CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1.1. Quan điểm tích hợp và sự thể hiện trong dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Tích hợp (integration) là một khái niệm rộng, không chỉ dùng trong lĩnh vực lí luận DH mà là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, ở mỗi lĩnh vực khoa học khác nhau cũng được hiểu và ứng dụng khác nhau. Đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra cách hiểu của mình về quan điểm tích hợp. Dưới đây, chúng tôi xin trích dẫn một số ý kiến của các nhà nghiên cứu về lĩnh vực này:
Tích hợp, theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) định nghĩa “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối thống nhất” [14, tr.510].
Theo tác giả Nguyễn Trí thì “Tích hợp là một quan điểm dạy học hiện đại nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức ngày càng lớn trong khi đó thời gian học tập có hạn” [24, tr.26].
Theo nhóm tác giả biên soạn Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 1:
“Tích hợp nghĩa là tổng hợp trong một đơn vị học, thậm chí một tiết học hay một bài tập nhiều mảng kiến thức và kĩ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian học tập cho người học” [13, tr.48].
Dựa trên nghiên cứu một số tài liệu liên quan, tác giả Lê Thị Thanh Hà cho rằng “Tích hợp là sự phối kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống kiến thức của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau vào trong một đơn vị kiến thức cụ thể (môn học/chương học/bài học) để làm thành một nội dung dạy học thống nhất sao cho HS sẽ có được hệ thống tri thức, kĩ năng tối đa và được hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực một cách hài hoà, toàn diện” [5, tr.235].
Bao quát các khái niệm trên chúng tôi thấy rằng, các ý kiến trên đều thống nhất với khái niệm tích hợp được nêu trong Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể của Bộ GD&ĐT: tích hợp là kết hợp các phần, các bộ phận với nhau trong một tổng thể hay “xác lập cái chung, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ” nhằm nâng cao hiệu quả GD. Từ đó chúng tôi hiểu rằng, tích hợp là một hoạt
động mà ở đó cần phải kết hợp, liên hệ các yếu tố có liên quan với nhau để giải quyết một vấn đề, qua đó đạt được nhiều mục tiêu khác nhau. Do đó DH tích hợp, các quá trình học tập không tách rời cuộc sống hằng ngày mà được tiến hành trong mối liên hệ với các tình huống cụ thể.
1.1.1.2. Quan điểm tích hợp
Tích hợp là một quan điểm DH hiện đại nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa lượng kiến thức ngày càng tăng với lượng thời gian không thay đổi. Tích hợp là tổng hợp trong một đơn vị học (hoặc có thể là một tiết học, một bài tập) nhiều mảng kiến thức và kĩ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệu quả GD và tiết kiệm thời gian học tập cho người học. Có thể thực hiện tích hợp theo chiều ngang (nguyên tắc đồng quy) hoặc chiều dọc (nguyên tắc đồng tâm). DH tích hợp luôn là định hướng đúng đắn để thực hiện đổi mới nội dung, PPDH theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất cho HS nhất là trong xã hội ngày nay.
Quan điểm tích hợp là một trong các quan điểm biên soạn chương trình SGK Tiếng Việt mới nhằm phát huy tính tích cực của HS. Đây là một quan điểm chỉ đạo cho việc xây dựng chương trình học trong nhà trường. Định hướng cơ bản trong việc biên soạn chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học là: dạy tiếng Việt thông qua hoạt động giao tiếp, tận dụng những kinh nghiệm sử dụng tiếng Việt của HS, vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy tiếng Việt, kết hợp dạy Tiếng Việt với dạy văn hoá và dạy văn, thực hiện hoàn chỉnh từng bước nội dung DH. Trong đó, việc vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy tiếng Việt được thể hiện ở các dạng: “tích hợp trong nội bộ môn Tiếng Việt, kết hợp dạy các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói trong từng bài học, kết hợp dạy thực hành các kĩ năng trên với dạy kiến thức về tiếng Việt”, “tích hợp nội dung các môn học khác vào ngữ liệu Tiếng Việt và tích hợp dạy tiếng Việt khi dạy các môn học khác” [24, tr.44]. Có nhiều phương pháp để thể hiện những định hướng DH tiếng Việt ở trên. Trong số đó, có các phương pháp hiện nay thường được dùng như phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp rèn luyện theo mẫu, phương pháp thực hành…
Quá trình DH theo quan điểm tích hợp lấy chủ thể người học làm xuất phát điểm và đích đến, trong đó tích hợp là việc tổ chức nội dung DH của GV sao cho HS có thể huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó lại hình thành những kiến thức, kĩ năng
mới, từ đó phát triển được những năng lực cần thiết. Trong môn học Tiếng Việt ở Tiểu học, DH tích hợp là việc tổ chức các nội dung của các phân môn Học vần, Tập Viết, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn giúp HS từng bước nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt trong việc tiếp nhận và tạo lập các VB thuộc các kiểu loại và phương thức biểu đạt khác nhau.
