Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Khái quát về chiếu vật
1.1.2. Khái quát về phương thức chiếu vật (cách chiếu vật)
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Phương thức chiếu vật là cách thức mà con người sử dụng để thực hiện hành vi chiếu vật. Chúng là con đường mà người nghe tìm ra nghĩa chiếu vật từ các biểu thức chiếu vật nghe (đọc) được” [8, tr.64].
Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản, phương thức chiếu vật là cách thức mà con người sử dụng phương tiện ngôn ngữ để thực hiện hành vi chiếu vật.
Ví dụ (2): Có một đối tượng (chẳng hạn có một sinh viên trong một lớp học tên là Hồng), tạm kí hiệu là A. Khi nói đến A, muốn người nghe/đọc hiểu được A là ai, ta thường có ba cách dùng các biểu thức ngôn ngữ (khác nhau) để qui chiếu A, cụ thể:
- Dùng tên riêng để qui chiếu A (nếu trong lớp chỉ có một sinh viên tên Hồng): Cô mời bạn Hồng phát biểu ý kiến!
- Dùng một biểu thức miêu tả: Cô mời bạn mặc áo len xanh phát biểu ý kiến!
Nếu trong lớp chỉ có một sinh viên mặc áo len xanh thì nói như vậy đã đủ cho người nghe biết mình định nói đến ai. Ở đây là người nghe hiểu cô nói đến Hồng.
- Dùng cách chỉ xuất: Cô mời bạn ngồi đầu bàn thứ hai, dãy giữa, phía bên phải cô phát biểu!
Cách định vị không gian cho A cũng giúp người nghe xác định được A, loại được A ra khỏi tập hợp cùng phạm trù.
Xin xem thêm các cách chiếu vật này ở mục 1.1.2.2 dưới đây.
1.1.2.2. Các phương thức chiếu vật
Tác giả Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra ba phương thức lớn để chiếu vật, đó là:
dùng tên riêng, dùng biểu thức miêu tả và dùng cách chỉ xuất. (Xem lại ví dụ vừa dẫn).
a) Phương thức dùng tên riêng
- Tên riêng là tên đặt cho từng cá thể sự vật. Chức năng cơ bản của tên riêng là chỉ ra cá thể sự vật đúng với phạm trù của cá thể được gọi bằng tên riêng đó. Chẳng hạn, tên riêng chỉ người có chức năng cơ bản là chỉ cá thể người trong phạm trù người; tên riêng của sông, núi có chức năng cơ bản là chỉ ra cá thể sông, núi trong phạm trù vật thể tự nhiên.
- Tên riêng không phải hoàn toàn không có nghĩa biểu niệm. Giả định ở một dân tộc nào đó, tên riêng của người khác hẳn với tên riêng của đất đai, núi sông, khác hẳn với tên riêng của động vật (có người đặt tên cho chó, mèo...), v.v... thì chỉ cần nghe tên riêng người nghe sẽ không rơi vào tình trạng mơ hồ chiếu vật. Lúc này phạm trù người, đất đai, sông núi mà tên riêng gợi ra (do sự khác nhau trong cách đặt tên) là nét nghĩa biểu niệm của của tên riêng.
- Tên riêng có thể trùng nhau. Trùng tên riêng dù là của các đối tượng thuộc một phạm trù hay không cùng một phạm trù đều dẫn đến tình trạng mơ hồ về chiếu vật. Bởi vậy, để xác định được nghĩa chiếu vật của các tên riêng trùng nhau đó, ta có thể thêm danh từ chung đặt trước danh từ riêng, hoặc dùng định ngữ hay tiểu danh vào sau tên riêng, tùy theo các đối tượng trùng tên nằm trong một phạm trù hay khác phạm trù.
Nếu các đối tượng trùng tên cùng nằm trong một phạm trù, ta thêm tiểu danh hay định ngữ hạn định vào sau tên riêng.
Ví dụ (3): a. Cô Hà khoa Vật lí vừa cưới chồng.
b. Cô Hà Minh vừa cưới chồng.
Trong ví dụ (a), người nói đã dùng định ngữ ‘vật lí’ vào sau tên riêng ‘Hà’
để phân biệt ‘Hà’ của khoa ‘Vật lí’ với những ‘Hà’ khác, chẳng hạn như ‘Hà khoa Văn’, ‘Hà khoa Sinh’, v.v... Thêm định ngữ hạn định như vậy là một cách giúp ta xác định được nghĩa chiếu vật của các tên riêng ‘Hà’ trùng nhau trong cùng một phạm trù.
