Thực chất của tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh

Một phần của tài liệu Tư tưởng khoan dung hồ chí minh (Trang 86 - 173)

Chương 2. NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ THỰC CHẤT CỦA TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG HỒ CHÍ MINH 2.1. Nội dung cơ bản của tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh

2.2. Thực chất của tư tưởng khoan dung Hồ Chí Minh

Đất nước bị xâm lăng, dân tộc không được độc lập, nhân dân mất tự do, cuộc sống người dân mất nước lầm than, khổ cực. Để cứu nước, cứu dân, đem lại độc lập cho dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân, Hồ Chí Minh đã ra đi với mong muốn tìm đường mới, phù hợp với xu thế vận động của thời đại. Cho nên, độc lập, tự do dân tộc và hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu duy nhất mà Hồ Chí Minh đã dành cả đời mình phấn đấu và theo đuổi. Về mục tiêu này, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn” [113, tr. 44].

Cho nên, có th khng định thc cht ca tư tưởng khoan dung H Chí Minh là tư tưởng v độc lp dân tc và hnh phúc ca nhân dân.

Xuất phát từ tấm lòng khoan dung rộng lớn mà Hồ Chí Minh đã tập hợp, lôi cuốn đông đảo các tầng lớp nhân dân đi theo cách mạng, tạo nên sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam. Chính có lòng khoan dung rộng lớn mà Hồ Chí Minh đã làm thất bại âm mưu chia rẽ của kẻ thù, đã cảm hóa được nhiều nhân sĩ, trí thức có tên tuổi, kể cả các quan lại cao cấp của chế độ cũ. Xuất phát từ những giá trị truyền thống “người trong một nước phải thương nhau cùng”, “dân là gốc của nước”; kết hợp với quan điểm mới, hiện đại – quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”,

“quần chúng nhân dân là chủ thể của lịch sử, là người sáng tạo chân chính ra lịch sử”, Hồ Chí Minh đã phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đã tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân không phân biệt giai tầng,

87

chính kiến, tôn giáo, niềm tin, từ đó tạo nên sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến tháng 12 năm 1946, Hồ Chí Minh đã viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc” [62, tr. 480].

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân ta nhằm đánh đuổi bọn đế quốc thực dân xâm lược. Ngay trong Chánh cương vắn tắt, Đảng ta đã khẳng định mục tiêu của cách mạng Việt Nam là: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập” [24, tr. 2].

Việt Nam là nước nông nghiệp, hầu hết người lao động là nông dân nhưng lại không có ruộng đất vì hầu hết nằm trong tay giai cấp địa chủ phong kiến, người nông dân buộc phải làm thuê, làm mướn và bị bóc lột hết sức nặng nề.

Theo Người, đất nước độc lập mà nhân dân không có tự do, không có cuộc sống ấm no hạnh phúc thì độc lập chẳng có ý nghĩa gì, nên “dân cày có ruộng”

cũng là mục tiêu mà cách mạng Việt Nam cần phải thực hiện nhằm đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Do vậy, đối với Hồ Chí Minh, làm cách mạng không chỉ đánh đổ bọn đế quốc, phong kiến mà còn “thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo” [24, tr. 3].

Trong lịch sử, người phụ nữ phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng chịu rất nhiều thiệt thòi, địa vị thấp kém và hầu như không có vai trò gì trong xã hội, cho nên cách mạng ở Việt Nam không chỉ giải phóng người phụ nữ mà còn nhằm nâng cao vị trí vai trò của người phụ nữ. Tại Đại hội Đảng Cộng sản Đông dương (tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam) đã khẳng định mục đích của Đảng là: “Giải phóng phụ nữ. Phụ nữ phải được hưởng mọi quyền lợi chính trị và kinh tế như nam giới” [26, tr. 102]. Khi tổ chức cách mạng Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) được thành lập, trong

88

chính sách của Việt Nam độc lập đồng minh đã nêu rõ: “Chủ trương liên hiệp hết thảy các tầng lớp nhân dân không phân biệt tôn giáo, đảng phái, xu hướng chính trị nào, giai cấp nào, đoàn kết chiến đấu để đánh đuổi Pháp – Nhật giành độc lập tự do cho xứ sở” [25, tr. 149].