Như vậy, quan điểm DH tích hợp là một định hướng trong đổi mới căn bản và toàn diện GD hiện nay đã được triển khai và được GV tiếp nhận. Những bài dạy theo hướng tích hợp giúp HS có nhu cầu học tập hơn và mong muốn được giải đáp được những thắc mắc, phục vụ cho cuộc sống của mình và cộng đồng. Đây cũng là con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất để phát triển phẩm chất và năng lực của HS, đặc biệt năng lực giải quyết vấn đề trong thực tiễn.
1.1.1.3. Dạy học theo quan điểm tích hợp môn Tiếng Việt ở Tiểu học a) Bản chất của dạy học theo quan điểm tích hợp
Trong Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể, thuật ngữ
“Dạy học theo quan điểm tích hợp” được hiểu là “định hướng dạy học giúp học sinh phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng,... thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng” [2, tr.32].
Như vậy có thể thấy rằng, DH tích hợp (DH theo quan điểm tích hợp) “là định hướng DH trong đó GV tổ chức, hướng dẫn để HS biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, đời sống; thông qua đó, hình thành những kiến thức, kĩ năng mới; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống” [5, tr.235].
Từ cách hiểu trên chúng tôi thấy rằng, khi DH Tiếng Việt ở Tiểu học theo quan điểm tích hợp, GV cần chú ý thực hiện PPDH tích cực hoá hoạt động của HS. Trong đó thầy, cô đóng vai trò người tổ chức, hướng dẫn hoạt động của HS để các em biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, đời sống; “mỗi HS đều được hoạt động, mỗi HS đều được bộc lộ mình và được phát triển”. Thông qua đó, hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, đồng thời phát triển những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống. Bên cạnh đó, theo quan điểm tích hợp, GV cũng
cần áp dụng linh hoạt các dạng thức tích hợp: tích hợp trong nội bộ môn Tiếng Việt, kết hợp dạy các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe; tích hợp nội dung các môn học khác vào ngữ liệu tiếng Việt và tích hợp dạy tiếng Việt khi dạy các môn học khác. Theo quan điểm tích hợp, GD nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại, cần chú ý kết hợp dạy tiếng Việt với dạy văn hóa. Trong quá trình DH tiếng Việt “cần từng bước cho HS nhận biết cái đẹp, cái chân, cái thiện của các bài trích từ tác phẩm văn học, nhận biết các giá trị VHƯX của dân tộc cũng như vẻ đẹp của tiếng Việt khi giao tiếp” [24, tr.44]. Những hiểu biết trên sẽ góp phần quan trọng vào việc GD nhân cách sống và những giá trị sống tốt đẹp cho HS mà người GV cần quan tâm.
b) Sự thể hiện quan điểm tích hợp trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Chương trình Tiếng Việt tiểu học hiện nay xây dựng theo quan điểm tích hợp.
