Đánh giá chung về quản lý chất lượng tín dụng của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội

Một phần của tài liệu Phân Tích Thực Trạng Quản Lý Chất Lượng Tín Dụng Của Ngân Hàng Tmcp Ngoại Thương Việt Nam - Chi Nhánh Hà Nội.docx (Trang 27 - 31)

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH HÀ NỘI

2.3. Đánh giá chung về quản lý chất lượng tín dụng của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội

2.3.1. Ưu điểm

Cùng với sự phát triển của ngân hàng, hoạt động quản lý chất lượng tín dụng đã đạt được những bước tiến mới góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế. Nhờ vậy, những năm vừa qua, hoạt động tín dụng của VCB Hà Nội cũng đạt được những thành tựu đáng kể:

Thứ nhất: Để đạt được mục tiêu hiệu quả kinh tế, an toàn vốn đồng thời thực hiện chủ trương đổi mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nhà nước nên trong đầu tư tín dụng chi nhánh VCB Hà Nội luôn ưu tiên đối với những dự án đầu tư theo chiều sâu vào những ngành kinh tế mũi nhọn, những lĩnh vực có tiềm năng, tránh đầu tư tràn lan, kém hiệu quả. Nguồn vốn tín dụng của chi nhánh đã thực sự giúp những doanh nghiệp giải quyết những khó khăn về vốn, tạo điều kiện cho họ đổi mới máy móc thiết bị, dây truyền công nghệ, mở rộng sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, qua đó vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp vừa đảm bảo an toàn vốn cho ngân hàng.

Thứ hai: Tỉ lệ thu lãi vay, tỉ số lợi nhuận từ hoạt động tín dụng trên dư nợ tín dụng, tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng so với tổng lợi nhuận đạt kết quả khá khả quan.

Thứ ba: Trong quan hệ với khách hàng, chi nhánh VCB Hà Nội đã thể hiện rõ ràng được vai trò "người bạn của doanh nghiệp". Sự giúp đỡ của ngân hàng đối với doanh nghiệp qua các hoạt động vai trò tư vấn, định hướng giúp các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn gặp phải trong quá trình kinh doanh.

2.3.2. Hạn chế

Trong công tác tín dụng đã có nhiều biện pháp tích cực song bên cạnh đó còn có một số tồn tại trong công tác hoạt động kinh doanh.

Thứ nhất: Nguồn vốn huy động có tăng nhưng nguồn vốn trung và dài hạn còn thấp chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn. Điều này rõ ràng là không có lợi cho ngân hàng trong việc mở rộng cho vay trung và dài hạn. Và nếu có những biến động bất thường khiến cho

khách hàng ồ ạt rút tiền ra cho dù chưa đến hạn thì ngân hàng sẽ đứng trước nguy cơ mất khả năng thanh toán. Chưa có biện pháp hữu hiệu để huy động nguồn vốn nhỏ lẻ trong dân cư.

Thứ hai: Công tác thẩm định dự án,thẩm định khách hàng chưa tốt.

Thứ ba: Việc kiểm tra sau khi cho vay chưa được thực hiện nghiêm túc nhất là việc cho vay qua tổ dẫn đến tình trạng không phát hiện kịp thời khả năng thanh toán của khách hàng nếu khách hàng có trốn, chết, sử dụng vốn không đúng mục đích… dẫn đến không trả được nợ ngân hàng.

Thứ tư: Năm 2016, 2017 thì tỉ lệ nợ quá hạn ở mức an toàn. Tuy nhiên đến năm 2018,tỷ lệ nợ quá hạn là 3,5% cao hơn so với trung bình ngành .

Thứ năm: Ngân hàng hầu như chưa có chính sách cũng như các sản phẩm để khuyến khích những khách hàng vay vốn trả nợ đúng hạn nhằm mở rộng đầu tư cho vay và nâng cao chất lượng tín dụng.

Thứ sáu: hệ thống công nghệ thông tin, hệ thống tổng hợp báo còn lạc hậu, lỗi thời …….

2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế

* Nguyên nhân chủ quan:

-Trong hoạt động tín dụng hai yếu tố rủi ro và lợi nhuận luôn là bạn đồng hành. Nếu như ngân hàng chỉ chạy theo lợi nhuận cao mà thiếu sự thận trọng cần thiết thì có thể sẽ phải trả giá đắt cho những rủi ro gặp phải, nhưng ngược lại nếu vì quá lo sợ rủi ro mà không dám mở rộng cho vay thì có thể sẽ để lỡ nhiều cơ hội kinh doanh, mất đi nhiều khách hàng tốt. Đây là vấn đề nan giải mà hiện nay chi nhánh VCB Hà Nội đang gặp phải.

- Hoạt động Marketing trong ngân hàng chưa được quan tâm chú ý. Công việc này mới chỉ được thực hiện đơn thuần dưới dạng các hoạt động bề nổi như tuyên truyền, quảng cáo chứ chưa thực sự xuất phát từ việc nghiên cứu nắm bắt nhu cầu khách hàng để tìm cách thỏa mãn tốt nhất nhu cầu đó. Hoạt động Marketing vẫn thường được coi là nhiệm vụ của các nhân viên giao dịch trong khi thực chất đây là nhiệm vụ của mọi thành viên trong ngân hàng. Đây là điểm yếu không chỉ của VCB Hà Nội mà là của hầu hết các NHTM Việt Nam hiện nay.

