CHƯƠNG 3: CÁC NGUY CƠ MẤT AN TOÀN TRONG TRIỂN KHAI HỆ THỐNG MẠNG DỊCH VỤ IPTV HIỆN NAY
3.1. Giới thiệu về các nguy cơ đối với mạng IPTV
3.1.2. Các nguy cơ cụ thể trong hệ thống Head-end
Hệ thống IPTV có các tập hợp các nguy cơ khác nhau tùy thuộc vào chức năng của các thành phần hệ thống. Tác động của các tại nạn do vấn đề bảo mật đối với hệ thống head-end thường trầm trọng hơn đối với các hệ thống tại home-end.
Mạng truyền dẫn cũng có một số lượng các nguy cơ khác do sự chia sẻ các dịch vụ trên các hệ thống truyền dẫn này. Các phần dưới đây sẽ liệt kê các ví dụ về kẽ hở bảo mật trong các phần khác nhau trong kiến trúc hệ thống. Các thành phần này đã được mô tả trong phần trước đây như Hình 3.6 sau:
Hình 3.6: Mô hình cấp cao của hệ thống IPTV
Trong hệ thống head-end, quan trọng là cần phải xem xét các nguy cơ bảo mật từ đội ngũ nhân sự của nhà cung cấp dịch vụ IPTV. Hệ thống được xây dựng trong trung tâm dữ liệu và chủ yếu đối diện với các nguy cơ từ bên trong hơn so với các nguy cơ từ bên ngoài. Trong một số trường hợp, các cán bộ vận hành được truy cập đến các dữ liệu nhiều hơn những gì mà công việc của họ cần.
Các ứng dụng chạy trong hệ thống lõi phải được cấu hình sao cho giảm thiểu các truy cập và các chỉnh sửa bên trong hệ thống cần được chứng thực và xác nhận bởi người thứ hai. Điều này đảm bảo giảm thiếu các vấn đề lỗi bảo mật xảy ra.
Các nguy cơ cụ thể trong hệ thống Head-end bao gồm:
3.1.2.1. Video feeds – Các nội dung nhận trực tiếp hoặc các Video đã được lưu trong hệ thống lưu trữ (Vật lý, băng dữ liệu số OTA,…)
Có một nguy cơ tấn công dừng dịch vụ. Các tài nguyên nội dung đã được lưu trữ có thể bị mất đi do phá hoại các đối tượng lưu trữ vật lý. Các dòng truyền video trực tiếp có thể bị dừng do mạng truyền dẫn hoặc thiết bị hoạt động không đúng.
Có một số lượng các nguy cơ ảnh hưởng đến tính thống nhất của cả hệ thống. Một nhà cung cấp dịch vụ IPTV sử dụng một nội dung không hợp lệ hoặc do sự chỉnh sửa có chủ ý của người vận hành.
Một nhà cung cấp dịch vụ IPTV có thể nhận phải nội dung không hợp lệ từ nhà cung cấp nội dung, bao gồm các feed đã bị chỉnh sửa với các nội dung không hợp lệ.
Hơn nữa có nguy cơ các hệ thống lưu trữ vật lý bị lỗi làm mất dữ liệu nội dung, gây lỗi trên những phần nào đó của nội dung. Các nội dung số có thể bị mất trong có trình vận chuyển hoặc ngay khi đã được lưu trữ.
Cố một số nguy cơ do bị trộm cắp nội dung hoặc thay thế, chỉnh sửa do tác động đến thư viện lưu trữ vật lý. Người vận hành hệ thống có thể truy cập nội dung và tạo các bản sao phi pháp. Trong phần lớn các trường hợp, các nguy cơ này xuất phát từ các tấn công từ bên trong tổ chức cung cấp dịch vụ.
3.1.2.2. Chuyển mạch Video
Có nguy cơ làm gián đoạn hoạt động của thiết bị chuyển mạch video. Một quá trình truy cập phi pháp tới chuyển mạch Video cho phép load các dòng video không được phép vào trong dịch vụ IPTV. Các hoạt động này thông thường do sự tấn công từ bên trong.
Các lệnh quản lý phi pháp có thể dừng các Video feed đưa đến cung cấp cho các thành phần khác nhau trong chuỗi cung cấp dịch vụ của hệ thống IPTV, dẫn đến dừng dịch vụ cung cấp cho các thuê bao.
