Cơ sở hình thành tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh

Một phần của tài liệu Tư tưởng khoan dung hồ chí minh (Trang 30 - 63)

Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng khoan dung của Người nói riêng là sản phẩm của sự kết hợp các giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại. Có thể khái quát thành hai cơ sở chính là cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn.

31

Có thể khẳng định rằng cơ sở lý luận đầu tiên của tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh là truyền thống văn hóa tốt đẹp, truyền thống khoan dung, nhân ái của dân tộc. Trước khi ra nước ngoài tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã mang trong mình chất Á Đông, chất Việt Nam – cái chất mà ngay từ thuở ấu thơ, Nguyễn Sinh Cung sau này là Hồ Chí Minh đã tiếp thu được từ truyền thống nhân văn của gia đình, quê hương và dân tộc. Truyền thống ấy được thể hiện qua các câu hát, lời ru thấm đượm tình thương yêu con người. Khi lên năm tuổi, Người theo cha vào Huế, trong thời gian đầu, gia đình của Người phải tá túc ở nhà những người quen. Đến năm 1901, tức là khi Người mới mười một tuổi thì thân mẫu là bà Hoàng Thị Loan lâm bệnh qua đời, bà đã được những người láng giềng tốt bụng giúp lo việc mai táng, trong hoàn cảnh ông Nguyễn Sinh Sắc đang còn là một hàn sĩ vắng nhà. Hằng ngày, Người phải bế em là Nguyễn Sinh Xin mới đầy một tuổi đi bú nhờ trong xóm. Những nỗi đau đớn, tang tóc vất vả từ thuở thiếu thời chắc chắn đã tạo trong lòng Người những ấn tượng rất sâu sắc: từ nỗi bùi ngùi nhớ thương người mẹ mới mất, tiếng khóc đòi ăn của người em khát sữa ngày ngày, tới sự đùm bọc thương yêu và giúp đỡ của bà con chòm xóm … đã dần hình thành trong tư tưởng của Người về nỗi đau và tình thương yêu con người, nhất là những người cùng cảnh ngộ. Có thể coi đây là ngọn nguồn của lòng thương yêu tôn quý con người, ngọn nguồn của những xúc cảm về nỗi đau của con người và là nguồn gốc sâu xa của tinh thần khoan dung, nhân ái trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Chính từ thực tiễn cuộc sống đã giúp Người hiểu được ý nghĩa sâu xa của những chữ “Tình gia tộc”, “Nghĩa đồng bào”. Tình cảm sâu nặng với gia đình, quê hương trong tư tưởng của Người ngày càng phát triển và mở rộng thành tình yêu Tổ quốc và rộng hơn nữa là tình yêu con người, tình yêu nhân loại. Sự khoan dung, nhân đạo đã làm cho Hồ Chí Minh trở nên gần gũi và thân thiết với nhân dân lao động các nước, điều này đã lý giải tại sao Hồ Chí Minh luôn có những người bạn thân thiết, chân tình ở khắp nơi trên thế giới.

32

Hơn nữa, xuất thân từ một gia đình có truyền thống hiếu học, với tư chất thông minh, Người đã sớm tiếp thu tinh thần nhân văn của Nho giáo qua các người thầy vốn là những nhà Nho yêu nước. Tuy nhiên, Nho giáo thẩm thấu vào Hồ Chí Minh không phải là những giáo điều “tam cương”, “ngũ thường”

nhằm bảo vệ tôn ti trật tự phong kiến, mà là thứ Nho giáo đã được Việt Nam hóa, đó là tinh thần “nhân nghĩa”, đạo “tu thân”, lễ nghĩa, ôn hòa, nhân ái … cùng với tinh thần đấu tranh bất khuất của các phong trào chống Pháp nổ ra lúc bấy giờ, tấm gương của các sĩ phu yêu nước đóng vai trò như cơ sở cho việc hình thành trong Người lòng yêu nước và tư tưởng khoan dung, nhân ái.

Xuất phát từ điều kiện lịch sử của Việt Nam, một đất nước luôn phải chống thiên tai, địch họa mà khoan dung từ rất sớm đã trở thành một trong những đức tính tốt đẹp trong truyền thống của dân tộc ta trong quá trình dựng nước và giữ nước. Khoan dung đã trở thành quy tắc ứng xử của dân tộc ta trong quan hệ với chính mình và với các dân tộc khác. Ở buổi đầu lịch sử, đạo nghĩa khoan dung đã được thể hiện rõ nét trong triết lý dân gian cũng như trong hệ thống ứng xử của người Việt. Do hoàn cảnh và điều kiện địa lý nước ta nằm ở vùng Đông Nam châu Á với khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng lắm mưa nhiều đã tạo nên nét độc đáo của nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, và xã hội được tổ chức theo kiểu làng xã với tính hợp quần cao. Cũng do là vùng sông nước nên đã bắt buộc cư dân phải hiệp đoàn rộng rãi và lâu dài với nhau để có thể chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên và sự xâm lăng của các thế lực bên ngoài, từ đó làm cho đạo nghĩa khoan dung sớm trở thành một trong những giá trị văn hóa tinh thần của truyền thống dân tộc Việt Nam.