Tư tưởng đoàn kết, hòa hợp dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được cụ thể hóa thành một chính sách cơ bản của Đảng ta trong suốt các thời kỳ cách mạng. Trên nền tảng của khối liên minh công – nông, Đảng ta chủ trương lôi kéo các giai tầng khác đi theo cách mạng. Trong Sách lược vắn tắt, một trong những văn kiện đầu tiên của Đảng, đã nhấn mạnh: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, thanh niên, Tân Việt … để kéo họ đi về phe vô sản giai cấp” [24, tr. 4]. Như trong giai đoạn 1936 – 1939 thành lập Mặt trận dân chủ rộng rãi, sang giai đoạn 1939 – 1945 thành lập Mặt trận Việt Minh. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong điều kiện phải bắt tay với các đảng phái khác như Việt quốc, Việt cách, thì Đảng ta chủ động thành lập Mặt trận Liên Việt (tháng 6 năm 1946) nhằm tập hợp rộng rãi các lực lượng ngoài Việt Minh, đánh đuổi đế quốc thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ sáu mở rộng (từ ngày 15 đến ngày 17 tháng 7 năm 1952) Đảng đã đưa ra chủ trương: “Ta phải củng cố công nông liên minh, đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác, tranh thủ những nhân sĩ yêu nước, yêu hòa bình và dân chủ” [27, tr. 226]. Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Đảng ta cải tổ Mặt trận Liên Việt thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam …. Mỗi mặt trận có tên gọi riêng, có tính chất riêng cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử, nhưng tất cả đều nhằm huy động có hiệu quả mọi lực lượng có thể, tham gia vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng cuộc sống ấm no cho nhân dân.

89

Tư tưởng khoan dung, nhân ái của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống dân tộc, nên đã khắc phục được hạn chế của những cái gọi là khoan dung tình thế, để hướng vào nền văn hóa khoan dung nhân bản bền vững và lâu dài. Suốt đời hoạt động cách mạng, hy sinh quên mình vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một minh chứng tốt nhất cho tư tưởng này. Mục tiêu của dân tộc gắn liền với mục tiêu thời đại, khẳng định quyền tự quyết của dân tộc đi đôi với khẳng định quyền tự quyết của các dân tộc khác. Vì muốn là bạn, muốn quan hệ hữu nghị và chung sống hòa bình với các dân tộc khác mà Việt Nam luôn muốn giữ hòa khí với các dân tộc, nhất là các dân tộc láng giềng lân cận, những nước có chung đường biên giới với Việt Nam.

Dân tộc Việt Nam không phải là dân tộc thích chiến tranh, hiếu chiến và hiếu thắng, nếu có phải chiến đấu cũng chỉ để tự vệ, để giữ gìn quyền độc lập tự do dân tộc mà thôi. Ngay trong Thư gửi những người Pháp ở Đông Dương, tháng 10 năm 1945, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chúng tôi là một dân tộc yêu hòa bình, trọng quyền lợi và tự do của người khác” [62, tr. 67], và cũng rất có lý có tình, Hồ Chí Minh đã chỉ ra tính chất chính nghĩa cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp, kêu gọi lương tri của những người Pháp đang sống ở Đông Dương, và trịnh trọng tuyên bố chính sách bảo vệ tính mạng, tài sản của họ và tình thân ái đối với những người lương thiện. Người viết: “… trên khắp đất nước Việt Nam, sinh mệnh và tài sản của người Pháp vẫn được che chở và tiếp tục được che chở miễn là các người ấy chịu sống yên ổn và không tìm cách gây chuyện. Tôi trịnh trọng tuyên bố rằng những người Pháp làm ăn lương thiện và sống yên ổn sẽ mãi mãi được chúng tôi trọng đãi như bạn bè, như anh em” [62, tr. 67]. Chủ trương này lần nữa được khẳng định trong Thư gửi các kiều dân Pháp ngày 24 tháng 12 năm 1946: “Chúng tôi mong một ngày gần đây, dân chúng Pháp và dân

90

chúng Việt Nam sẽ có thể cùng hợp tác với nhau trong vòng hòa bình và thân ái để mưu hạnh phúc chung cho cả hai dân tộc” [62, tr. 489].

Khi chiến tranh kết thúc, toàn thể nhân dân Việt Nam phải cùng nhau lao động xây dựng lại quê hương đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh, khắc phục những hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại. Tuy những vết thương chưa lành, ký ức về chiến tranh vẫn chưa phai nhạt, nhưng chúng ta vẫn muốn bắt tay với chính kẻ đã từng chà đạp lên dân tộc mình, đã gieo rắc đau thương cho đồng bào và đã từng là kẻ thù của dân tộc mình. Vấn đề này, một mặt do yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước cần phải mở rộng quan hệ với các nước, mặt khác nó cũng thể hiện đạo lý khoan dung của dân tộc, và đây là điểm son trong tư tưởng khoan dung truyền thống, được chứng minh qua các triều đại phong kiến Việt Nam mà lịch sử còn ghi rõ. Tư tưởng này đến Hồ Chí Minh được nâng lên tầm cao mới trên tinh thần nhân văn cộng sản.

