Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC
1.2. Một số khái niệm cơ bản
Thuật ngữ quản lí đã xuất hiện từ nhiều năm qua và được sử dụng khá phổ biến tuy nhiên vẫn chưa có định nghĩa thống nhất.
Mary Parker Follett cho rằng quản lí là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua nỗ lực của người khác
Theo lí luận quản lí của Henri Fayol (người Pháp – người đặt nền tảng cho lí luận tổ chức cổ điển), ông nói về nội hàm của khái niệm quản lí như sau: Quản lí nghĩa là việc lập kế hoạch, thực hiện tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra.
Khái niệm “quản lý” ở Việt Nam xuất hiện ở trong nhiều công trình nghiên cứu như:
- Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục
đích của tổ chức” [7]
- Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động, có sự hợp tác với nhau. Sự phân công và hợp tác lao động nhằm mang đến hiệu quả cao hơn và phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra… có người đứng đầu. Đây là hoạt động để người đứng đầu phối hợp với các thành viên trong tổ chức đạt được các mục tiêu đề ra”.
Trần Khánh Đức cho rằng: “Quản lý là một hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất trong bối cảnh và những điều kiện nhất định” [9].
Hiện nay có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm quản lý nhưng nhìn chung đều có một số thống nhất như sau:
Quản lý là một quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức thông qua các công cụ và phương pháp quản lý với các chức năng cơ bản là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đã đặt ra
1.2.2. Quản lý nhà trường
Theo Thái Văn Thành trình bày trong cuốn quản lý nhà trường trong bối cảnh hiện nay cho rằng “Nhà trường là một đơn vị cấu trúc cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân. Đây là cơ quan giáo dục chuyên biệt, nơi chủ yếu thực hiện chức năng, nhiệm vụ giáo dục. Giáo dục nhà trường thực hiện vai trò chủ động hơn so với các hình thức tổ chức giáo dục khác (giáo dục gia đình, giáo dục xã hội)”.[23]
Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của xã hội, nơi truyền bá những kinh nghiệm lịch sử, nền văn hóa nhân loại của xã hội loài người trong xã hội, đó là nơi tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục. Có hai chủ thể có mối quan hệ biện chứng để thực hiện mục tiêu giáo dục là người được giáo dục và người giáo dục.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thệ hệ trẻ và từng học sinh” [12]
Quản lý nhà trường được xem là những tác động có mục đích của người Hiệu trưởng nhà trường đến cán bộ, GV, nhân viên và HS … nhằm điều hành, lãnh đạo nhà trường theo mục tiêu giáo dục đã được đặt ra. Để quản lý có hiệu quả thì người Hiệu trưởng cần phải vận dụng thực hiện tốt các chức năng quản lý bao gồm: kế hoạch hóa, tổ chức, chức năng chỉ đạo, kiểm tra.
Vậy Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích, kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho quá trình giáo dục nói chung và các hoạt động dạy học cụ thể trong trường học được tiến hành đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục của cấp học, bậc học theo quy định và các mục tiêu phát triển nhà trường đề ra.