DH Tiếng Việt theo hướng tích hợp có thể thực hiện tích hợp theo chiều ngang (nguyên tắc đồng quy) hoặc chiều dọc (nguyên tắc đồng tâm). Quan điểm tích hợp được trình bày cụ thể trong sách GV Tiếng Việt ở Tiểu học [22, tr.5-6] như sau:
Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp kiến thức tiếng Việt với các mảng kiến thức về văn học, tự nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc đồng quy. Hướng tích hợp này được SGK Tiếng Việt ở Tiểu học thực hiện thông qua hệ thống các chủ điểm học tập. Bằng việc tổ chức hệ thống bài đọc, bài học theo chủ điểm, SGK dẫn dắt HS đi dần vào các lĩnh vực của đời sống, qua đó tăng cường vốn từ và khả năng diễn đạt của các em về nhà trường, gia đình và xã hội, đồng thời cũng mở cánh cửa cho các em bước vào thế giới xung quanh và soi vào thế giới tâm hồn của chính mình. Đây là giải pháp để thực hiện mục tiêu cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người về văn hóa, văn học của Việt Nam và của nước ngoài. Sách Tiếng Việt 2 thực hiện mục tiêu tích hợp nói trên thông qua hệ thống các chủ điểm học tập như: Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, Thầy cô, Ông bà, Cha mẹ, Chim chóc, Sông biển, Cây cối... Theo quan điểm tích hợp, các phân môn (Học vần, Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn) trước đây ít gắn bó với nhau nay được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc, các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng cũng gắn bó chặt chẽ với nhau hơn trước.
Tích hợp theo chiều dọc nghĩa là tích hợp đơn vị kiến thức và kĩ năng mới với những kiến thức và kĩ năng đã được học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm (còn gọi là đồng trục hay vòng tròn xoáy trôn ốc). Cụ thể là: kiến thức và kĩ năng mới hình thành bao hàm kiến thức và kĩ năng đã hình thành trước đó, nhưng cao hơn và sâu hơn.
Hướng tích hợp này được SGK Tiếng Việt ở Tiểu học thực hiện thông qua việc phân bố các kiến thức và kĩ năng của từng lớp sao cho kiến thức, kĩ năng của lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức, kĩ năng của lớp dưới, bậc học dưới nhưng cao hơn, sâu hơn. Chẳng hạn như các chủ điểm được học ở lớp 1: Thầy cô, Cha mẹ, Ông bà, Nhà trường, Bạn bè…, ở lớp 2, mỗi chủ điểm đó được chia thành nhiều chủ điểm nhỏ, tạo điều kiện cho HS hiểu biết sâu hơn so với lớp dưới. Ví dụ, khi học bài “Tôi là HS lớp 1” [9, tr.4] HS bước đầu tiếp cận được những kiến thức và kĩ năng sơ giản về bản thân, biết yêu quý thầy cô, bạn bè và nhà trường, biết bộc lộ tình cảm cảm xúc của bản thân.
Lên đến lớp 2, khi được học bài “Có công mài sắt có ngày nên kim” lúc này HS không chỉ biết bày tỏ tình cảm cảm xúc cá nhân nữa mà đã ở mức độ cao hơn, đó là hiểu được bản thân mình, biết tự đánh giá ưu, khuyết điểm của bản thân và biết phát huy ưu điểm và điều chỉnh khuyết điểm. Do đó, việc thực hiện chương trình Tiếng Việt không chỉ DH những tri thức, kĩ năng đặc thù của từng phân môn, GV còn phải tìm ra yếu tố
“đồng quy” giữa các phân môn. Đồng thời, GV phải có ý thức khai thác các yếu tố chung có thể tích hợp trong 1 bài học một cách nhuần nhuyễn, tự nhiên, không máy móc, gượng ép, áp đặt. Phải ý thức triệt để việc tích cực hóa hoạt động của HS.
Hướng tích hợp trên được SGK Tiếng Việt ở Tiểu học được bố trí thành hai vòng [13]:
“Vòng 1 (gồm các lớp 1, 2, 3) tập trung hình thành ở HS các kĩ năng đọc, viết và phát triển kĩ năng nghe, nói với những yêu cầu cơ bản: đọc thông và hiểu đúng nội dung một bài văn ngắn; viết rõ ràng và đúng chính tả; thông qua các bài tập thực hành, bước đầu có một số kiến thức sơ giản về từ, câu, đoạn văn và văn bản.