Truyền thống này được biểu hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trong các sinh hoạt cộng đồng, vì sự sinh tồn của dân tộc, trong đấu tranh chống xâm lược cũng như trong lao động sản xuất, lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn, bĩ cực … khoan dung của người Việt Nam luôn luôn được thực hiện với phương châm: “Thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”

hay “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

33

Với tấm lòng rộng mở, người Việt Nam sẵn sàng giúp đỡ đùm bọc lẫn nhau, cố kết và chia sẻ với nhau, “một miếng khi đói bằng gói khi no”, v.v. Điều đặc biệt là truyền thống này được nâng lên thành triết lý nhân sinh của dân tộc, đó là đoàn kết tạo nên sức mạnh: “Một cây làm chẳng lên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” [117, tr. 95].

Việt Nam là một quốc gia với nhiều tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau, bao gồm tín ngưỡng bản địa (thờ cúng tổ tiên, ông bà) và tôn giáo được du nhập từ bên ngoài (Phật giáo, Thiên Chúa giáo … ). Sự chấp nhận cùng chung sống, cùng tồn tại của các giai tầng, các tôn giáo khác nhau trong xã hội là sự thể hiện của tinh thần khoan dung. Trong gia đình, đạo nghĩa của người Việt Nam là “anh em như nước một dòng, như cây một cội như sông một nguồn”, hay “anh em như thể tay chân”, và khi có người gặp hoạn nạn thì sẵn sàng “sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì”, hay như “chị ngã em nâng”… Ngay cả những người mắc sai lầm, bị lầm đường lạc lối cũng được cộng đồng tha thứ, mở rộng vòng tay đón nhận trở về khi họ đã nhận ra lỗi lầm của mình và thực sự biết ăn năn hối cải, với quan niệm “đánh kẻ chạy đi chứ không đánh người chạy lại”. Nói như vậy không có nghĩa là tất cả đều được hưởng sự khoan dung độ lượng, mà khoan dung của người Việt Nam cũng có những nguyên tắc nhất định, người ta chỉ “lành với Bụt chẳng lành với Ma”, đối với những kẻ không biết nhận ra con đường chính, con đường ngay thẳng thì dứt khoát phải chịu những hình phạt thích đáng.

Khoan dung còn được thể hiện trong thái độ đối xử với kẻ thù và truyền thống ngoại giao giữ hòa khí, sống trọng tình nghĩa, tránh đối đầu, tránh chiến tranh, muốn giữ hiếu hòa. Nếu có xảy ra chiến tranh cũng chỉ là bất đắc dĩ để giành lại cuộc sống bình yên. Ngay từ xưa, vì muốn hiếu hòa mà An Dương Vương đã mắc mưu khi gả con gái của mình là Mỵ Châu cho Trọng Thủy, con trai một tướng giặc. Đến đời nhà Lý (năm 1077), sau khi đánh cho giặc Tống đại bại trên phòng tuyến sông Cầu, Lý Thường Kiệt đã chủ động điều đình để mở lối thoát cho địch trong danh dự. Với triết lý “lấy đại nghĩa để thắng hung

34

tàn” làm cốt lõi, sau khi đánh tan mười vạn quân Minh ở ải Chi Lăng (năm 1427), Lê Lợi đã chấp nhận cho Vương Thông giảng hoà và rút quân về nước.

Hơn nữa, để giữ hiếu hòa và tránh chiến tranh có thể lại xảy ra, sau khi chấp nhận cho giặc giảng hòa, các vua chúa phong kiến Việt Nam liền phái sứ giả mang các lễ vật sang cống nạp, nhận phong tước, phong hầu của triều đình phong kiến Trung Hoa tỏ ý thần phục theo thể chế của một nước chư hầu.

