Đ iều trị và tiên lượng bệnh

Một phần của tài liệu Benh ho hap hen suyen cach dieu tri (Trang 80 - 92)

Điều trị căn cứ mức độ tràn khí và căn bệnh gây nên tràn khí. Những trường hỢp tràn khí màng phổi nhỏ, dưới 15% bệnh nhân cần được nằm viện và nghỉ ngơi trên giường, điều trị triệu chứng: ho, đau ngực và theo dõi bằng chụp phim X-quang lồng ngực 12 - 24 giờ một lần. Hầu hết bệnh nhân chỉ cần theo dõi trong 2 ngày ở bệnh viện là đủ. Nhiều ca tràn khí màng phổi nhỏ, khí tự tiêu đi một cách tự nhiên do khí được hấp

8 0 LÈ ANH SƠN b.èn ,

thu trong khoang màng phổi. Nhưng vẫn cần lưu ý rằng tràn khí có thể tiến triển thành tràn khí màng phổi căng. Những trường hỢp tiến triển thành tràn khí màng phổi căng khi bệnh nhân có triệu chứng nặng hoặc có tràn khí màng phổi lớn hơn 15% cần đăt ống dẫn lưu lồng ngực (ống mở lồng ngực), ông lồng ngực phải đặt dưới mực nước dẫn lưu, sâu trong lọ và hút cho tới khi phổi nở. Nếu dẫn lưu khí quá nhanh có thể gây phù phổi phía phổi bị tổn thương. Bệnh nhân nghi có tràn khí màng phổi căng phải chọc ngay bằng kim to sau đó đặt ống mở lồng ngực. Bệnh nhân tràn khí màng phổi dễ có nguy cơ tái phát (50%), vì vậy để phòng ngừa, người bệnh nên tránh ở độ cao, đi máy bay và lặn sâu với bình khí ép.

Theo Trung Quốc danh phương toàn tập dùng bài:

“Thăng hãm thanh” (Y học ai trung sâm tây lục); “Sinh mạch tán” {Nội ngoại thương biện hoặc luận) “Chứng dương lý lao thang” (Y tông tất độc).

Dược liệu / KL (g)

Sinh hoàng kỳ 18 Tri mẫu 9

Cát cánh, Sài hồ 5 Thăng ma 3

Cách dùng: sắc uống ngày 1 thang.

Công dụng: ích khí thăng hãm.

Dược liệu / KL (g)

Nhân sâm 10 Mạch môn 15

Ngũ vị tử 6 Sinh mạch tán

Cách dùng: sắc uống ngày 1 thang.

Công dụng: ích khí sinh tân, liễm âm chỉ hãn.

Dược liệu / KL (g)

Nhân sâm 12 Hoàng kỳ 12

Bạch truật 9 Chích thảo 6

S ê n í kó k ả p , hen suyễn và cách á iiu trì 81

Trần bì 6 Nhục quế 6

Đương qui 9 Ngũ vị tử 6

Cách dùng: sắc uống ngày 1 thang.

Công dụng: ô n bổ tỳ phế.

XẸP PHỔI Đ ịnh nghĩa

Xẹp phổi - tình trạng bệnh lý xảy ra khi các phế nang bị xẹp lại, co liền với nhau, làm cho không khí không vào được phế nang; nhu mô phổi đậm đặc, phổi có thể tích nhỏ hơn bình thường; xác định bằng X- quang. Cơ chế sinh bệnh chủ yếu là tắc phế quản.

Nguyên nhân: tắc trong lòng phế quản (khối u hoặc dị vật lọt vào đường thở); phế quản bị chèn ép từ ngoài (hạch lao trong sơ nhiễm), v.v.

Không giống như tràn khí màng phổi, là không khí giữa thành ngực và phổi, xẹp phổi phát triển khi các túi khí nhỏ (phế nang) trong phổi xì hơi.

Lượng của mô phổi liên quan đến xẹp phổi có thể thay đổi, tùy thuộc vào nguyên nhân. Các dấu hiệu và triệu chứng xẹp phổi cũng khác nhau với nguyên nhân cơ bản và mức độ sự tham gia của phổi. Xẹp phổi có thể là nghiêm trọng bởi vì nó làm suy yếu việc trao đổi ôxy và carbon dioxide trong phổi. Điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân và mức độ nghiêm trọng của sự sụp đổ.

Các triệu chứng

Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của xẹp phổi, có thể không có dấu hiệu hoặc triệu chứng rõ ràng.

8 2 LÈ ANH SƠN bií

Nếu trải nghiệm các dấu hiệu và triệu chứng, có thể bao gồm:

Khó thở;

Thở nhanh nông;

Ho;

Sốt nhẹ.