Một quá trình thực hiện đẩy dữ liệu đến phần mềm của chuyển mạch Video làm cho hệ thống chuyển mạch bị tràn bộ nhớ đệm cũng có thể làm cho hệ thống chuyển mạch bị dừng cung cấp dịch vụ.
Các bộ chuyển mạch video cũng có các nguy cơ bảo mật khác liên quan đến việc trộm cắp nội dung số. Các tấn công dạng này chủ yếu được thực hiện từ bên trong nhà cung cấp dịch vụ.
3.1.2.3. Hệ thống ghi Video (Ingest gateway)
Ingest gateway đối diện với một số nguy cơ có liên quan đến tấn công trộm cắp nội dung hay thay đổi nội dung. Truy cập không hợp pháp đến ingest gateway
có thể lưu các nội dung số đã được capture vào trong thiết bị lưu trữ khác (ví dụ thiết bị lưu trữ di động, ổ USB) cho trộm cắp nội dung hoặc tái phân phối phi pháp.
Các tấn công này chủ yếu được thực hiện từ bên trong và rất khó để thực hiện từ bên ngoài thông qua mạng truyền dẫn.
Ngoài ra còn có các nguy cơ liên quan đến tấn công dừng dịch vụ. Truy cập không hợp lệ bằng hệ thống giao diện quản trị console có thể gửi các lệnh từ mạng quản lý nội dung làm dừng hoặc lỗi Ingest gateway.
Thực hiện các quá trình đẩy tràn dữ liệu trong các ingest gateway cũng có thể làm hệ thống ghi lưu dừng hoạt động.
3.1.2.4. Phần mềm hệ thống/hệ điều hành
Các nguy cơ này liên quan đến tất cả các hệ điều hành hỗ trợ thực hiện các chương trình ứng dụng của hệ thống IPTV. Tất cả các hệ điều hành đều đối diện với các nguy cơ tấn công dừng dịch vụ. Các sâu hay virus máy tính cũng như khả năng bị tấn công trực tiếp có thể làm dừng dịch vụ. Các truy cập trái phép vào hệ thống có thể xóa các file cần thiết để hệ thống vận hành đúng đắn. Các gói tin lỗi hoặc các yêu cầu không hợp lệ có thể gửi đến hệ điều hành để xóa bỏ một số file hệ thống. Hệ điều hành có nhiều các dịch vụ chạy trên các cổng mở, nếu không được cấu hình và vá lỗi đúng đắn, kẻ xâm nhập có thể sử dụng các cổng mở này để tắt các dịch vụ đang chạy.
Các sâu hay vius máy tính cũng có khả năng làm lây nhiễm số lượng lớn các máy chủ dịch vụ trong hệ thống head-end và làm dừng dịch vụ.
Ngoài ra còn có các nguy cơ tấn công phá hủy tính thống nhất của hệ thống.
Với một vai trò nhất định, có thể thực hiện chỉnh sửa thay đổi các file cấu hình hệ thống.
Hệ điều hành điều khiển truy cập đến các file trong hệ thống ổ cứng của nó. Kẻ tấn công có thể mở các file này để thực hiện các tấn công khác sau khi hệ thống đã bị phá vỡ bởi một kẻ tấn công bên ngoài khác.
3.1.2.5. Hệ thống quản lý nội dung
Hệ thống quản lý nội dung phải đổi mặt với một số nguy cơ tấn công bao
tràn bộ nhớ đệm. Loại nguy cơ này thông thường xuất hiện với các hệ thống mà quá trình kiểm tra bảo mật sơ sài. Kẻ tấn công có thể sử dụng các điểm yếu này bằng cách đưa vào các chuỗi ký tự dài hơn khả năng bố trí bộ nhớ của bộ nhớ đệm.
Thay đổi trong hệ thống quản lý nội dung có thể cho phép kẻ xâm nhập thực hiện cấy backdoor hoặc các phần mềm malware vào trong hệ thống và thực hiện sao chép nội dung số.
Kẻ tấn công cũng có thể làm dừng dịch vụ. Họ có thể gửi các gói tin giao thức làm cho chương trình ứng dụng bị dừng hoặc có thể gửi các lệnh quản lý để tắt các trình ứng dụng. Các lệnh quản lý cũng có thể được thực hiện bởi kẻ tấn công để thực hiện các chức năng quản lý. Việc đẩy dữ liệu làm tràn bộ nhớ đệm cũng có thể làm dừng, hỏng hoặc kết thúc dịch vụ.