Đối xử với tù binh chiến tranh cũng là lĩnh vực thể hiện tinh thần khoan dung của dân tộc Việt Nam. Trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, các thế hệ người Việt Nam luôn phải đấu tranh chống lại các thế lực ngoại xâm nhằm bảo vệ nền độc lập tự do và chủ quyền quốc gia. Trong và sau các cuộc chiến tranh, tù binh trở thành vấn đề nhân đạo. Qua các giai đoạn lịch sử, từ các cuộc chiến tranh thời phong kiến, đến cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ gần đây, tù binh không những không bị đánh đập, đối xử tệ bạc mà còn được chăm sóc nuôi dưỡng tử tế. W. A. Robinson, viên phi công Mỹ bị bắt ở Hương Khê (Hà Tĩnh) ngày 20 tháng 9 năm 1965, nhân vật trong bức ảnh nổi tiếng “O du kích nhỏ …”, khi trở lại Việt Nam năm 1995 đã xúc động nhớ lại rằng thời đó một gia đình với bà cụ già đã nhường chiếc phản duy nhất cho anh nằm, còn dân làng thì đã nhịn ăn để nấu cháo cho anh ăn. Chính sự đối xử đầy tính nhân văn đó đã gây ấn tượng tốt đẹp về đất nước và con người Việt Nam nơi các tù binh, sự lan tỏa của nó đã tạo nên những phong trào phản đối, đòi chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

Trong thời gian Hồ Chí Minh sống cùng cha là Nguyễn Sinh Sắc và học trường Tiểu học Đông Ba, rồi học trường Quốc học Huế, Người được học một số kiến thức về tự nhiên và xã hội, bước đầu tiếp xúc với nền văn minh phương Tây đã gợi cho Người một hướng đi mới. Rút kinh nghiệm thất bại của các phong trào yêu nước đầu thế kỷ, Người đã nhận ra rằng: muốn cứu nước, giải phóng dân tộc phải tìm ra một con đường cách mạng mới, đây chính là lý do thúc dục Người ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Từ đây, Hồ Chí Minh mới có điều

35

kiện tiếp xúc và sau đó là tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, kết hợp với các giá trị truyền thống dân tộc để hình thành tư tưởng của mình.

Trước khi Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, Người đã bị dằn vặt bởi câu hỏi là tại sao người Pháp ở Việt Nam vốn là những người nhân danh khai hóa lại đối xử mất nhân tính với đồng loại như thế? và từ sự giằng xé ấy, Người nêu ý định “muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta” [113, tr.

14]. Mục đích của Hồ Chí Minh là muốn tìm con đường phù hợp nhằm giải phóng dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách thuộc địa nô lệ. Mục tiêu này một lần nữa được khẳng định trong Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp, Người viết: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập” [59, tr. 192]. Trong thời gian lưu lại ở nước Mỹ (khoảng cuối năm 1912 đến cuối năm 1913), Người đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập (1776) của nước Mỹ trong đó đề cập đến “quyền bình đẳng”, “quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” của con người … và từ thực tiễn của nước Mỹ, Người đã nhận ra nghịch lý: đằng sau những lời lẽ hoa mỹ về tự do, bình đẳng là sự bất bình đẳng và nghèo đói của hàng triệu người lao động. Sau đó Người quay trở lại Paris, thủ đô nước Pháp. Trong thời gian này, Người đã nghiên cứu các tác phẩm của các nhà tư tưởng nổi tiếng thời kỳ Phục hưng, thời kỳ khai sáng như Montesquieu, Voltaire, Rousseau. Đây là những người được coi là chuẩn bị về mặt tư tưởng cho cuộc đại cách mạng tư sản Pháp 1789. Qua nghiên cứu, Người đã tiếp thu những tư tưởng mới mẻ của Đại cách mạng tư sản Pháp về tự do, bình đẳng, bác ái; tư tưởng giải phóng con người khỏi thần quyền và sự thống trị của các quan hệ phong kiến và đặc biệt là bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền (1791) của nước Pháp. Nhờ tiếp xúc với người Pháp ở bên Pháp và nền văn hóa Pháp, Hồ Chí Minh đã bắt đầu nhận diện được những điều mà trước đây Người còn mơ hồ.

36

Trước hết, Người phân biệt người Pháp ở Pháp và người Pháp ở Việt Nam, tức là phân biệt giữa công dân Pháp và thực dân Pháp, phân biệt rõ giữa bạn và thù. Hồ Chí Minh đã phê phán sự xuyên tạc của thực dân Pháp đối với tư tưởng “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” do các nhà tư tưởng khai sáng Pháp đưa ra, thực chất đó là những kẻ nhân danh tư tưởng ấy đi nô dịch và áp bức các dân tộc khác.

Do xác định rõ đâu là bạn và đâu là thù, Người khẳng định: "Chúng tôi không ghét thù gì dân tộc Pháp. Trái lại chúng tôi kính phục cái dân tộc lớn lao ấy đã là kẻ đầu tiên truyền bá lý tưởng rộng rãi về tự do, bình đẳng, bác ái, và đã cống hiến rất nhiều cho văn hóa, cho khoa học và cho văn minh" [62, tr.