Trong ví dụ (b), ‘Minh’ là tiểu danh được người nói thêm vào sau tên riêng trùng nhau ‘Hà’ để giúp người nghe xác định nghĩa chiếu vật của tên riêng này.
Tiểu danh không có nghĩa là ‘tên nhỏ’ mà là một tên riêng khác, được dùng với chức năng không phải gọi tên mà là chức năng hạn định cho một tên riêng khác.
Việc dùng một tên riêng với chức năng để hạn định cho một tên riêng khác cũng có vại trò giúp ta xác định được nghĩa chiếu vật của những tên riêng trùng nhau.
Tiểu danh lúc này có vai trò như một định ngữ hạn định.
Nếu các đối tượng trùng tên không cùng nằm trong một phạm trù, ta dùng danh từ chung đặt trước danh từ riêng.
Ví dụ (4) (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu): Có ba đối tượng thuộc ba phạm trù khác nhau có cùng tên là Hương Giang, một đối tượng là khách sạn, một đối tượng là sông và một đối tượng là người, muốn người nghe biết mình định nói tới ai, ta thêm danh từ chung chỉ ba phạm trù trên đặt trước tên riêng, chẳng hạn:
+ Khách sạn Hương Giang;
+ Sông Hương Giang;
+ Cô hương Giang
Các từ ‘khách sạn’, ‘sông’, ‘cô’ là những danh từ chung. Những danh từ chung này cũng giúp ta xác định được đối tượng được nói đến dưới cái tên
‘Hương Giang’ là đối tượng nào, tức đã loại được một đối tượng ra khỏi ba đối tượng khác phạm trù cùng được gọi bằng cái tên ‘Hương Giang’ đã nói.
- Trong quá trình sử dụng, tên riêng có thể được dùng theo lối dịch chuyển phạm trù theo phương thức chuyển nghĩa hoán dụ và quan trọng là tên riêng được dùng để xưng hô, tức tên riêng là một trong những phương tiện ngôn ngữ dùng để chiếu vật. Luận văn này nghiên cứu tên riêng trong văn Vi Hồng ở chức năng thứ hai này - chức năng xưng hô.
b) Phương thức dùng biểu thức miêu tả
Như mọi người đều biết, không phải mọi sự vật trong thế giới khách quan đều có tên riêng. Bởi có những sự vật không được đặt tên hoặc không thể đặt tên.
Có những sự vật, hiện tượng không đặt được tên như: gió, mưa, hoa quả trên cây, cây trong rừng, v.v...(hoa quả trên cây hay cây trong rừng không đặt được tên vì chúng quá nhiều).
Có những sự vật có thể đặt tên được nhưng người ta lại không đặt tên cho chúng, ví dụ: gà trong một đàn, bát trong một rổ, chó nuôi trong nhà, v.v...
Trong giao tiếp, để giúp người nghe biết được mình định nói đến đối tượng, sự vật nào trong cái tập hợp đối tượng không có tên riêng ấy, ta có thể dùng biện pháp miêu tả để tạo ra một biểu thức miêu tả chiếu vật.
Ví dụ (5): (Nhà có nuôi ba con mèo khác màu lông), ta nói: Con mèo màu đen vừa bắt được con chuột.
“màu đen” là biểu thức miêu tả được đặt sau danh từ chung (mèo) đã đủ giúp người nghe biết được người nói định nói tới con mèo nào. “Màu đen” là một biểu thức miêu tả. Biểu thức miêu tả này có khả năng loại được một con mèo ra khỏi tập hợp ‘ba con mèo’, do đó nó giúp người nghe xác định được nghĩa chiếu vật của mèo.
Tóm lại, bản chất của miêu tả chiếu vật là ghép các yếu tố phụ vào một tên chung. Nhờ các yếu tố phụ mà tách được sự vật - nghĩa chiếu vật ra khỏi sự vật khác cùng loại với chúng. Biểu thức miêu tả do đó bao giờ cũng có tên chung làm trung tâm. Cái tên chung làm trung tâm này đóng vai trò như các từ chỉ phạm trù trong một biểu thức chiếu vật tên riêng.
c) Phương thức chỉ xuất
- Chỉ xuất là phương thức chiếu vật bằng ngôn ngữ dựa trên hành động chỉ trỏ [8, tr.72].
Ví dụ (6): Cái ghế này hỏng chân rồi.
Từ ‘này’ đã tách được một ‘cái ghế’ ra khỏi tập hợp ‘ghế’ để ta có thể xác định được cái ghế hỏng chân đó là cái ghế nào.