Đối với hệ thống này cũng có nguy cơ bị tấn công trộm cắp nội dung số.
Phần mềm quản lý nội dung số có thể được sử dụng để thực hiện các tác vụ sao lưu các tài nguyên số.
3.1.2.6. Thông tin nội dung số - Metadata từ hệ thống lưu trữ video:
Tai nạn khi thực hiện xóa bỏ các thông tin về nội dung số - metadata - lưu trên hệ thống quản lý lưu trữ video có thể gây ra dừng dịch vụ. Một khi metadata của nội dung bị chỉnh sửa, các chương trình ứng dụng không thể thực hiện các yêu cầu dịch vụ từ Middleware và các ứng dụng quản lý nội dung. Metadata của nội dung có thể bị chỉnh sửa thông qua trình quản lý điều hành, có thể dẫn tới mất đi tính thống nhất của các chương trình ứng dụng. Sự thay đổi đối với Metadat sẽ dẫn tới thay đổi tính thống nhất trong hệ thống và cần phải thực hiện kiểm tra lại chi tiết tất cả các thông tin metadata trong hệ thống. Một khi tính thống nhất chung của hệ thống bị ảnh hưởng, nhà cung cấp dịch vụ cần kiểm tra lại toàn bộ hệ thống cung cấp dịch vụ của họ.
Nếu các metadata của nội dung có thể bị truy cập một cách dễ dàng, một kẻ tấn công có thể thay đổi chỉnh sửa nó cho phép một nội dung được cung cấp đến diện thuê bao rộng và làm giảm doanh số của nhà cung cấp dịch vụ.
3.1.2.7. Phần mềm streaming chủ:
Server streaming Video chính nhận các yêu cầu quản lý từ IPTV Middleware và chuyển kết nối của người dùng đến các Video streaming server hợp lệ.
Các nguy cơ đối với việc tràn bộ nhớ đệm có thể tồn tại đối với phần mềm streaming server chính do các công nghệ nén lỗi hoặc quá trình kiểm tra không kỹ càng. Nguy c này có th thành hi n th c khi nh n các gói tin t Middleware VLAN. ơ ể ệ ự ậ ừ
Một quá trình truy cập trái phép đến trình quản lý có thể làm dừng phần mềm streaming chính (ví dụ lệnh kill). Cũng tương tự khi một lệnh quản lý có thể gửi đến video server để dùng dịch vụ.
3.1.2.8. Quản trị dịch vụ CA/DRM
Truy cập trái phép đến hệ thống quản trị có thể gửi các lệnh thông qua mạng điều khiển và xóa bỏ các thông tin chứng thực cho quản trị dịch vụ hệ thống CA/DRM. Các gói tin lỗi hoặc sự tràn bộ nhớ đệm có thể dẫn đến dừng dịch vụ.
Sự sao chép trái phép các thông tin quản trị hệ thống dịch vụ CA/DRM có thể cho phép kẻ tấn công thực hiện được các chức năng quản trị hệ thống. Các thông tin quản trị có thể được sử dụng sau đó để truy cập đến các trình ứng dụng khác.
3.1.2.9. Trình ứng dụng VOD - Cached Video Content Metadata
Các thông tin metadata của Video được lưu trữ trong các vùng đệm của VOD, các nguy cơ có thể gặp phải là thực hiện chỉnh sửa sau đó tạo lại các cache này. Dịch vụ phân phối nội dung chịu trách nhiệm để ghi lưu đệm nội dung.
Quá trình xóa metadata cache có thể được thực hiện bởi sự quản trị trái phép hoặc bởi các phần mềm malware. Truy cập trái phép đến phần quản trị hệ thống có thể gửi lệnh thông qua mạng quản lý và xóa bỏ cache metadata được lưu trên streaming server. Quá trình tấn công tương tự cũng có thể được thực hiện để thay đổi cache metatdata.
Truy cập trái phép đến vùng nhớ đệm cho Video metadata cũng có thể thực sau khi hệ thống bị phá hoại bởi quá trình tấn công trước đó. Nếu các thông tin này không bị mã khóa, kẻ tấn công có thể lưu các thông tin này cho sử dụng về sau.
