Tự tạo thành ngữ, thơ ca, vè

Một phần của tài liệu Đặc điểm ngôn ngữ chat bằng tiếng việt (Trang 57 - 60)

2.2. ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG CỦA CHAT

2.2.6. Sử dụng nguyên văn, cải biên hoặc tự tạo thành ngữ, ca từ, thơ ca, châm ngôn

2.2.6.3. Tự tạo thành ngữ, thơ ca, vè

Trong các bản chat nói riêng và trong khẩu ngữ của học sinh, sinh viên hiện nay nói chung xuất hiện nhiều tổ hợp từ mới, dùng để biểu đạt một sự vật, sự việc, trạng thái, tính chất, tâm trạng...có tính chất miêu tả, phi logic. Chúng được hình thành và sử dụng một cách khá ổn định trong giới trẻ, được cấu tạo chặt chẽ có sẵn, có tính xã hội như đơn vị từ. Giới trẻ gọi đó là “thành ngữ teen”, chúng tôi tạm gọi là “thành ngữ tự tạo”.

Một số “thành ngữ tự tạo” thống kê được trong các bản chat:

- Bình thường như Đan Trường. Ví dụ: dinhhong_luu: bình thường như Đan Trường (bình thường)

- Buồn như con chuồn chuồn (buồn, buồn rầu). Ví dụ:

caulau_mongemquayve: buồn như con chuồn chuồn

- Cái mặt đù như cái lu (đù, đần).Ví dụ: anhchangxauxi_93: cái mặt đù như cái lu

- Cực như con chó mực (cực khổ, vất vả). Ví dụ: anhembn1993vn: cực như con chó mực

- Chán như con gián (chán). Ví dụ: huyen_tran659: chán như con gián - Điên như bà điên bán chuối chiên (điên). Ví dụ:

anhmuon_yeuem_lannua1062: djen nhu ba djen ban chuoi chjen - Đói như con sói (đói).Ví dụ: anhchangxauxi_93: đói như con sói

- Rẻ như nồi chè (rẻ). Ví dụ: l_ltieu_g.thien_l_l@rocketmail.com: rẻ như nồi chè

- Xấu như con gấu (xấu).Ví dụ: trieux1: nhìn xấu như con gấu

- Tê tái con gà mái, tái tê con dê ( tê tái, tái tê). Ví dụ: trieux1: tê tái con gà mái, tái tê con dê

- Ú ù u con cú nù (mập, ú). Ví dụ: trieux1: ú ù u con cu ú nù <yeah>

- Chán bắt con gián bỏ vô háng (chán). Ví dụ: tmkpq: Chán bắt con Gián bỏ vô háng .

- Chuẩn không phải chỉnh (chuẩn). Ví dụ: bong bongmua_votanvianh: chuẩn không phải chỉnh

- Mệt thì ngồi bệt xuống đi (mệt). Ví dụ: anhchangxauxi_93: mệt thì ngồi bệt xuống đi

- Nhầm nhọt sang trồng trọt (nhầm lẫn).Ví dụ:

bongbongmua_votanvianh: nhầm nhọt sag trồng trọt tẹo - Phê bê cu lê luôn (phê). Ví dụ: trieux1: phê bê cu lê lun

- Toàn ảo tung chảo (ảo, hư ảo). Ví dụ: timtopdethuongbn: toàn ảo tung chảo b. Nhận xét:

Qua quan sát chúng tôi thấy, phần lớn các thành ngữ mà giới trẻ tự tạo có cấu trúc so sánh phi logic, tức là cấu trúc so sánh mà giữa cái được so sánh (A) và cái dùng để so sánh (B) không tương đồng về cơ sở so sánh: “cái mặt”- A và “cái lu”- B không có chung đặc điểm, không cùng cơ sơ so sánh -“đù”…

Những “thành ngữ tự tạo” trên phần lớn đều phi logic, phi lí. Con gián không thể chán nhưng vẫn nói chán như con gián; Gà đâu biết tê tái, dê đâu biết tái tê nhưng vẫn dùng tê tái con gà mái, tái tê con dê...