- Các từ chỉ xuất trong ngôn ngữ đều có tính chất chỉ hiệu. Khác với các biểu thức miêu tả, các biểu thức chỉ xuất không thông qua chức năng miêu tả mà thông qua chức năng định vị, có nghĩa là chiếu vật thông qua việc xác định vị trí của vật được nói tới, phân biệt nó với các sự vật khác theo quan hệ không gian, thời gian và các quan hệ khác chứ không theo đặc điểm như ở các biểu thức miêu tả.
Ví dụ (7):
So sánh hai cách dùng biểu thức chiếu vật trong hai phát ngôn đã dẫn trên:
a. Cô mời bạn mặc áo len xanh phát biểu ý kiến! (Dùng biểu thức miêu tả) b. Cô mời bạn ngồi đầu bàn thứ hai, dãy giữa, phía bên phải cô phát biểu!
(Dùng biểu thức chỉ xuất).
Trong ví dụ (a), người nói giúp người nghe nhận ra nghĩa chiếu vật của
‘bạn’ là nhờ biểu thức miêu tả “mặc áo len xanh”.
Trong ví dụ (b), người nói giúp người nghe nhận ra nghĩa chiếu vật của bạn cũng bởi đã dùng biểu thức chiếu vật chỉ xuất - định vị thời gian “ngồi đầu bàn... phía bên phải”. Biểu thức chiếu vật này có chức năng định vị cho ‘bạn’, nhờ đó mà ta biết bạn được qui chiếu đến ai.
- Ba phạm trù chỉ xuất trong ngôn ngữ là: (1) Phạm trù ngôi (xưng hô), (2) Phạm trù chỉ xuất không gian, thời gian và (3) Phạm trù chỉ xuất trong diễn ngôn.
Với nội dung nghiên cứu của đề tài, luận văn này chỉ nghiên cứu phạm trù thứ nhất, phạm trù ngôi (tức phạm trù chỉ xuất xưng hô).
+ Phạm trù xưng hô, còn gọi là phạm trù ngôi bao gồm việc sử dụng các phương tiện chiếu vật nhờ đó người nói tự qui chiếu, tức tự đưa mình (tự xưng) hay người tham gia giao tiếp với mình (đối xưng) vào diễn ngôn.
Để xưng hô, các ngôn ngữ đều có hệ thống đại từ xưng hô. Trong tiếng Việt có các đại từ xưng hô chuyên dụng tiêu biểu ở ba ngôi, như:
. Ngôi 1: tôi, tớ, tao, chúng tôi, chúng tao, chúng tớ.
. Ngôi 2: mày, bay, chúng mày, chúng bay.
. Ngôi 3: nó, họ, chúng nó.
Ngoài ra, tiếng Việt còn dùng các phương tiện khác để xưng hô, như:
. Tên riêng: Hoa, Thu, Tình, Hải,...
. Từ chỉ quan hệ thân tộc: ông, bà, bố, mẹ, anh, em, cô, dì, chú, bác, cậu, mợ...
Danh từ thân tộc được chia thành ba nhóm: (1) Nhóm từ, như: u, bầm, bủ, tía, ba, má, bố, mẹ,... (2) Nhóm từ, như: anh, chị, cô, dì, chú, bác, cậu, mợ, ông, bà, cụ,... và (3) Nhóm từ, như: anh rể, chú họ, chị dâu, anh họ,...
. Từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp: giám đốc, hiệu trưởng, bác sĩ, cô giáo, ông bá, cụ lí,...
. Từ ngữ chuyên dùng để xưng hô: ngài, trẫm, lão, thần, khanh, ngu đệ, hiền đệ, bỉ nhân, tại hạ, tiên sinh,... Những từ xưng hô nhóm này trước kia dùng phổ biến nhưng nay hầu như chỉ dùng trong sách vở hay trong những hoàn cảnh đặc biệt.
. Từ ngữ dân dã khác (nay cũng ít dùng): anh cò, anh hĩm, chị đỏ,...
- Trong hệ thống từ xưng hô của tiếng Việt có những từ kiêm ngôi và có từ chuyên ngôi.
+ Từ kiêm ngôi là những từ có khả năng dùng ở nhiều ngôi, tức lúc thì dùng để chỉ ngôi thứ nhất, lúc thì được dùng để chỉ ngôi thứ hai, và lúc thì dùng với tư cách chỉ ngôi thứ ba, chẳng hạn như tên riêng ‘Hà’ dùng trong các trường hợp dùng sau:
Ví dụ (8): a. Hà ơi, chúng mình đi học đi. (Hà, tên riêng dùng ở ngôi 2) b. Minh ơi, Hà đến nhà cậu được không? (Hà là người nói ra phát ngôn này). (Hà, tên riêng dùng ở ngôi 1)
c. Minh ơi, Thanh và Minh đến nhà Hà chơi đi. (Hà được dùng ở ngôi thứ 3).