Xẹp phổi đáng kể có thể xảy ra khi đã nằm điều trị trong bệnh viện. Tuy nhiên, đến gặp bác sĩ ngay nếu có khó thở. Các điều kiện khác bên cạnh xẹp phổi có thể gây ra khó thở, và hầu hết yêu cầu chẩn đoán chính xác và điều trị kịp thời. Nếu thở trở nên ngày càng khó khăn, tìm kiếm sự chăm sóc khẩn cấp.

Nguyên nhân

Xẹp phổi có thể là kết quả của đường dẫn khí bị chặn (xẹp phổi tắc nghẽn) hoặc áp lực bên ngoài phổi (nonobstructive xẹp phổi). Cũng giống như bề mặt chất lỏng một bong bóng xà phòng giừ bong bóng còn nguyên vẹn, áo khoác bề mặt mỗi túi khí nhỏ (phế nang) trong phổi để chúng không bị đổ. Bất cứ điều gì làm giảm bề mặt, chẳng hạn như áp lực lên phổi, gây xẹp phổi.

Tắc nghẽn trong đường dẫn khí (ống phế quản) có thể gây xẹp phổi tắc nghẽn.

Các yếu tố nguy cơ

Những yếu tố làm tăng nguy cơ của xẹp phổi bao gồm:

Sinh non, nếu phổi không phát triển đầy đủ.

Bất kỳ điều kiện tự phát ho, ngáp và thở dài.

Bệnh phổi, chẳng hạn như hen suyễn, giãn phế

B ênẰ Ẵô kấ p , hen suyễn và cách điều tri83

quản, xơ nang.

Ngủ không thường xuyên thay đổi vị trí.

Phẫu thuật ngực hoặc bụng.

Gây mê.

Thở nông - ví dụ do đau bụng hoặc gãy xương sườn.

Yếu cơ hô hấp do chứng loạn dưỡng cơ, tổn thương tủy sống hoặc bệnh thần kinh cơ.

Béo phì, có thể nâng cao cơ hoành và cản trở khả năng để hít đầy đủ.

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị xẹp phổi phụ thuộc vào nguyên nhân. Xẹp phổi của một khu vực nhỏ của phổi có thể không cần điều trị. Nếu có một điều kiện cơ bản, chẳng hạn như một khối u, điều trị có thể liên quan đến việc loại bỏ hoặc thu nhỏ khối u bằng hóa trị, phẫu thuật hoặc xạ trị.

Thuốc men

Trong một số trường hỢp, thuốc có thể được sử dụng. Chúng bao gồm:

Acetylcystein (Acetadote, Mucomyst), làm lỏng chất nhầy và làm dễ dàng loại bỏ khi ho.

Thuốc hít giãn phế quản (Poradil, Maxair, Proventil, Serevent, Ventolin, Xopenex), mở các ống phế quản của phổi, thở dễ dàng hơn.

DNase (Dornase Alfa), được sử dụng để xóa nút chất nhầy ở trẻ em bị xơ nang và được chấp nhận là một điều trị xẹp phổi cho những người không có bệnh xơ nang.

Liệu pháp

Một số liệu pháp được gọi là vật lý trị liệu ngực

8 4 LÈ ANH SƠN biên

được sử dụng đê điều trị xẹp phổi. Chúng bao gồm:

Vỗ tay trên ngực trên khu vực bị sụp đổ để làm lỏng chất nhầy.

Thực hiện các bài tập thở sâu (khuyến khích đo phế dung).

Định vị cơ thể để đầu thấp hơn ngực (được gọi là tư thế thoát nước), cho phép chất nhầy thoát lốt hơn.

Bổ sung ôxy, có thể giúp giảm bớt khó thở.

Thủ tục phẫu thuật hoặc các thủ thuật

Bác sĩ có thể đề nghị loại bỏ các dị vật đường thở, có thể được thực hiện bằng cách hút chất nhầy hoặc nội soi phế quản. Nội soi phế quản sử dụng một ống luồn xuống cổ họng đến đường hô hấp. Thông thường, thực hiện các thủ tục (bronchoscopist) có thể loại bỏ một phần khối u để mở đường thông khí và tạm thời làm giảm sự tắc nghẽn.

Phòng chống

Để giảm nguy cơ xẹp phổi;

Bỏ qua những hạt quả. Không cho trẻ em các loại hạt cho đến khi chúng khoảng 3 năm, khi có răng hàm nhai kỹ hơn các loại hạt.

Ngưng h ú t thuốc lá. Hút thuốc gia tăng sản xuất chất nhầy và các thiệt hại cấu trúc nhỏ giống như tóc đường ống phế quản (lông mi). Chuyển động sóng của nó giúp loại bỏ chất nhầy của đường hô hấp.

Bài tập thở sâu. Sau khi phẫu thuật, theo hướng dẫn của bác sĩ để ho thường xuyên và làm các bài tập thở sâu.

Nếu phải nằm trên giường, thay đồi vị trí thường

B ê n h k ò kấ p , ken suyễn và cáck liề u ín* 8 5

xuyên. Định vị lại chính mình. Hãy đứng dậy và đi bộ ngay sau khi có thể.