- Trình độ năng lực của một số cán bộ tín dụng chưa đáp ứng được yêu cầu nhất là về trình độ thẩm định dự án và vi tính. Cán bộ tín dụng chưa tư vấn được cho khách hàng trong khi nhu cầu tư vấn từ phía khách hàng là rất lớn. Một số cán bộ chưa thường xuyên nghiên cứu thể lệ, chế độ nghiệp vụ và không tuân thủ theo quy trình thẩm định.

- Ngân hàng chưa chú trọng đến công tác giám sát và xử lý tình huống tín dụng sau khi cho vay như mục đích sử dụng vốn,tình hình huy động vốn thực tế của dự án,tiến độ trả nợ.

- Chất lượng công tác thu thập và xử lí thông tin của ngân hàng là chưa cao. Thông tin là yếu tố không thể thiếu được cho việc thực hiện công tác thẩm định dự án, thẩm định khách hàng nhằm tiếp cận khả năng trả nợ và bảo đảm an toàn vốn vay.

* Nguyên nhân khách quan:

- Môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng ngân hàng không thuận lợi, các quy định của pháp luật liên quan đến tài sản thế chấp còn nhiều bất cập. Rất nhiều tài sản của các doanh nghiệp hiện nay không có đăng ký sở hữu, mà đây lại là điều kiện bắt buộc đối với các tài sản được dùng làm tài sản thế chấp. Việc xử lý tài sản thế chấp khi có rủi ro xảy ra cũng gặp nhiều khó khăn trở ngại về mặt pháp lý.

- Sự quản lý của các cơ quan chức năng đối với các doanh nghiệp chưa chặt chẽ, tạo cơ hội cho doanh nghiệp có những hành vi trái pháp luật, lừa đảo ngân hàng. Chẳng hạn có những doanh nghiệp chỉ có một ngôi nhà nhưng vẫn được chính quyền địa phương xác nhận cho sử dụng làm tài sản thế chấp để vay 2-3 ngân hàng cùng một lúc. Do đó khi có rủi ro xảy ra thì tranh chấp giữa các ngân hàng là không thể tránh khỏi. Những vụ việc như vậy đã gây nên một tâm lý không tốt, rất cầu toàn của các ngân hàng khi xem xét cho vay.

- Một vấn đề nữa là mặc dù Chính phủ đã quy định các NHTM có quyền tự chủ quyết định về việc cho vay của mình và chịu trách nhiệm về các quyết định đó song trên thực tế không phải lúc nào ngân hàng cũng có được quyền tự chủ đó. Có nhiều khi do những tác động tế nhị từ nhiều phía (từ chính quyền địa phương, từ một vài nhân vật có thế lực) nên ngân hàng vẫn phải cho vay đối với những dự án mà nếu được hoàn toàn tự chủ ngân hàng sẽ từ chối. Không ít những dự án như vậy đã đem lại rủi ro cho ngân hàng.

- Hiện nay ở Việt nam chưa có cơ quan chuyên trách về xếp hạng tín nhiệm đối với các doanh nghiệp, vì vậy ngân hàng thiếu những thông tin tin cậy khi xem xét đánh giá khách hàng để quyết định cho vay, điều đó một mặt hạn chế khả năng mở rộng tín dụng do ngân hàng không dám mạo hiểm với những doanh nghiệp mà ngân hàng không chắc chắn, mặt khác làm tăng thêm tình trạng rủi ro tín dụng của các ngân hàng do đánh giá khách hàng không chính xác.

- Khả năng quản lý và sử dụng khoản vay của doanh nghiệp còn thấp. Điều này cũng một phần bắt nguồn từ sự hạn chế về vốn và khả năng lập dự án. Hạn chế về vốn kéo theo trình độ trang thiết bị, công nghệ lạc hậu, làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Trình độ lập dự án thấp nên nhiều dự án ban đầu lập ra tưởng khả thi nhưng do không dự đoán trước được những khó khăn phát sinh trong quá trình thực

hiện nên dẫn đến thua lỗ không trả được nợ. Ngay cả khi trang thiết bị, công nghệ hiện đại, dự án khả thi nhưng năng lực quản lý kém cũng sẽ làm cho việc thực hiện dự án không đạt được kết quả như dự tính và đó cũng có thể là nguyên nhân của rủi ro.

- Tình trạng làm ăn thiếu trung thực, lừa đảo thường xuyên xảy ra (sử dụng vốn vay không đúng mục đích, cung cấp thông tin không chính xác cho ngân hàng, lừa đảo chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các doanh nghiệp) là một trong những nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong cho vay.

Tóm lại: Qua những thông tin trên đã thấy được chất lượng tín dụng của VCB Hà Nội trong những năm qua khẳng định được vai trò của hoạt động quản lý chất lượng tín dụng góp phần vào việc xây dựng và phát triển kinh tế. Chất lượng tín dụng là tổng hoà của nhiều yếu tố trong đó nợ quá hạn là một nhân tố trực tiếp và cụ thể nhất. Tuy còn một số tồn tại và hạn chế nhưng VCB Hà Nội vẫn đảm bảo kinh doanh có lãi, góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá. Những vẫn đề tồn tại và hạn chế cần được xem xét nghiêm túc để có biện pháp giải quyết hữu hiệu nhằm không ngừng củng cố và nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng giúp cho hoạt động kinh doanh của VCB Hà Nội ngày càng hiệu quả hơn.

Một phần của tài liệu Phân Tích Thực Trạng Quản Lý Chất Lượng Tín Dụng Của Ngân Hàng Tmcp Ngoại Thương Việt Nam - Chi Nhánh Hà Nội.docx (Trang 27 - 31)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(38 trang)
w