Mục tiêu:
Trình bày được nhiệm vụ, nội dung công việc của quá trình trải, cắt bán thành phẩm.
Nội dung chính:
4.1.Chuẩn bị bàn cắt
- Chuẩn bị dụng cụ, thiết bị, bàn cắt phù hợp với sơ đồ giác.
- Nhận kế hoạch sản xuất, mẫu sơ đồ cắt ( đã được chuẩn bị hoàn chỉnh ở khâu thiết kế sơ đồ cắt). Tiến hành kiểm tra lại bằng cách đo và đối chiếu, đối chiếu lại dữ liệu ghi trên đầu mẫu.
- Kê bàn cắt: Căn cứ vào chiều dài của mẫu , chuẩn bị bàn cắt đảm bảo chiều dài của bàn cắt lớn hơn chiều dài của mẫu sơ đồ 5 – 20cm, chiều rộng của bàn cắt tương ứng chiều rộng của mẫu sơ đồ.
- Mực sơ đồ trên bàn cắt: Đặt mẫu sơ đồ lên bàn cắt, điều chỉnh cho mẫu sơ đồ nằm cân đối trên bàn cắt , đầu sơ đồ mẫu cách đầu bàn phía để vải 1 – 2cm và sang dấu toàn bộ khung mẫu lên bàn trải vải trên suốt chiều dài của bàn trải vải. Đánh dấu vị trí của các chi tiết chính, phụ để trong quá trình trải vải nếu gặp những lỗi vải thì đặt vào những khu vực của chi tiết phụ có thể sử dụng được không phải loại bỏ. Chiều dài bàn vải phải đủ và bằng chiều dài sơ đồ cộng thêm 3cm hao phí đầu bàn.
Đây là khâu quyết định đến định mức của bàn vải, do đó việc kiểm tra kỹ thuật được tiến hành thường xuyên theo ba cấp kết hợp với kiểm tra sơ đồ cắt.
4.2. Trải vải 4.2.1. Khái niệm:
Là cách đặt chồng lên nhau nhiều lớp vải có cùng khổ và chiều dài lên bàn cắt đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật quy định.
4.2.2. Các phương pháp trải vải a. Trải Ziczắc
Cách trải này các lớp vải được trải với hai mặt phải vải úp vào nhau. Hai mặt trái úp vào nhau. Chiều của mỗi lớp vải ngược chiều nhau. Các lá vải không được cắt đầu bàn.
b. Trải vải cắt đầu bàn có chiều
Cách trải này các lớp vải được trải với mặt phải và mặt trái úp vào nhau. Chiếu của các lớp vải cùng chiều, các lá vải được cắt đầu bàn. Một lượt đi về của công nhân là không làm việc
Hình 4-1.Trải vải Ziczắc
Hình 4-2.Trải vải cắt đầu bàn có chiều
51 c. Trải vải cắt đầu bàn không chiều
Các lớp vải đi từng cặp mặt phải với mặt phải, mặt trái với mặt trái. Các lớp vải được cắt đầu bàn. Chiều các lá vải ngược nhau.
4.2.3. Yêu cầu kỹ thuật khi trải vải
- Chiều dài bàn vải phải đủ và bằng chiều dài sơ đồ cộng thêm 2 - 3cm hao phí đầu bàn
- Chiều cao bàn vải ( số lớp) phụ thuộc vào chất liệu vải và do phòng kỹ thuật quy định. Để cắt chính xác, bàn vải không được dày quá.
+ Nguyên liệu mỏng trung bình trải từ 150 – 250 lớp + Nguyên liệu trung bình trải khoảng 100 lớp
+ Nguyên liệu dày trải tối đa 70 – 80 lớp
- Mặt phải vải theo đúng yêu cầu của bảng mầu do phòng kỹ thuật quy định.
- Các lớp vải phải trải êm phẳng, không trùng, không găng, không gấp nếp.
- Bàn trải vải phải đảm bảo 3 cạnh đứng thành: hai đầu và một cạnh 4.2.4. Kỹ thuật trải vải
* Trước khi trải vải:
- Khi được tổ trưởng phân công trải một bàn vải, người thợ trải vải phải xem phiếu bàn cắt để biết được tên mã hàng, cỡ vóc, loại vải, màu sắc của vải, chiều dài bàn vải, số lượng cần trải.
- Kiểm tra so với phiếu sản xuất ( định mức), mẫu sơ đồ, bảng màu, tất cả các yếu tố phải khớp nhau 100%. Nếu còn một yếu tố nào đó mâu thuẫn thì phải báo ngay cho tổ trưởng để giải quyết.