65]. Sự phân biệt rõ ràng người Pháp công dân và thực dân Pháp đã giúp cho Hồ Chí Minh có cách xử lý khác nhau đối với hai “nửa” này của nước Pháp.

Người khẳng định rằng dân tộc Việt Nam không thù ghét gì dân tộc Pháp mà chỉ căm ghét bọn thực dân Pháp, kẻ đã chà đạp lên quyền làm người của dân tộc Việt Nam mà thôi, nên đối tượng của cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là bọn đế quốc thực dân Pháp, trong Thư gửi những người Pháp ở Đông Dương Người viết: “Sự chiến đấu của chúng tôi không nhằm đánh vào nước Pháp, cũng không nhằm đánh vào những người Pháp lương thiện, mà chỉ chống lại sự thống trị tàn bạo ở Đông Dương của chủ nghĩa thực dân Pháp”

[62, tr. 65]. Còn về cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam đang tiến hành lúc bấy giờ, tính chất chính nghĩa của nó đã được Người thể hiện một cách cụ thể trong Thư gửi Chính phủ và nhân dân Pháp nhân dịp đầu năm mới:

“Chúng tôi không thù hằn gì dân tộc Pháp. Chúng tôi bắt buộc phải chiến đấu, chống bọn thực dân phản động đang mưu mô xé cắt Tổ quốc chúng tôi, đưa chúng tôi vào vòng nô lệ và gieo rắc sự chia rẽ giữa nhân dân hai dân tộc Pháp và Việt. Nhưng chúng tôi không chiến đấu chống nước Pháp mới và quốc dân Pháp, chúng tôi còn muốn hợp tác thân ái” [63, tr. 3]. Chính trong quá trình tìm đường cứu nước, Người đã nhận thấy khoảng cách rộng lớn giữa lý tưởng

37

và hiện thực, giữa lý tưởng nhân văn của các nhà khai sáng Pháp với sự thực hiện những lý tưởng đó trên thực tế.

Trong khi khẳng định sự kế thừa trong sự phát triển lịch sử bằng việc xem Đại cách mạng tư sản Pháp là một mốc lớn trong sự phát triển của lịch sử nhân loại, “nhờ cuộc Đại cách mạng đó mà tư tưởng dân chủ truyền bá khắp châu Âu” [69, tr. 464], Người lại tỏ thái độ mỉa mai đối với những kẻ nhân danh tư tưởng khai sáng Pháp để xâm lược và nô dịch các dân tộc khác trong loạt các bài viết như: Nền văn minh thượng đỉnh, Động vật học, Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Phụ nữ An Nam và sự thống trị của thực dân Pháp …. Trong bài Công ly, Hồ Chí Minh đã tố cáo sự thống trị dã man của thực dân Pháp đối với Việt Nam. Người viết: “Ở Đông Dương có hai thứ công lý. Một thứ cho người Pháp, một thứ cho người bản xứ. Người Pháp thì được xử như ở Pháp. Người An Nam thì không có Hội đồng bồi thẩm, cũng không có luật sư người An Nam …. Nếu có vụ kiện cáo giữa người An Nam với người Pháp thì lúc nào người Pháp cũng có lý cả, mặc dù tên này ăn cướp hay giết người” [59, tr.

420].

Đặc biệt là trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp viết vào năm 1925, chương VIII nói về Công lý, Hồ Chí Minh viết với giọng mỉa mai chua xót: “Công lý được tượng trưng qua hình ảnh một nữ thần tay cầm cân và tay cầm kiếm. Nhưng Đông Dương lại quá xa nước Pháp, muôn trùng cách trở, nên khi nữ thần tới xứ này thì cán cân đã mất thăng bằng, đĩa cân đã chảy lỏng ra và biến thành những tẩu thuốc phiện hoặc những chai rượu ty, nên người đàn bà tội nghiệp chỉ còn lại độc cái kiếm để chém giết. Bà chém giết đến cả người vô tội, và nhất là người vô tội” [60, tr. 91]. Phải chăng đó là công lý của bọn thực dân cướp nước!

Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh được làm sâu sắc thêm chính là nhờ biết đưa vào đó những nội dung mới trong quá trình tiếp thu tưởng nhân văn của phương Tây. Tuy nhiên, Người không dừng lại ở tư tưởng nhân văn trừu

Một phần của tài liệu Tư tưởng khoan dung hồ chí minh (Trang 30 - 63)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(190 trang)