(Nguồn BCTC của Công ty Cổ phần Cát Lợi)
NX:
● Trong năm 2016 tổng vốn chủ sở hữu là 378.854 triệu đồng, tổng nguồn vốn là 782.408 triệu đồng, hệ số vốn chủ sở hữu là
0.4842.
● Năm 2017 tổng nguồn vốn chủ sở hữu là 446.030 triệu đồng tăng 67.176 triệu đồng tương ứng với mức tăng 17.7% so với 2016, tổng nguồn vốn là 775.688 triệu đồng giảm 6.720 triệu đồng tương ứng với mức giảm 0.9% so với 2016, hệ số vốn chủ sở hữu là 0.575 tăng 0.9 so với 2016.
41
● Đến năm 2018 tổng nguồn vốn chủ sở hữu là 636.736 triệu đồng tăng 190.706 triệu đồng tương ứng với mức tăng 42.8% so với 2017, tổng nguồn vốn là 1.013.586 triệu đồng tăng 237.898 triệu đồng tương ứng với mức tăng 30.7% so với 2017, hệ số vốn chủ sở hữu là 0.628 tăng 0.05 so với 2017.
● Sang năm 2019 tổng nguồn vốn chủ sở hữu là 692.963 triệu đồng tăng 56.227 triệu đồng tương ứng với mức tăng 8.8% so với 2018, tổng nguồn vốn là 1.024.371 triệu đồng tăng 10.785 triệu đồng tương ứng với mức tăng 1.1% so với 2018, hệ số vốn chủ sở hữu là 0.676 tăng 0.05 so với 2018.
● Năm 2020 tổng nguồn vốn chủ sở hữu là 730.638 triệu đồng tăng 37.675 triệu đồng tương ứng với mức tăng 5% so với 2019, tổng nguồn vốn là 911.620 triệu đồng giảm 112.751 triệu đồng tương ứng với mức giảm 11% so với 2019, hệ số vốn chủ sở hữu là 0.801 tăng 0.12 so với 2019.
=>Hệ số này, phản ánh mức độ độc lập hoặc phụ thuộc về khả năng tự tài trợ cho hoạt động kinh doanh của công ty. Hệ số này càng cao, càng đảm bảo các món nợ cho chủ nợ, mức độc lập về mặt tài chính của công ty cao, rủi ro tài chính thấp, tình hình tài chính mạnh.Hệ số vốn chủ sở hữu ở mức nhỏ hơn 0,75 và lớn hơn 0,55 lần là hợp lý.Từ năm 2016- 2019, hệ số vốn chủ sở hữu thấy công ty có mức độ độc lập cao, có khả năng tự chủ tài chính tốt, rủi ro tài chính của công ty thấp nhưng đến năm 2020 thì hệ số khá cao. Có thể, công ty bị ảnh hưởng của dịch Covid19 nên công ty khó có thể độc lập về tài chính như những năm trước và công ty phải phụ thuộc vào các nhà đầu tư để công ty phát triển hơn
42 (Nguồn BCTC của Công ty Cổ phần Cát Lợi) NX:
● Năm 2016 tài sản ngắn hạn là 663.252 triệu đồng, tổng tài sản là 782.408 triệu đồng , hệ số cơ cấu tài sản là 0.8477.
● Trong năm 2017 tài sản ngắn hạn là 684.460 triệu đồng tăng 21.208 triệu đồng tương ứng với mức tăng 3.2% so với 2016, tổng tài sản là 775.688 triệu đồng giảm 6.720 triệu đồng tương ứng với mức giảm 0,9% so với 2016, hệ số cơ cấu tài sản là 0.882 tăng 0,03 so với 2016.
● Sang năm 2018 tài sản ngắn hạn là 944.800 triệu đồng tăng 260.340 triệu đồng tương ứng với mức tăng 38% so với 2017, tổng tài sản là 1.013.586 triệu đồng tăng 237.898 triệu đồng tương ứng với mức tăng 30.7%, hệ số cơ cấu tài sản là 0.932 tăng 0.05 so với 2017.
● Đến năm 2019 tài sản ngắn hạn là 912.048 triệu đồng giảm 32.752 triệu đồng tương ứng với mức giảm 3,5% so với 2018, tổng tài sản là 1.024.371 triệu đồng tăng 10.785 triệu đồng tương ứng với mức tăng 1,1% so với 2018, hệ số cơ cấu tài sản là 0,890 giảm 0,04 so với 2018.
● Trong năm 2020 tài sản ngắn hạn là 839.016 triệu đồng giảm 73.032 triệu đồng tương ứng với mức giảm 8% so với 2019, tổng tài sản là 911.62 0 triệu đồng giảm 112.751 triệu đồng tương ứng với mức giảm 11% so với 2019, hệ số cơ cấu tài sản là 0,92 tăng 0,03 so với 2019.