- Xem quy trình, hay được nghe tổ trưởng phổ biến quy trình để biết được yêu cầu kỹ thuật của mã hàng đó.
- Nắm được tính chất của vải để tìm ra cách trải tốt nhất. ( Đối với loại vải có độ đàn hồi lớn thì phải dỡ vải ra để sau 24h mới được trải).
- Xem xét biên bản kiểm tra chất lượng vải của bộ phận kiểm tra (nếu có). Dỡ vải ra kiểm tra nếu thấy có khuyết tật nhiều thì phải báo cho tổ trưởng hoặc bộ phận kiểm tra để giải quyết.
b. Thao tác trải vải:
Cách 1: ( Không có máy xén đầu bàn)
Ba người trải một bàn vải: Người ngồi trên bàn có nhiệm vụ kéo dỡ vải và xén cắt. Hai người còn lại chạy đặt lá vải, cầm que điều chỉnh lá vải cho êm phẳng đạt yêu cầu kỹ thuật.
Cách 2: ( Có máy xén đầu bàn phụ trợ)
Hình 4-3.Trải vải cắt đầu bàn không chiều
52 Hai người trải một bàn vải: Mỗi người một bên cầm đầu lá vải, cùng kéo dỡ và đặt lá vải, điều chỉnh lá vải phẳng phiu. Người bên phải có nhiệm vụ đẩy máy cắt xén đầu bàn và nâng thanh chặn đầu bàn để chặn bàn vải.
c. Quy định chung:
- Trải lá đầu tiên dài hơn mẫu sơ đồ 2 – 3cm, xong kéo lên thước chặn 1cm. Trải tiếp lá thứ 2 bằng lá thứ nhất rồi đo lại mẫu. Lấy chuẩn định mức chiều dài, chiều rộng, từ lá thứ 3 trải đảm bảo bằng lá mẫu.
- Khi trải vải, người ngồi dùng tay trái và tay phải dỡ cuộn vải đồng thời dùng mắt nhìn để kiểm tra chất lượng vải. Người chạy tay cầm lá vải, tay cầm que gạt, vừa di chuyển vừa kéo lá vải. Khi tới đầu bàn, 2 người kết hợp cầm 2 đầu mép vải căng vừa phải, điều chỉnh và đặt lá vải đúng vị trí quy định sao cho thẳng 2 mép và không xô lệch. Người ngồi xén, tay cầm lá vải sát mép ngoài của thước chặn, tay phải cầm dao xén từ trái qua phải. Người chạy bắt lấy mép vải vừa di chuyển vừa dùng que gạt cho phẳng mặt vải và bắt cho bằng mép vải phía mình đang di chuyển, đồng thời kiểm tra chất lượng vải ( đối với cách 1).
- Khi trải vải, mỗi người một bên cầm mép vải cùng di chuyển và kéo lá vải, đặt lá vải đúng vị trí. Hai người cùng sắp biên vải 2 bên bằng mép. Khi về đến đầu bàn người bên trái đẩy máy cắt xén đầu bàn từ bên trái sang bên phải và kéo máy trở lại vị trí đồng thời nâng thanh chặn đầu bàn lên để chặn bàn vải. Trong quá trình trải vải cả 2 cùng kiểm tra chất lượng vải. ( đối với cách 2).
d.Những điểm cần lưu ý:
- Nếu mẫu có ghi rõ bên mép bằng thì yêu cầu phải trải đúng vị trí mép bằng.
- Trong khi trải vải phải luôn để ý đến khổ vải, nếu thấy khổ vải hẹp hơn hay rộng hơn mẫu thì phải bỏ ra để báo cho bên kho đo lại, nâng hay hạ khổ báo cho phòng kỹ thuật làm lại mẫu. Trường hợp tự giải quyết nâng khổ khi biên vải ăn vào mẫu 0,5cm thì lấy mẫu khổ rộng hơn cùng mã để trải.
- Phải tiếp tục phát hiện những khuyết tật của vải, tính toán nếu khuyết tật dưới 1% thì trải tiếp, nếu trên 1% thì phải báo cho tổ trưởng hoặc KCS để giải quyết.
- Những lỗi vải có thể khắc phục bằng cách cắt bỏ, ráp nối, đánh dấu vị trí lỗi trên bàn vải để sau khi cắt tiến hành thay thân tại các vị trí đó. Dùng các biện pháp đánh dấu lỗi vải ( dán giấy, vẽ phấn, đặt dây...) để phát hiện lỗi vải nhanh hơn trong quá trình thay thân.
