6.1. Giặt mài
- Nếu đơn hàng khách có yêu cầu xử lý giặt mềm vải thì ở công đoạn này tiến hành gia công giặt
- Trước khi giặt phải thử mẫu, kiểm tra độ co rút, độ đồng màu, độ mềm… theo tiêu chuẩn khách yêu cầu
- Thông số về thời gian giặt, nhiệt độ sấy, thời gian sấy tuỳ thuộc vào từng loại nguyên liệu, tuỳ thuộc vào kiểu giặt mềm hay giặt mài mòn
Ví dụ: Giặt mềm vải trong thời gian 5 phút ( không sử dụng hồ hoá chất) Nhiệt độ sấy là 700
Thời gian sấy là 25 -30 phút
Trong quá trình giặt phải thường xuyên kiẻm tra các công doạn giặt xả, ly tâm, sáy nóng, sấy nguội để đảm báo chất lượng ổn định như hàng giặt mẫu
6.2. Vệ sinh sản phẩm 6.2.1. Các loại vết bẩn
- Vết bẩn trên mặt vải: như mỡ, nhựa đường, phấn, chì… thường tẩy bằng cách dùng dao cạo đi rồi tẩy hoá chất vào
- Vết bẩn ăn sâu vào lòng vải: thường do các chất lỏng gây nên như dầu máy, càfe…..Tẩy bằng cách đặt vải lót ở dưới, cho hoá chất vào vết bẩn, chất bẩn hoà tan sẽ thấm vào vải lót
6.2.2. Cách tẩy các vết bẩn thường gặp
- Phấn, chì, bụi bặm do mối, muỗi gây ra thường dùng xà bông để tẩy, nếu không ra thì dùng dung dịch H2SO4 nồng độ 0,5 g/L, sau đó xả bằng nước lã thật sạch ( nếu không sẽ cháy sản phẩm khi là)
- Vết bẩn do mực:
+ Đối với hàng trắng: Dùng nước javen nồng độ 0,5 g/L, sau đố xá sạch bằng nước lã
+ Đối với hàng màu: Tuyệt đối không dùng nước javen, thường người ta dùng thuốc tím để tẩy, sau đó khử màu tímbằng dung dịch acid nhẹ: chanh hoặc dấm rồi xả bằng nước lã
- Vết bẩn do dầu máy: đặt 1 miếng vải lót ở phía dưới rồi dùng bàn là nóng là lên và tẩy sạch bằng xà bông nếu cần
- Vết bẩn do rỉ sắt: dùng acid nhẹ sát lên chỗ bị rỉ, sau đó rắc muối lên, để 12h sau xả sạch bằng nước lã
- Vết bẩn từ đường và bánh ngọt: Tấy bằng nước nóng, nếu không sạch thì tẩy bằng xà bông hoặc xăng. Sau đó nhỏ vài giọt glycerin rồi lau đi bằng dung dịch NH4OH loãng, xong giặt sạch bằng nước ấm
- Vết bẩn bằng nước trà: Dùng dung dịch Borax 10% (NA2SO7), sau đó tẩy lại bằng nước chanh 5% rồi xả sạch bằng nước lã
- Vết mốc, ố, thâm kim: dùng xà bông giặt sạch sau đó ngâm độ 1h trong nước ấm có nhỏ vài giọt NH4OH, Sau đó giặt sạch bằng nước lã
- Vết ca ri: tẩy bằng cách chà giá sống lên
61 - Nhựa đường: dùng dao cạo vết nhựa bám ở ngoài, sau đó nhỏ nhựa thông vào vết bẩn. Dùng ghẻ lau sạch, sau đó nhỏ xăng vào cho hết vết bẩn. Cuối cùng tẩy trắng lại bằng NH4OH nồng độ 0,5 g/L
6.2.2. Phòng chống bụi bặm
Để đảm bảo tốt vệ sinh công nghiệp, tránh dây bẩn, đảm bảo tốt chất lượng hàng hoá, tất cả các bộ phận sản xuất phải tuân theo qui định sau:
- Trước khi vào xưởng công nhân phải ăn mặc sạch sẽ, đầu tóc gọn gàng. Nên thay đổi giày dép trước khi vào xưởng