3.1.2.10. Phần mềm Video Streaming
Nguy cơ tràn bộ nhớ đệm có thể xảy ra với phần mềm streaming do các kỹ
kỹ. Quá trình này có thể xảy ra khi nhận các gói tin trong mạng VOD VLAN hoặc mạng phân phối nội dung gây ra ghi chèn phần mềm Video stream và dữ liệu. Các frame lỗi MPEG-2/4 trong bộ nhớ đệm Video có thể gây ra lỗi tràn bộ nhớ đệm cho phần mềm streaming video.
Quá trình truy cập quản trị hệ thống trái phép có thể gửi các lệnh điều khiển thông qua mạng quản lý có thể gây ra sự ngừng dịch vụ của các chương trình streaming. Các lệnh điều khiển cũng có thể được thực hiện bởi kẻ xâm nhập để thực hiện các chức năng quản lý. Quá trình này có thể thực hiện bởi malware
3.1.2.11. Thông tin Metadata của các nội dung quản cáo
Truy cập trái phép đến trình quản trị hệ thống có thể gửi các lệnh điều khiển qua mạng điều khiển để xóa bỏ hoặc thay đổi các thông tin Metadata của nội dung chèn quảng cáo trong hệ thống chèn quảng cáo.
Kẻ truy cập trái phép có thể mở cửa sổ thư mục sau khi hệ thống bị tấn công bởi một quá trình tấn công khác để truy cập các thông tin metadata của các nội dung chèn quảng cáo. Nếu các nội dung này không bị mã khóa, kẻ tấn công có thể thực hiện chỉnh sửa các thông tin này, làm cho nhà cung cấp dịch vụ không thể thực hiện được các chương trình quảng cáo như đã định.
3.1.2.12. Các thông tin theo dõi quá trình chèn quản cáo
Truy cập trái phép đến trình quản trị hệ thống có thể gửi các lệnh điều khiển qua mạng điều khiển để xóa bỏ hoặc thay đổi các thông tin theo dõi chèn quảng cáo. Quá trình xóa bỏ các thông tin theo dõi chèn quảng cáo cũng có thể xảy ra khi bị tấn công từ bên trong hoặc bên ngoài hệ thống từ mạng nhờ sử dụng malware.
Quá trình tấn công này sẽ giảm doanh số thu về từ dịch vụ quảng cáo của nhà cung cấp dịch vụ IPTV.
Nếu kẻ tấn công lấy được các thông tin theo dõi chèn quảng cáo, họ có thể cung cấp các thông tin này cho các đối thủ cạnh tranh để từ đó các đối thủ cạnh tranh có được bức tranh tổng thể về thói quen sử dụng của thuê bao cũng như thói quen mua sắm của khách hàng, từ đó các kế hoạch cạnh tranh phù hợp để có lợi thế trên thị trường.
3.1.2.13. Các thông tin metadata của nội dung lưu trong nPVR
Truy cập trái phép đến trình quản trị hệ thống có thể gửi các lệnh điều khiển qua mạng điều khiển để xóa bỏ hoặc thêm vào các thông tin metadata của nội dung lưu trong nPVR. Các quá trình tấn công này có thể được thực hiện từ bên trong.
Một khi kẻ tấn công làm thay đổi các thông tin này, người dùng không thể xem được các nội dung đã được ghi lại nhờ chức năng này.
3.1.2.14. Các nội dung lưu trữ MPEG-2/4
Truy cập trái phép đến trình quản trị hệ thống có thể gửi các lệnh điều khiển qua mạng điều khiển để xóa bỏ các nội dung lưu trữ dưới dạng MPEG-2, MPEG-4 trong ứng dụng nPVR.
Nếu các nội dung MPEG-2, MPEG-4 được lưu trữ không được mã khóa hoặc khóa đã bị lộ, kẻ tấn công có thể thực hiện sao chép nội dung để tái phân phối đ n các đ i tế ố ượng khác, làm m t đi doanh s đáng nh thu c v nhà ph n ph i d chấ ố ẽ ộ ề ầ ố ị v .ụ
3.1.2.15. Phần mềm ghi video nPVR
Nguy cơ tràn bộ nhớ đệm có thể xảy ra với phần mềm nPVR do các kỹ thuật mã hóa video không tốt hoặc quá trình kiểm tra thử nghiệm hệ thống không kỹ.