* Sau khi trải vải:
- Kiểm tra xung quanh, phát hiện và sử lý những lá vải bị gấp hụt, đo mẫu kiểm tra chiều dài mẫu xem trải vải có đúng không?
- Kiểm tra lại số lá vải so với phiếu theo dõi bàn cắt có khớp không? Ghi khổ vải lên mép đầu đặt lá vải của mép bằng để thợ cắt tìm mẫu cho nhanh, cài phiếu theo dõi bàn cắt vào bàn vải.
4.3. Sang lại sơ đồ lên bàn vải
Có nhiều phương pháp sang lại sơ đồ lên bàn vải, căn cứ vào nguyên liệu, quy mô sản xuất, số lượng sản phẩm theo kế hoạch sản xuất mà áp dụng cho hợp lý.
Thông thường người ta thường sử dụng các phương pháp sang lại sơ đồ lên bàn vải sau:
53 4.3.1. Phương pháp xoa phấn
- Sơ đồ sau khi giác xong đem đi đục lỗ (khoan lỗ)
- Đặt sơ đồ đã đục lỗ lên trên bàn vải: Dựa vào mép bằng của bàn vải, áp đầu mẫu thứ nhất bằng đầu xén bàn vải. Dùng thanh chặn thứ nhất giữ mẫu, tiếp tục giữ mẫu và di chuyển tới đầu kia của bàn vải. Khi thấy đầu mẫu khớp với đầu của bàn vải, đặt thanh chặn thứ 2 lên giữ đầu mẫu còn lại. Chỉnh mẫu chuẩn với bàn vải, sau đó dùng thanh chặn thứ 3 chặn lên bàn vải sao cho cách thanh chặn thứ nhất 50cm để xác định khoảng xoa phấn.
- Xoa phấn lên sơ đồ theo đường đục lỗ và xoa phấn theo thứ tự từ trái qua phải, tay trái giữ chặt mẫu, tay phải dùng chổi xoa phấn. Xoa hết chi tiết này mới sang chi tiết khác. ở những vị trí có đường cắt phải xoa kỹ, xoa hết khoảng này rồi thì di chuyển thanh thứ nhất sang vị trí tiếp theo với khoảng cách như trên( phải kiểm tra các vết bấm ly, dấu phối kiện). Sau khi xoa phấn xong lấy sơ đồ ra, cuộn mẫu theo đúng yêu cầu và để vào nơi quy định.
Trên một bàn vải, lá đầu tiên gọi là lá mặt bàn, để thuận tiện cho việc theo dõi và hạch toán bàn cắt, tất cả những lá mặt bàn trước khi cắt phải viết ký hiệu mặt bàn. Cụ thể ghi tên chi tiết, sản phẩm , ký hiệu sản phẩm, cõ số, tên người cắt, ngày cắt và số bàn cắt.
Yêu cầu kỹ thuật:
- Chọn mầu phấn thích hợp để xoa, không được dùng các màu phấn qua đậm để xoa
- Xoa phấn phải chính xác, đường phấn phải rõ ràng.
4.3.2. Phương pháp vẽ lại mẫu sơ đồ
Sử dụng sơ đồ chụp ảnh thu nhỏ tỷ lệ để vạch mẫu chuẩn lên lá vải mặt bàn, áp dụng đối với sản phẩm có số lượng nhỏ.
4.3.3. Phương pháp cắt sơ đồ cùng bàn vải
Đặt sơ đồ lên bàn vải, ghim thật chắc vào bàn vải. Phương pháp này tốn nhiều thời gian sang lại sơ đồ (số sơ đồ bằng số bàn cắt) nhưng cắt chính xác và dễ kiểm tra những trường hợp sai hỏng do người giác sơ đồ hay do người cắt. Phương pháp này phổ biến nhất hiện nay.
* Ghi chép, tổng hợp
- Sau khi đã trải sơ đồ, kẹp bàn vải cần ghi chép đầy đủ và tổng hợp các thông tin vào Phiếu bàn cắt.
- Đo đầu tấm chính xác, ghi chiều dài đầu tấm và đóng dấu ở đầu mép, xếp thứ tự từ tấm to đến tấm nhỏ, bó buộc gài định mức để vào nơi quy định ( để bàn giao lại cho bộ phận kho được thuận tiện).