- Trước khi may phải lau chùi máy móc sạch sẽ - Kiểm tra tình trang văng dầu
- Bán thành phẩm, nguyên liệu trong quá trình vận chuyển phải được che đậy cẩn thận, không được kéo lê sản phẩm dưới sàn nhà
- Sau khoảng thời gian định kỳ từ 2-3 giờ nên có lao công dọn dẹp bụi, xơ vải hay vải vụn trong phân xưởng
- Sản phẩm may xong cần phải cho vào thùng ngay. Tránh để hàng hoá bừa bãi ở sàn nhà, gầm ghế
- Hàng hoá dở dang trên chuyền phải sắp xếp thứ tự, gọn gàng, không để rơi vãi bừa bãi. Khi hết giờ sản xuất phải được che đậy kỹ càng, chống bụi bẩn hoặc mưa dột - Cần giáo dục tinh thần tự giác giữ gìn vệ sinh công nghiệp ở mỗi công nhân
6.3. Là sản phẩm
6.3.1. Kiểm tra trước khi là
a. Kiểm tra an toàn đối với người (kiểm tra điện)
Sau khi cắm phích điện xong, ta phải kiểm tra xem điện có truyền ra vỏ bàn là không, dễ nhận biết nhất là dùng bút thử điện áp vào vỏ bàn là, nếu thấy sáng đèn phải đưa thợ điện sửa lại bàn là. Trong khi là để thử độ nóng không được sờ tay vào đế bàn là, không đi chân đất, không đứng chỗ ẩm ướt.
b. Kiểm tra nhiệt độ thích hợp đối với sản phẩm( kiểm tra nhiệt)
Bất cứ loại bàn là nào cũng phải kiểm tra nhiệt độ xem có thích hợp với tính chất nguyên liệu hay không. Nếu vượt quá nhiệt độ qui định thì tuyệt đối không được là vào sản phẩm, vì nếu là sẽ bị biến dạng hoặc cháy xém mặt vải. Bàn là loại tự động có đèn báo và các mũi tên chỉ tên loại vải, ta phải kiểm tra lại xem mũi tên chỉ đúng loại vải mà ta định là chưa. Để cho chắc ta có thể kiểm tra thêm bằng cách lật ngược bàn là, nhỏ 1 giọt nước, nếu thấy nước sôi và bắn tung toé ra những giọt nhỏ li ti và khô trong khoảnh khắc thì bàn là quá nóng. Ta có thể thử bằng cách là thử lên 1 miếng vải vụn của nguyên liệu ấy, nếu bàn là quá nóng sẽ thấy:
- Vải màu xanh chguyển sang màu tím đỏ
- Hàng tơ nhân tạo (Acetat) thấy mùi dấm chua bốc lên - Hàng pha sợi tổng hợp thấy dính đế bàn là
- Hàng len dạ thấy màu vàng mùi khét
- Bàn là nóng quá phải ngắt điện, chờ nguội bớt mới là. Trước khi là thử lại trên mảnh vải nhỏ
62 6.3.2. Phương pháp là những loại vải khác nhau
a. Vải sợi bông: Ta có thể là khô, là hơi càng tốt. Có thể là cả 2 mặt trái và phải. Nhiệt độ 180 -2200C
b. Vải lanh: Vải lanh phải là ở nhiệt độ cao thì mới đạt kết quả, giữ nếp. Vải lanh chịu được nhiệt độ cao nhất trong tất cả các loại vải 200 -2400 c
c. Vải len dạ: Đòi hỏi trong khi là phải quan tâm đặc biệt. Ta là mặt trái vải qua lượt vải lót ướt, nếu muốn là bai hoặc là thu thì ta thấm nước vào vải và là trực tiếp lên vải không qua vải lót. nếu vải len có nhiều lông thì ta đặt một miếng vải lót khô bên dưới tấm vải lót ướt để lông không bị dập. Nhiệt độ là 180 – 2200c
