau họ vẫn đầy hi vọng và mong chờ:

“Nếu không được làm vợ chồng thì thôi Có con rồi sẽ gả cho nhau

Để hồn phách về trời yên phận”

Tiếng sáo đã nói hộ nỗi lòng của bao chàng trai cô gái vùng đất Thuận Thành, Đại Từ, Thái Nguyên, mang màu sắc văn hoá của con người quê hương.

Đó còn là ngôn ngữ miêu tả sự ngây thơ đến đáng yêu của hai cô gái thanh niên xung phong người dân tộc. Họ còn rất trẻ, nhiều điều còn rất mới mẻ mà chưa từng được biết đến, thậm chí họ chưa từng được ăn kem:

Sao và Mỵ mặt đỏ bừng, hau háu đứng chờ người bán kem đang lấy ra từng que kem... Sao khoái chí cầm hai que kem, lui ra ngoài, đưa cho Mỵ

một que”. Sự hớn hở, hồ hởi khi lần đầu được thấy kem và ăn kem, nhưng hai cô gái lại không biết ăn:

“- A lúi! Mỵ ơi, sợ quá! Sao cái kem lại bốc khói nhiều thế này lố?

...Sao đắn đo vài giây rồi quyết định đưa kem vào miệng. Mặt Sao bỗng nhăn nhúm lại, miệng há rộng, nhổ vội miếng kem ra ngoài. Mặt Sao biến sắc, sợ hãi quẳng mạnh chiếc kem xuống đất, ôm lấy má:

- A lúi! Rụng hết răng rồi cái mày ơi! Vứt đi! Vứt cái kem đi! Đừng ăn nữa! Chết đấy lố!

Mỵ nhìn cử chỉ đau đớn của Sao, cũng vội ném cái kem ra xa. Cả hai chạy như bị ma đuổi” [10, tr.71].

Tác giả đã tái hiện được tâm hồn và tính cách của những cô gái trẻ tham gia thanh niên xung phong rất ngây thơ và lạ lẫm với tất cả mọi thứ. Bạn đọc vừa buồn cười, vừa cảm thương cho sự thiếu thốn, ít có điều kiện sống của những con người nơi miền núi.

Tiểu kết chương 3

Mỗi thời kì lịch sử lại có một sứ mệnh, mỗi nhà văn viết sử lại có những sáng tạo riêng. Với Hồ Thuỷ Giang, bước đầu ông đã thành công với ba tiểu thuyết viết về lịch sử gắn liền với con người và vùng đất Thái Nguyên. Bên cạnh việc hư cấu gắn với các chi tiết lịch sử, cốt truyện của tiểu thuyết Hồ Thuỷ Giang mang màu sắc huyền sử, tái hiện được các bối cảnh lịch sử và con người ở Thái Nguyên. Tuy nhiên, các chi tiết lịch sử chỉ là cái khung để tác giả gửi trao những hư cấu của mình. Nhân vật được xây dựng từ ngoại hình, hành động đến miêu tả nội tâm mang những đặc trưng riêng của những võ tướng (như Đội Cấn, Lương Ngọc Quyến, Lưu Nhân Chú). Ngôn ngữ mang màu sắc lịch sử và đậm chất đời thường và dấu ấn địa phương.

Một phần của tài liệu Tiểu thuyết lịch sử của hồ thủy giang (Trang 87 - 91)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(97 trang)