VD: Mẫu phiếu bàn cắt
Công ty:... BM số:...
Đơn vị sản xuất:...
Ngày...tháng...năm...
54 PHIẾU BÀN CẮT
Mã hàng: Đơn hàng:
Loại vải: Màu:
Bàn
cắt Cỡ Rộng Dài Số cây Số lớp vải Thứ tự lớp Ghi chú
S – M - L Cây 1 20 Lớp 1 - 20 Bóc tập 20
Cây 2 Cây 3
Công nhân trải vải Tổ trưởng ...
...
4.4. Cắt bán thành phẩm 4.4.1.Cắt phá
Sử dụng máy cắt đẩy tay ( thường gọi là máy cắt tay), dùng chia bàn vải ra nhiều nhóm chi tiết nhỏ hoặc sử dụng máy cắt tay để cắt chi tiết lớn ( cắt thô). Cắt lần lượt từ trái qua phải. Tay trái đặt hay cầm bên mép không bằng của bàn vải. Tay phải cầm chuôi máy, ngón trỏ luôn đặt vào chỗ hãm chân vịt, dùng ngón cái bật công tắc điện, đồng thời dùng khuỷ tay và bàn tay phải để di động máy ( đẩy máy). Tay trái dùng 3 ngón ( cái, trỏ, giữa) nâng chân vịt vừa phải để êm và cầm êm mép không bằng di chuyển dần. Cứ như thế cắt xong một đường cắt ở mép không bằng, dừng máy lại chuyển sang cắt đường khác ( thao tác cắt như trên).
- Khi cắt xong, dừng máy lại kiểm tra bàn vải thấy đạt yêu cầu chất lượng thì tiếp tục cắt. Dùng 4 ngón tay để dưới, ngón cái để trên giữ mép vải, tiếp tục nâng chân vịt như lần trước rồi đưa máy vào đường cắt, cắt theo quy định. Sau khi cắt xong một đường, muốn cắt sang đường khác thì một tay giữ nhẹ chân vịt và hơi nâng lên, tay kia từ từ rút máy về ohía lòng mình theo một đường thẳng ( không được kéo mạnh gây xô lệch vải).
Chú ý: Khi cắt xong những đường cắt cong hoặc vuông góc, phải tắt máy mới được rút máy ra.
4.4.2. Cắt gọt
Cắt gọt ( cắt tinh): Sử dụng máy cắt vòng hoặc máy dập. Thường dùng để cắt lại cho chính xác các chi tiết đã cắt thô hoặc các chi tiết nhỏ cần độ chính xác cao.
Đặt mẫu cắt gọt lên tập vải, dùng kẹp để kẹp giữ mẫu và tập vải không bị xê dịch trong lúc cắt. Khi cắt dùng 2 tay di chuyển tập vải trên mặt bàn cắt vào lưỡi dao cắt đang chuyển động tiến hành cắt gọt chi tiết theo mẫu.
Sau khi cắt:
- Dùng mẫu catton áp vào lá trên và dưới BTP để kiểm tra xem có lẹm hoặc hụt không, các mép cắt đảm bảo chính xác, sắc nét không gẫy khúc, xơ, cháy.
- Kiểm tra các dấu bấm, các vị trí lấy dấu phải đầy đủ, rõ ràng.
Bảng 4-1.Phiếu bàn cắt
55 - Đặt các chi tiết cần phải đối xứng để kiểm tra lại
- Kiểm tra các chi tiết theo dấu phối kiện cho chính xác Yêu cầu kỹ thuật
- Bán thành phẩm cắt ra phải đúng theo tiêu chuẩn , kích thước đã quy định.
- Cắt đúng đường phấn, đúng đường vẽ, đường cắt phải đứng thành, nhẵn, không gồ ghề.
4.5. Đánh số 4.5.1. Mục đích
Đánh số nhằm mục đích tránh sự sai màu của các chi tiết trên cùng một sản phẩm giúp cho việc kiểm tra theo dõi công đoạn may được thuận lợi.
- Kiểm tra lại số lá vải đã trải.
- Dễ dàng cho khâu bóc tập.
- Tiện lợi cho khâu rải chuyền và kiểm tra số bán thành phẩm trên chuyền.
4.5.2. Phương pháp đánh số
- Dùng băng keo giấy có đánh số sẵn.
- Dùng máy đánh số
- Dùng các loại bút, phấn đánh số.