Quá trình này có thể xảy ra khi nhận các gói tin trong mạng VOD VLAN hoặc mạng phân phối nội dung gây ra ghi chèn phần mềm nPVR và dữ liệu.
Truy cập trái phép đến trình quản trị hệ thống có thể gửi các lệnh điều khiển qua mạng điều khiển để dừng dịch vụ của trình dứng dụng nPVR (ví dụ lệnh Kill).Các lệnh điều khiển có thể thực hiện dưới sự hỗ trợ của phần mềm malware.
3.1.3. Các nguy cơ trong hệ thống mạng truyền dẫn 3.1.3.1. Các lỗ hổng trong giao thức
Có một số giao thức liên quan đến hoạt động của hệ thống IPTV, mỗi lọai giao thức có những vấn đề bảo mật khác nhau với các lỗ hổng khác nhau.
Các lỗ hổng trong giao thức Multicast (IGMP, MSDP - Multicast Source Discovery Protocol)
Với giao thức Multicast, bất kỳ điểm yếu bảo mật với giao thức IGMP cũng có độ rủi ro lớn hơn nhiều so với các điểm yếu trong các giao thức khác do ảnh
hưởng lớn của giao thức này trong hệ thống dịch vụ. Với một quá trình tấn công đơn lẻ cũng có thể gây sụp đổ dịch vụ cho hàng chục nghìn thuê bao.
Trong số các vấn đề bảo mật đã được biết đến, thực hiện tấn công từ chối dịch vụ DOS có tính chất nghiêm trọng trong việc làm sụp đổ hệ thống dịch vụ IPTV. Nội dung được bảo vệ bởi DRM, và rất khó để lấy được Video nếu không có khóa mã khóa. Bản chất của tấn công dịch vụ DOS tác động đến dòng truyền quản bá sẽ ảnh hưởng trên diện rộng các thuê bao. Hiệu ứng tiếp theo là các dịch vụ khác có thể bị ảnh hưởng. Trong trường hợp sử dụng dịch vụ “triple-play”, các dịch vụ khác có thể bị lỗi. Nếu hệ thống quản lý chất lượng QoS và các cơ chế quản lý băng thông không được triển khai đúng đắn, kẻ tấn công có thể tận dụng các lỗ hổng này trong mạng Multicast có thể làm gián đoạn dịch vụ Internet, VoIP, IPTV VLAN.
MDSP được sử dụng như là giao thức thông báo về nguyền thông tin và thông báo đến mạng các thông tin về nguồn nội dung đang cung cấp. MSDP được sử dụng để gìn giữ danh mục các địa chỉ IP trong kiến trúc hệ thống.
Có một số lượng các điểm yếu trong cách phân phối nội dung Multicast:
Tính bảo mật, Điều khiển truy cập và dải thông điều khiển luồng.
Một cách tấn công khác có thể thực hiện bằng cách gửi các gói tin thông báo mức lỗi mất gói tin cao trên đường truyền, khi đó nguồn thông tin sẽ tự động giảm giải thông và dẫn đến ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của cả nhóm.
Các quá trình điều khiển luồng ác ý cũng có thể xen vào trong đường truyền thông tin, dẫn đến sự hoạt động sai của các ứng dụng, hoặc làm cho nội dung bị truyền sai đích đến. Dòng truyền IGMP dễ dàng bị tấn công làm giả gói tin do thiếu các trường cho chứng thực. Các thông tin có thể dễ dàng bị chỉnh sửa.
Thực hiện chỉnh sửa chủ ý các gói tin điều khiển có thể được sử dụng làm thay đổi cấu trúc của cây Multicast và ảnh hưởng tới quá trình truyền dẫn dữ liệu.
Các điểm yếu trong MBGP là nguyên nhân dẫn đến các vấn đề về bảo mật trong giao thức BGP.
Các điểm yếu trong MSDP sẽ ảnh hưởng đến bảo mật trong việc điều khiển luồng (Source –Active SA). Một kẻ tấn công có thể tạo ra một số lượng lớn các gói SA, khiến router MSDP trong hệ thống chuyển sang chế độ hoạt động sai.