Thực dân Pháp từng đô hộ và bóc lột thậm tệ nhân dân Việt Nam gần một trăm năm, thế mà ngay trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không quên gửi thư thăm hỏi tới nhân dân Pháp nhân các ngày lễ lớn của dân tộc Pháp. Người phân biệt rõ ràng, kẻ thù của dân tộc Việt Nam không phải là dân tộc Pháp, càng không phải là nhân dân Pháp, mà là bọn đế quốc thực dân Pháp hiếu chiến và Việt Nam vẫn coi nhân dân Pháp như bạn bè của mình. Trong Thư trả lời bà Sốtxi trong Hội liên hiệp phụ nữ Pháp ngày 22 tháng 9 năm 1946, Người đã kêu gọi: “Phải chấm dứt cuộc huynh đệ tương tàn này, người Việt Nam và người Pháp chúng ta cùng theo đuổi một lý tưởng giống nhau: Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Chúng ta có cùng một mục đích giống nhau là chế độ dân chủ. Chúng ta cần nhờ cậy lẫn nhau.

Người Việt Nam chúng tôi cũng yêu mến nước Pháp và những người Pháp bạn hữu” [62, tr. 303]. Yêu hoà bình, muốn chấm dứt chiến tranh nhằm tránh đổ máu và xây dựng nền hòa bình, đem lại cuộc sống ấm no cho người dân cả hai dân tộc, từ mong muốn đó nên Người đã mơ đến “một ngày rất gần đây, hai

91

dân tộc Pháp – Việt có thể cùng cộng tác trong vòng hòa bình và thân ái để mưu hạnh phúc chung cho hai dân tộc” [62, tr. 488] và “lúc đó hai dân tộc chúng ta sẽ có thể bắt tay nhau trong hòa bình và nhất trí” [63, tr. 725].

Khi chiến tranh Việt – Pháp xảy ra do dã tâm xâm chiếm Việt Nam của bọn hiếu chiến thực dân Pháp, Hồ Chí Minh vẫn tranh thủ những cơ hội dù là rất nhỏ để cứu vãn hòa bình và thiết lập mối quan hệ thân thiện với nước Pháp.

Trong Thư gửi Tổng thống nước Pháp Vanhxăng Ôriôn, ngày 18 tháng 1 năm 1947, tức sau “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” không bao lâu, Người đã bày tỏ quan điểm này: “Nhân dịp ngài được bầu lên giữ chức Tổng thống nước Pháp cộng hòa … biết rõ lòng nhân ái và đức độ cao cả của ngài, tôi xin đề nghị cùng ngài lập lại ngay nền hòa bình để tránh cho hai nước chúng ta khỏi bị hao người thiệt của, và để gây lại sự cộng tác và tình thân thiện giữa hai dân tộc chúng ta” [63, tr. 27]. Nhưng rồi cuộc chiến vẫn xảy ra do thực dân Pháp quyết tâm xâm lược nước ta lần nữa, hòng bắt dân ta tiếp tục cuộc đời nô lệ, buộc toàn dân ta phải đoàn kết cùng nhau tiến hành cuộc kháng chiến, bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ thành quả cách mạng mà chúng ta mới giành được.

Trong cuộc phỏng vấn trả lời nhà báo Mỹ S.Êli Mâysi tháng 9 năm 1947, Người đã nêu rõ quan điểm trong chính sách đối ngoại của nước Việt Nam:

“Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” [63, tr. 220]. Theo Người, các nước dù có chế độ chính trị và ý thức hệ khác nhau, đều có thể chung sống hòa bình, có thể quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhau, điều này có thể thực hiện khi các nước giải quyết các vấn đề tranh chấp quốc tế bằng thương lượng hòa bình, tôn trọng độc lập và chấm dứt sự can thiệp của chủ nghĩa đế quốc vào công việc nội bộ các nước khác.