Các phương pháp này đều được sử dụng rộng rãi trong các xí nghiệp may. Tuỳ theo yêu cầu, đặc điểm của mã hàng và điều kiện của xí nghiệp mà sử dụng cho phù hợp.
- Mã hàng cần đánh số thì cột từng bàn vải lại để đánh số.
- Mã hàng không cần đánh số phải bóc tập từng cây vải để không bị lẫn lộn với cây vải khác .
4.5.3. Vị trí đánh số
- Đánh số vào nơi quy định do phòng kỹ thuật quy định, không được nhảy số, đảm bảo sau khi may xong chi tiết thì mất số. Nếu dùng bút chì hoặc phấn run để đánh số vào các chi tiết BTP, số viết phải rõ ràng, cao to không quá 0,5cm (đối với nét bút chì); không quá 1cm ( đối với nét phấn), chân chữ số cách cạnh đường cắt 0,1cm.
- Với những chi tiết được đi in, thêu phải viết số mặt bàn vào từng lá số thứ tự.
- Số được viết vào mặt trái hay mặt phải vải của từng chi tiết phụ thuộc vào từng mã hàng và quy trình công nghệ.
VD: Quy định đánh số các chi tiết áo sơ mi
- Dùng bút chì hoặc phấn run viết vào tất cả các chi tiết bán thành phẩm. Số viết rõ ràng, cao 4mm, chân chữ số cách mép cắt 1mm.
- Với những chi tiết đem đi thêu, in phải viết số mặt bàn vào từng lá số theo thứ tự ( 20/175 A3..)
- Viết số ở mặt trái vải, riêng cổ, chân cổ, túi thì viết số ở mặt phải vải - Vị trí viết số
+ Thân trước, thân sau: dọc sườn phía nách + Tay: dọc đường bụng tay phía mang tay + Cầu vai: dọc chiều dài vai con
+ Cổ, chân cổ, bác tay: phía chân
56 + Nẹp: gót nẹp
+ Nắp túi: gáy nắp túi
4.6. Bóc tập
Là việc chia số các chi tiết đã cắt ra thành nhiều nhóm nhỏ theo yêu cầu của mã hàng để tiện cho việc điều động rải chuyền sau này (Bóc tập).
Sau khi điền đầy đủ các dữ kiện vào phiếu bóc tập, ta buộc vào từng tập vải số lớp chi tiết đã ghi trên phiếu rồi chuyển sang bộ phận phối kiện.
(Phiếu bóc tập thường được in hoặc ghi trên những miếng vải trắng,kích thước7x 12cm).
4.7. Phối kiện 4.7.1.Phối kiện
- Là tập hợp tất cả các chi tiết đồng bộ của một sản phẩm vào một vị trí. Sau đó buộc chúng lại bằng một dây vải hay cho vào bao hoặc khay nhựa rồi cho nhập kho bán thành phẩm chờ cung cấp cho phân xưởng may.
- Trước khi phối kiện một loại sản phẩm nào, phải căn cứ vào bảng thống kê chi tiết để biết được sản phẩm đó có bao nhiêu chi tiết, chi tiết nào đối xứng, chi tiết nào có lần ngoài, lần lót...
- Đối với những bàn vải có từ 2 cỡ trở lên phải chú ý đến dấu phối kiện của từng cỡ vào với nhau để chánh nhầm lẫn.
- Những loại vải có tuyết phải kiểm tra lại để một áo cùng xuôi một chiều tuyết.
- Cần xem kỹ phiếu bóc tập để phối cho chính xác, đồng bộ chánh nhầm lẫn cỡ vóc, bàn vải hay mã hàng, tránh được những sai sót không đáng có thể xảy ra.
4.7.2. Bó buộc
- Tất cả các đồ vặt bó buộc chặt liên kết với nhau thành một cụm.
- Các chi tiết thêu, in, dính ép ... bó buộc riêng và cài số mặt bàn.
- Bó buộc thân to để trên và dưới, các chi tiết đồ vặt để giữa, bó buộc chặt chẽ gọn gàng, cài phiếu phối kiện vào dây buộc, để bó hàng vào đúng nơi quy định.
- Yêu cầu phải bó buộc đúng vị trí quy định (dây buộc cùng mầu, bó chặt chẽ tránh rơi vãi mất mát chi tiết.
PHIẾU BÓC TẬP Mã hàng:
Màu:
Bàn cắt số:
Cỡ vóc:
Số lớp:
Từ lá số: đến:
Ngày tháng năm Người bóc tập Ký tên
Hình 4-4.Phiếu bóc tập