=> Phản ánh tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên tài sản dài hạn của doanh nghiệp, hệ số này phụ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp.Qua bảng số liệu, ta thấy hệ số cơ cấu tài sản của công ty đang có xu hướng biến động trong những năm gần đây. Cụ thể năm 2016 là
43 0,8477; năm 2017 là 0,882; năm 2018 là 0,932; năm 2019 là 0,89 và năm 2020 là 0,92.Hệ số cơ cấu tài sản của ngành sản xuất là
0,86. Năm 2016, hệ số của công ty gần đạt với hệ số của ngành nên công ty đầu tư vào mục tài sản ngắn hạn khá hợp lý nhưng từ năm 2017 đến năm 2020, hệ số cơ cấu tài sản của công ty lớn hơn so với hệ số cơ cấu tài sản của ngành sản xuất. Từ đó, công ty cần lưu ý tới việc cân đối các rủi ro để tránh mất khả năng thanh toán.
(Nguồn BCTC của Công ty Cổ phần Cát Lợi) NX:
● Trong năm 2016 tổng nợ phải trả là 403.554 triệu đồng, tổng tài sản là 782.408 triệu đồng, hệ số nợ là 0.518.
● Sang năm 2017 tổng nợ phải trả là 329.658 triệu đồng giảm 73.896 triệu đồng tương ứng với mức giảm 18.3% so với 2016, tổng tài sản là 775.688 triệu đồng giảm 6.720 triệu đồng tương ứng với mức giảm 0.9% so với 2016, hệ số nợ là 0.425 giảm 0.09 so với 2016.
● Đến năm 2018 tổng nợ phải trả tăng 47.191 triệu đồng tương ứng với mức tăng 14.3% so với 2017, tổng tài sản tăng 237.898 triệu đồng tương ứng với mức tăng 30.7% so với 2017, hệ số nợ là 0.372 giảm 0.05 so với 2017.
44
● Năm 2019 tổng nợ phải trả giảm 45.440 triệu đồng tương ứng với mức giảm 12.1% so với 2018, tổng tài sản tăng 10.785 triệu đồng tương ứng với mức tăng 1.1% so với 2018, hệ số nợ là 0.324 giảm 0.05 so với 2018.
● Năm 2020 tổng nợ phải trả giảm 150.428 triệu đồng tương ứng với mức giảm 45% so với 2019, tổng tài sản giảm 112.751 triệu đồng tương ứng với mức giảm 11% so với 2019, hệ số nợ là 0.199 giảm 0.12 so với 2019.
=>Công ty có hệ số nợ lý tưởng, có thể thấy công ty có mức độ phụ thuộc tài chính vào nhà đầu tư phù hợp.Tuy vậy công ty nên làm cho hệ số này thấp đi vì chỉ cần một lượng nhỏ tài sản nhỏ mà có hệ số lớn.
(Nguồn BCTC của Công ty Cổ phần Cát Lợi) NX:
● Năm 2016: Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu là 1.065, chứng tỏ doanh nghiệp không nằm trong khoảng mức nợ cho phép. Điều này chứng tỏ doanh nghiệp không an toàn trong mức nợ hiện tại.
● Năm 2017: Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu là 0.739 giảm 0.33 so với 2018, chứng tỏ doanh nghiệp nằm trong khoảng mức nợ cho phép. Điều này chứng tỏ doanh nghiệp an toàn trong mức nợ hiện tại.
45
● Năm 2018: Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu là 0.592 giảm 0.15 so với 2017, chứng tỏ doanh nghiệp nằm trong khoảng mức nợ cho phép. Điều này chứng tỏ doanh nghiệp an toàn trong mức nợ hiện tại.
● Năm 2019: Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu là 0.428 giảm 0.11 so với 2018, doanh nghiệp năm trong khoảng mức nợ cho phép.
● Năm 2020: Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu là 0.248 giảm 0.23 so với 2019, doanh nghiệp không năm trong khoảng mức nợ cho phép.
Kết luận : Năm 2016, hệ số nợ/ vốn chủ hữu lớn hơn 1, có nghĩa là năm 2016 là tài sản của công ty được tài trợ bởi các khoản nợ.
Với tỷ lệ là 1,0625 của năm 2016 thì khả năng công ty gặp khó khăn trong việc trả nợ của công ty càng lớn. Còn từ năm 2017-2020, tỷ lệ hệ số nợ/ vốn chủ sở hữu của công ty nhỏ hơn 1; có nghĩa là tỷ lệ tài sản của công ty được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn chủ sở hữu. Đồng thời, nợ phải trả qua các năm cũng giảm dần, chiếm tỷ lệ nhỏ so tổng tài sản hay vốn chủ sở hữu thì công ty ít gặp khó khăn hơn trong tài chính