d. Vải sợi tơ tằm: Ta là khô thẳng trên vải hay qua 1 lớp vải lụa mỏng. Một số vải không lụa tơ tằm ta có thể là qua vải ướt nhưng có 1 số lại không là ướt được vì nước làm loang lỗ vải. Nhiệt độ là 1600c
e. Vải tơ nhân tạo visco và acetat: Ta là khô thẳng lên vải, với loại vải lụa làm lót hoặc vải bông ta có thể là mặt phải qua lớp lụa mỏng 160 – 1800c
f. Vải sợi Polvamid: ta là khô dưới nhiệt độ thấp 130 – 1400c
g. Vải sợi Polyeste: là như hàng len dạ. Nếp là giữ lâu và chỉ xoá được dưới nhiệt độ cao 220 – 2300c
6.4. Gấp sản phẩm
- Sản phẩm sau khi hoàn chỉnh sẽ được chuyển sang khâu gấp xếp. Tuỳ theo chủng loại sản phẩm, cấp chất lượng, yêu cầu kỹ thuật của từng mã hàng sẽ có cách gấp khác nhau. Khi gấp phải đảm bảo tính cân đối, đồng nhất, thẩm mỹ, làm tăng vẻ đẹp sản phẩm,thuận lợi trong quá trình vận chuyển bảo quản.
- Sản phẩm sau khi gấp thường được treo nhãn giấy trước khi cho vào túi nilon.
6.5. Bao gói
Sau khi gấp xếp sản phẩm sẽ được bao gói. Qui cách bao gói được qui định trong tài liệu kỹ thuật của mã hàng. Tuỳ theo yêu cầu cụ thể của từng mã hàng mà có thể dùng dây buộc các sản phẩm đã bao gói thành từng bó.
Ví dụ: Áo trong 1 bó phải trở đầu đuôi theo số lượng qui định, dây buộc phải màu trắng và cột chéo hình chữ thập.
6.6. Đóng hòm
Sản phẩm sau khi bao gói sẽ được xếp vào hòm. Cần ghi đầy đủ các thông tin về ký hiệu mã hàng, số lượng, cỡ số, màu sắc…ở cạnh hòm. Số lượng cỡ vóc sản phẩm trong hòm phải tuân thủ đúng yêu cầu kỹ thuật, phù hợp với nhãn ghi ngoài cạnh hòm, tránh gây khó khăn cho khâu giao nhận hàng.
6.7. Đóng kiện
- Thường 1 kiện có nhiều hòm, cần sắp xếp và viết các thông tin ngoài kiện theo đúng yêu cầu của khách hàng.
- Tuỳ theo yêu cầu của từng mã hàng, có các qui cách đóng kiện khác nhau:
+ Đóng bao: áp dụng cho hàng nội địa có giá trị thấp. Sản phẩm sau khi bao gói xong được bỏ vào bao, khâu kín miệng bao lại, bên ngoài ghi rõ ký hiệu mã hàng, số lượng cỡ vóc, màu sắc, ngày tháng năm đóng bao
+ Đóng kiện bằng thùng ghỗ hay thùng giấy: Nhiều hòm sẽ được cho vào 1 kiện hàng. Các kiện hàng phải được bảo quản kỹ lưỡng.
63 - Qui cách đóng kiện được qui định cụ thể theo từng chủng loại và theo yêu cầu của khách hàng. Thông thường khi đóng kiện phải có giấy chống ẩm, phải được xiết đai nẹp cẩn thận. Hai bên kiện có ghi cụ thể địa chỉ giao hàng, tên mã hàng, số lượng cỡ vóc. Bên còn lại ghi số thứ tự kiện hàng, trọng lượng, khối lượng do phòng kỹ thuật qui định
- Qui định chung: Trong 1 kiện hàng phải được đóng đủ số lượng cỡ vóc và màu sắc theo tác nghiệp của khách hàng.