Trong tổ hợp “thành ngữ tự tạo” luôn có sự hiệp vần giữa các âm tiết: buồn - chuồn, đù - lu, cực - mực, chán - gián, điên - chiên, đói - sói, rẻ - chè, xấu - gấu, chuẩn - chỉnh, mệt - bệt, nhầm nhọt - trồng trọt, phê bê - lê, tái - mái, tê - dê, Ú ù u - cú nù, ta -ra…

Cơ sở tạo nên những thành ngữ đó là từ một từ có nghĩa làm trung tâm, người dùng ghép thêm một vài âm tiết cùng vần và một số âm tiết có tác dụng bổ trợ cho cả tổ hợp từ, sao cho đọc lên nghe xuôi tai. Vì vậy, để hiểu được nghĩa của tổ hợp, chúng ta phải bám và chỉ cần bám vào từ gốc, từ trung tâm đó. Thường thì từ gốc là động từ hoặc tính từ chỉ trạng thái tâm lí, tính chất…: bình thường, xấu, buồn, chán, mệt, tê tái, đói, phê, chuẩn, cực, ảo, ú, nguy hiểm…

Đây là điểm khác biệt về nghĩa giữa thành ngữ dân tộc nói riêng, ngữ cố định nói chung và “thành ngữ tự tạo” của giới trẻ. Nếu nghĩa của ngữ cố định được mã hóa qua từng đại diện có tính biểu trưng, muốn hiểu nghĩa của ngữ cố định thường phải hiểu chung nghĩa của cả tổ hợp thì nghĩa của “thành ngữ tự tạo” như đã nói, chỉ được hiểu thông qua từ trung tâm vì những từ còn lại không góp phần tạo nên nghĩa của cả tổ hợp.

Một đặc trưng nữa của “thành ngữ tự tạo” ở dạng cấu trúc so sánh phi logic là thường gán thuộc tính tâm lí, trạng thái, tâm trạng, tình cảm của con người cho con vật hoặc sự vật (cũng có khi gán cho một nhân vật cụ thể như “Đan Trường”

hoặc “bà điên” nhưng ít).

Những “thành ngữ tự tạo” hay nói cách khác là “cách nói cùng vần” này tạo cảm giác vui tai, dễ nhớ…đôi lúc hời hợt, dễ dãi nhưng điều này lại phù hợp với phong cách tuổi mới lớn.

b. Vè tự tạo

Trong quá trình chat, đôi lúc ngẫu hứng các bạn trẻ tự chế ra những câu nói có vần theo kiểu vè dân gian :

Ví dụ 1: minhtrieu_dtmt: bắt con gián, bỏ vô háng, chạy ra đường, xe nó tán, chết con gián, thế là hết chán

Bài “vè ngẫu hứng” trên về hình thức được cấu tạo theo thể vãn: 3, 4 tiếng một câu, hiệp vần “an” với nhau nhưng nội dung “rỗng”. Đọc lên nghe vần vè, xuôi tai nhưng không có ý nghĩa về mặt nội dung.

Tương tự:

Ví dụ 2: (Đời ta hư không Tình ta lông bông Ôi con cá lòng tong

Mày có hiểu được nỗi lòng của tao không…)

hktomyteo: đời ta hư không, tình ta lông bông , ôi cái con cá lòng tong, mài có hiểu được nổi lòng của tao không.. iss kiss me..

c. Thơ tự chế

Khảo sát các cuộc hội thoại trong phòng chat, thỉnh thoảng chúng tôi phát hiện những câu thơ tự chế theo thể lục bát sáu - tám:

Ví dụ 1: boy_daiviet1993: than e con gai nha nong toi ngay chi bit chong mong len troi

( Thân em con gái nhà nông Tối ngày chỉ biết chổng mông lên trời)

Ví dụ 2: anhchangxauxi_93: mặt tiền thì chẳng ra gì bên trong nội thất tiện nghi bất ngờ

( Mặt tiền thì chẳng ra gì Bên trong nội thất tiện nghi bất ngờ)

Ví dụ 3: hoangtucuadong1986: lông bay phấp phới trên đầu các anh

Về hình thức, những câu ấy vẫn đảm bảo qui tắc thể lục bát: luật thanh, cách gieo vần...nhưng nội dung có phần phản cảm. Ví như, ở ví dụ 2, hai câu đó được hiểu với nghĩa hàm ngôn là chỉ về sự nảy nở, hấp dẫn...của các bộ phận nhạy cảm trên cơ thể người con gái dù bề ngoài nhìn không mấy quyến rũ.

Một phần của tài liệu Đặc điểm ngôn ngữ chat bằng tiếng việt (Trang 57 - 60)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(88 trang)