Tương tự, một số danh từ chỉ quan hệ thân tộc, như từ chú sau đây cũng là từ kiêm ngôi.
Ví dụ (9): a. Lại đây chú cho cái kẹo. (Chú dùng để chỉ ngôi 1).
b. Chú cho cháu cái bút này nhé. (Chú dùng để chỉ ngôi 2).
c. Em và chị đến thăm chú đi. (Chú dùng để chỉ ngôi 3).
+ Từ chuyên ngôi là từ chỉ được dùng cho một ngôi, ví dụ:
. Các từ: tôi, tao, tớ, chúng tao, chúng tớ chuyên dùng ở ngôi thứ nhất.
. Các từ: mày, chúng mày chuyên dùng ở ngôi thứ hai.
. Các từ: nó, họ, chúng nó chuyên dùng ở ngôi 3.
Khảo sát các biểu thức chiếu vật nhân vật trong văn Vi Hồng thì thấy có biểu thức được dùng để qui chiếu một ngôi (từ chuyên ngôi) và cũng có biểu thức được dùng để qui chiếu nhiều ngôi (từ kiêm ngôi).
- Trong hệ thống từ xưng hô của tiếng Việt có những từ dùng bao gộp cả ngôi 1 và ngôi 2, như chúng ta, lại có những từ vừa dùng bao gộp, vừa dùng không bao gộp, như chúng mình. Ví dụ (10) dưới đây là một ví dụ về các từ xưng hô trong tiếng Việt dùng bao gộp hoặc vừa bao gộp, vừa không bao gộp:
Ví dụ (10): a. Hà ơi, chúng ta cùng đi bộ đến nhà cô giáo nhé.
b. Hà ơi, chúng mình đi học đi!
c. Hà ơi, hôm qua chúng mình đến nhà bạn mà bạn không có nhà.
Trong ví dụ (a), chúng ta là từ dùng bao gộp, tức để chỉ cả ngôi 1 và ngôi 2. Trong ví dụ (b), chúng mình là từ cũng được dùng bao gộp để chỉ ngôi 1 và ngôi 2. Trong ví dụ (c), chúng mình được dùng không bao gộp. Ở đây, từ này được dùng chỉ ngôi thứ nhất, số nhiều.
Nhìn chung, tên riêng và danh từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Việt đại bộ phận là kiêm cả ba ngôi: ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai và ngôi thứ ba.
Thông thường, để giúp người nghe khỏi lẫn ngôi thứ hai và ngôi thứ ba, tiếng Việt thêm các từ chỉ xuất vào sau các từ chỉ quan hệ thân tộc ở nhóm thứ hai, kiểu như: chị ấy, cô ấy, bác ấy, em ấy, v.v...
- Hệ thống từ xưng hô có thể thay đổi theo lịch sử. Ví dụ, trước kia trong xã hội có vua tôi, người ta xưng hô tùy theo vị thế của người tham gia giao tiếp, nếu người nói là vua thì dùng trẫm để chỉ ngôi 1, khanh để chỉ ngôi 2, v.v.. Hiện nay, những từ này hầu như không dùng để xưng hô trong giao tiếp thông thường.
- Khi dùng từ xưng hô phải chú ý đến các nhân tố chi phối việc dùng từ xưng hô trong giao tiếp, cụ thể:
+ Xưng hô phải thể hiện vai giao tiếp (thể hiện được vai nói và vai nghe);
+ Xưng hô phải thể hiện được quan hệ quiền uy;
+ Xưng hô phải thể hiện quan hệ thân cận;
+ Xưng hô phải phù hợp với ngữ vực;
+ Xưng hô phải thích hợp với thoại trường;
+ Xưng hô phải thể hiện được thái độ, tình cảm của người nói đối với người nghe;
- Các phương tiện dùng để xưng hô cũng không phải là cố định trong một cuộc giao tiếp. Bởi quan hệ liên cá nhân có thể biến đổi trong cuộc giao tiếp, cho nên khi mà từ xưng hô chịu sự chi phối mạnh mẽ của quan hệ liên cá nhân thì tất yếu chúng phải biến đổi theo diễn biến của cuộc giao tiếp. Vấn đề này xin xem [8, tr.80].
Vận dụng lí thuyết chiếu vật vừa trình bày và kết quả khảo sát đối tượng nghiên cứu, luận văn sẽ phân loại và miêu tả các cách dùng các biểu thức chiếu vật trong văn xuôi Vi Hồng.