Ngay từ khi ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đồng thời tìm bạn đồng minh cho cách mạng Việt Nam. Người tìm đường cứu nước theo phương hướng mới, đã gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, bắc nhịp cầu

92

đoàn kết, hữu nghị với các dân tộc trên thế giới để đấu tranh vì hòa bình, độc lập, tự do. Người đã coi cách mạng Việt Nam là bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới. Do được trang bị lý luận khoa học và phương pháp luận biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã nhận thức được sự cần thiết đoàn kết các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đoàn kết là sức mạnh đảm bảo cho sự thắng lợi của cách mạng. Đúng như lời phát biểu của Muller Helen Magrine, Ủy viên Hội đồng cố vấn SIPA Trường đại học Columbia (New York), Phó Chủ tịch Hội đồng Carnegie về đạo đức và các vấn đề quốc tế (New York): “Bác Hồ, nhà yêu nước vĩ đại đã dành cả cuộc đời nghiên cứu mọi công thức chính phủ trong mọi điều kiện, ở mọi xứ nhằm đạt đến một mục đích cố định: tự do cho dân tộc mình. … Hồ Chí Minh, nhà chính khách; Hồ Chí Minh, người của nhân dân” [122, tr. 54].

Chính vì đồng cảm và yêu thương những con người lao động mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành trọn cả đời mình cho hoạt động và đấu tranh cách mạng, không chỉ vì giải phóng dân tộc Việt Nam, mà còn vì sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, vì lẽ đó mà Hồ Chí Minh đã trở thành người bạn thân thiết của các dân tộc có cùng cảnh ngộ. Tiến sĩ Roeslan Abdulgani, Chủ tịch nhóm cố vấn của Tổng thống về Panscasila, hệ tư tưởng của Nhà nước In-đô-nê-xi-a đã nhận xét: “Bác Hồ sống mãi trong trái tim của nhân dân In-đô-nê-xi-a như một người yêu nước, đã chiến đấu không biết mệt mỏi cho nền độc lập dân tộc. Người cũng là một người quốc tế nhân đạo và một người của cả nhân loại yêu quý hòa bình và hợp tác với các dân tộc trên cơ sở tự do, độc lập và hiểu biết lẫn nhau dựa trên bình đẳng phù hợp với phẩm giá của con người …” [122, tr. 53 - 54].

Tuy thời gian lưu lại ở Mỹ không lâu, song Người cũng nhận ra rằng nhân dân Mỹ không phải là những người muốn chiến tranh, muốn xâm lược và nô dịch các nước khác, mà cũng là những người yêu tự do và hòa bình. Do chỗ

“nhân dân Việt Nam hiểu rõ rằng nhân dân Mỹ muốn sống hòa bình và hữu

93

nghị với các dân tộc khác” [69, tr. 271], nên Người khẩn thiết kêu gọi nhân dân Mỹ dũng cảm đấu tranh chống chính sách xâm lược của chính phủ Mỹ đối với Việt Nam “… vì công lý và tiến bộ tự do, vì hòa bình và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước” [69, tr. 276].

Như thế ngay cả trong thời kỳ chiến tranh, Hồ Chí Minh vẫn duy trì quan hệ với bản thân những nước đang trực tiếp gây chiến, Người tranh thủ mọi cơ hội, kể cả những cơ hội nhỏ nhất, để thiết lập quan hệ hữu nghị hợp tác, hòa bình giữa các dân tộc. Chính vì vậy, N. Ventkaratama (Ấn Độ) đã có nhận xét như sau: “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại tấm gương sáng cho chúng ta noi theo. Di sản của Người sống mãi và tiếp tục khích lệ hàng triệu người trên thế giới, những người yêu chuộng tự do và bình đẳng thật sự giữa các dân tộc không phân biệt màu da, chủng tộc và tôn giáo” [57, tr. 148].

Trong những năm tháng gian khổ và hào hùng của dân tộc, từ sau thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945 đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấm nhuần triết lý khoan dung ấy của cha ông. Nó là hành trang theo suốt chiều dài gần một thế kỷ đau thương và anh dũng của các thế hệ Việt Nam. Như chúng ta đã biết, sau khi giành được độc lập dân tộc, nhân dân ta mong muốn mở rộng mối quan hệ với các nước khác trên tinh thần giao lưu đối thoại, hướng đến lợi ích chung. Để duy trì hòa bình và tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh với cương vị người đứng đầu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã không ít lần nhượng bộ với mong muốn ngăn chặn cuộc chiến có thể xảy ra, được thể hiện thông qua Hiệp định sơ bộ (ngày 06 tháng 3 năm 1946), Tạm ước (ngày 14 tháng 9 năm 1946), các bức thư, các bài phát biểu gửi nhân dân Pháp và những đại diện của nhà nước Pháp. Tuy nhiên, nếu sự thỏa hiệp dẫn tới việc phá vỡ các nguyên tắc, các thông lệ trong sinh hoạt quốc tế, vi phạm quyền làm người của một dân tộc vừa giành được độc lập, người dân mới được hưởng chút ít tự do, thì con

Một phần của tài liệu Tư tưởng khoan dung hồ chí minh (Trang 86 - 173)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(190 trang)