Vòng 2 (gồm các lớp 4, 5) cung cấp cho HS một số kiến thức sơ giản về tiếng Việt để phát triển các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết ở mức độ cao hơn với những yêu cầu cơ bản như: hiểu đúng nội dung và bước đầu đọc diễn cảm bài văn, bài thơ ngắn; biết cách viết một số kiểu văn bản; biết nghe - nói về một số đề tài quen thuộc” [13, tr. 49].
Mặt khác, tính tích hợp của chương trình và SGK Tiếng Việt còn thể hiện ở mối liên thông giữa kiến thức sách vở và kiến thức đời sống (qua việc tìm hiểu các VB văn
học, đặc biệt là các VB nhật dụng, VB hành chính, qua chương trình dành cho địa phương), liên thông giữa kiến thức, kĩ năng của môn Tiếng Việt với các môn học khác, nhằm giúp HS có được kiến thức và kĩ năng thực hành toàn diện, góp phần GD đạo đức công dân, kĩ năng sống, hiểu biết xã hội,... Đây là giải pháp để thực hiện mục tiêu GDVHƯX qua DH các phân môn Tiếng Việt theo quan điểm tích hợp cho HS một cách hiệu quả.
Tóm lại, việc DH Tiếng Việt theo hướng tích hợp là định hướng DH Tiếng Việt vừa mang tính kế thừa vừa mang tính phát triển. Tuy nhiên trên thực tế chúng ta thấy rằng, mặc dầu chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học được thực hiện theo quan điểm tích hợp nhưng như vậy không có nghĩa là các kiến thức, kĩ năng được tích hợp phải có dung lượng kiến thức, kĩ năng ngang bằng nhau mà vẫn phải có điểm nhấn, chẳng hạn như: trọng tâm của tiết dạy đã được xác định ở mục Mục đích, yêu cầu của mỗi tiết dạy. Không nắm được đặc điểm này, GV dễ hiểu lầm yêu cầu tích hợp, dẫn tới sa đà, lan man, gán ghép một cách khiên cưỡng trong DH. Cho nên, muốn dạy tốt môn Tiếng Việt theo hướng này, GV cần nhận thức đúng đắn về vấn đề này là “giảng dạy theo quan điểm tích hợp không phủ định việc DH các tri thức, kĩ năng riêng của từng phân môn”. Nhưng làm thế nào phối hợp các tri thức, kĩ năng thuộc từng phân môn thật nhuần nhuyễn; kết hợp thật tốt việc hình thành cho HS năng lực và phẩm chất nhằm đạt tới mục tiêu chung của môn Tiếng Việt? Đây là vấn đề GV cần quan tâm tìm biện pháp thực hiện. Giải quyết được vấn đề này thì việc xử lí các tình huống GD trở nên mềm dẻo hơn, phát huy được tính tích cực của HS, góp phần đổi mới nội dung và PPDH ở trường tiểu học.
1.1.1.4. Nguyên tắc tích hợp
Để đảm bảo tính phù hợp và hiệu quả, khi thực hiện DH tích hợp, người GV cần quan tâm tới những yêu cầu có tính nguyên tắc như sau:
Thứ nhất, tích hợp nhưng không làm thay đổi đặc trưng của môn học. Để thực hiện yêu cầu này, khi DH, GV cần hiểu rằng: mặc dù mỗi bài học được thực hiện theo hướng tích hợp nhưng như vậy không có nghĩa là các kiến thức, kĩ năng được tích hợp phải có dung lượng kiến thức, kĩ năng ngang bằng nhau mà vẫn phải có điểm nhấn (trọng tâm của tiết dạy đã được xác định ở mục Mục đích, yêu cầu của mỗi tiết dạy).
Do vậy, phần tích hợp là phần để hỗ trợ nhằm đảm bảo tốt hơn cho việc đạt được những mục tiêu và nội dung chính của bài dạy. Ví dụ: mục tiêu quan trọng nhất của