1.2.3. Thiết bị dạy học
CSVC nói chung và TBDH nói riêng là một trong những thành phần cơ
bản của quá trình dạy học. Hiện nay, trong các trường phổ thông Việt Nam tồn tại khá nhiều tên gọi khác nhau về lĩnh vực TBDH. Trong tiếng Anh, từ
“equipment” được giải nghĩa và được hiểu là thiết bị, dụng cụ, đồ dùng, đồ nghề. Vì vậy, các tên gọi sau đây thường được sử dụng tương đương trong ngôn ngữ nói và viết hiện nay:
a) Đồ dùng dạy học: hiểu một cách đơn giản bao gồm: Đồ dùng dạy học của GV; Đồ dùng học tập của HS; Thiết bị dạy học kèm theo;
b) Thiết bị giáo dục (được thể hiện trong danh mục thiết bị dạy học tối thiểu cấp Trung học phổ thông của Bộ GD&ĐT ban hành), gồm: TBDH phục vụ giảng dạy và học tập tại lớp, thiết bị phòng thí nghiệm, thiết bị thể dục thể thao, thiết bị nhạc, họa và các thiết bị khác trong xưởng trường, vườn trường, phòng truyền thống nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục. Về bản chất, các tên gọi trên đều phản ảnh các dấu hiệu chung [6], [18] như sau:
Cơ sở vật chất của nhà trường
Khối các công trình/trường sở
Thiết bị dạy học/giáo dục
Lớp học
Phòng làm việc
Sân chơi, bãi tập
Thư viện
Bàn ghế…
Phòng Bộ môn
Phòng thực hành
Phòng thí nghiệm
Phòng TBDH
……
Thiết bị dùng chung
TB dùng chung cho các hoạt động GD
Phương tiện kỹ thuật DH cho GV
Thiết bị dạy học
TBDH các BM được cấp theo danh mục
TBDH tự làm
Đồ dùng học tập của HS
Hình 1.1. Hệ thống cơ sở vật chất thiết bị trong nhà trường
Thứ nhất: TBDH là những phương tiện rất cần thiết cho GV và HS tổ chức tiến hành, hợp lý có hiệu quả quá trình giáo dục và dạy học ở tất cả các môn học ở trường THPT;
Thứ hai: TBDH là một vật thể hay một tập hợp đối tượng vật chất mà người GV sử dụng với tư cách là phương tiện điều khiển hoạt động quá trình nhận thức; đồng thời, là phương tiện giúp HS lĩnh hội khái niệm, định luật, định lý, hiện tượng, giả thuyết khoa học…, nhằm hình thành ở HS các phẩm chất, năng lực; đảm bảo việc giáo dục, phục vụ mục đích dạy học và giáo dục;
Thứ ba: Vị trí của TBDH trong cấu trúc hệ thống CSVC trường học như mô tả trong sơ đồ trên thể hiện là thành tố cốt lõi quan trọng có ý nghĩa quan trọng tác động đến chất lượng giáo dục.
Từ các quan điểm trên, chúng ta có thể thống nhất về định nghĩa như sau: Thiết bị dạy học là một bộ phận của CSVC trường học, bao gồm những đối tượng vật chất được thiết kế sư phạm mà giáo viên sử dụng để điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh; đồng thời là nguồn thi thức, là phương tiện giúp học sinh lĩnh hội tri thứ, hình thành kĩ năng đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu dạy học.
1.2.4. Quản lý thiết bị dạy học
Từ những khái niệm quản lý và quản lý nhà trường, TBDH ta có thể hiểu quản lý TBDH là quá trình tác động có chủ đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến hệ thống TBDH để xây dựng, trang bị, bảo quản, sửa chữa và tổ chức sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường.
1.2.5. Quản lý thiết bị dạy học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới
Trước làn sóng hội nhập quốc tế mạnh mẽ, giáo dục và đào tạo cũng nằm trong xu thế chung này, xu hướng giáo dục thế giới ngày càng phát triển nhanh, mạnh với các chương trình giáo dục phổ thông mới, hiện đại được
trang bị bằng các TBDH hiện đại. Giáo dục Việt Nam muốn hòa nhập và phát triển cùng với giáo dục thế giới đòi hỏi, ngành giáo dục cần phải nghiên cứu, đề xuất chương trình giảng dạy cùng các TBDH phục vụ cho quá trình giảng dạy nhằm nâng cao năng lực sáng tạo, tư duy của người học theo hướng tiếp cận năng lực.
Quản lý thiết bị dạy học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới là tác động của chủ thể quản lý đến TBDH trong nhà trường bao gồm thực hiện các hoạt động quản lý việc trang bị, mua sắm, bổ sung TBDH;
quản lý việc sử dụng TBDH và quản lý việc bảo quản, sửa chữa TBDH nhằm đáp ứng yêu cầu theo quy định của chương trình giáo dục phổ thông mới.