BỆNH TẮC NGHẸN MÀNG P H ổI COPD là gì ?

COPD là thuật ngữ viết tắt cùa từ tiếng Anh:

Chronic Obstrucúve Pulmonary Disease (COPD) có nghĩa là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Bệnh rất thường gặp, yếu tố nguy cơ chính gây bệnh là thuốc lá, thuốc lào.

COPD là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, đặc trưng bởi tình trạng viêm niêm mạc đường thở mạn tính gây giảm từ từ, không hồi phục các giá trị chức năng thông khí phổi. Định nghĩa này hiện được hầu hết các bác sĩ chuyên khoa bệnh phổi sử dụng trong thực hành hàng ngày.

Tổn thương trong COPD ban đầu chủ yếu tập trung ở các nhánh phế quản nhỏ có đường kính <

2mm, và nhu mô phổi, tuy nhiên, ở những giai đoạn nặng, bệnh không chỉ khu trú ở phổi phế quản mà gây tổn thương trên toàn thân như ở tim, cơ, xương, tâm thần...

COPD thường được gỢi ý ở những người hút thuốc lá, thuốc lào nhiều năm, nay xuất hiện thêm ho, khạc đơm mạn tính về buổi sáng, c ần lưu ý, không nên xem nhẹ những biểu hiện ho, khạc đờm vào buổi sáng ở những người đang hút thuốc, không nên nghĩ rằng ho là biểu hiện thông thường ở người hút thuốc, vì như vậy sẽ bỏ sót chẩn đoán COPD, đến khi xuất hiện khó

8 6 LÊ ANH SƠN u

thở gắng sức, khó thở thường xuyên hoặc khi thay đổi thời tiết mới đi khám bệnh thì bệnh thường đã ở giai đoạn muộn, chức năng phổi đã suy giảm nhiều, do vậy việc điều trị thường ít mang lại hiệu quả.

Trong giai đoạn nặng của bệnh, lòng phế quản bị chít hẹp nhiều, niêm mạc viêm, phù nề, các sỢi, vách liên kết quanh tiểu phế quản tận và giữa các phế nang bị phá hủy, làm cho lòng tiểu phế quản bị tắc hẹp thường xuyên, đặc biệt mỗi khi người bệnh thở ra càng làm gia tăng tình trạng ứ khí. Các thành phế nang rất mỏng, lại bị phá hủy nhiều do khói thuốc lá, khi chịu tác động của sự căng giãn thường xuyên lại càng làm gia tăng tình trạng căng giãn nhu mô phổi, lâu dài làm lồng ngực người bệnh căng phồng lên, có thể thấy bằng mắt thường là lồng ngực có đường kính trước sau lớn hơn đường kính ngang, khi đó gọi là lồng ngực có hình thùng.

Trong giai đoạn nặng của COPD, không khí ra vào phổi bị cản trở và không được đổi mới thường xuyên, bên cạnh đó, do vách các phế nang (túi chứa khí của phổi) cũng bị phá hủy, lại càng làm cản trở sự trao đổi khí do vậy làm nồng độ khí ôxy trong máu bệnh nhân bị giảm, tích đọng nhiều khí cacbonic.

Tình trạng thiếu ôxy thường xuyên sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của nhiều cơ quan đặc biệt là tim.

Những bệnh nhân đã có suy hô hấp, thông thường sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng cuộc sống, người bệnh ít đi lại, chủ yếu sống trong gia đình, giao tiếp xã hội bị hạn chế, chất lượng công việc, tình cảm của bệnh nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng... về lâu dài, bệnh nhân thường xuyên có cảm giác cô đơn, cảm giác mình trở thành gánh nặng cho gia đình và xã

B ênẰ k ô k ắ p , ken suyễn và cách ắiều tri 8 7

hội... do vậy có thể gây trầm cảm... Bên cạnh đó, khoảng 60% các bệnh nhân COPD có chỉ định thở ôxy dài hạn, những trường hợp này thường cần nằm tại chỗ từ 16-18 tiếng/ ngày, càng làm gia tăng trầm cảm cho bệnh nhân.

http://www.benhphoi.com

Sự nguy hiểm của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là một bệnh thuộc hệ thống đường hô hấp. Tỷ lệ tử vong của bệnh này trên thế giới được xếp vào hàng thứ tư. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thường xảy ra ở lứa tuổi thanh niên và người có tuổi, đặc biệt là nhừng người có tiền sử hút thuốc lá...

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính gặp ở nam nhiều hơn nừ nhưng hiện nay tỷ lệ nữ giới mắc bệnh có xu hướng gia tăng do nữ giới có một tỷ lệ hút thuốc đáng kể.

Bệnh p h ổ i tắc nghẽn mạn tính là gì?

Đây là bệnh lý đặc trưng thuộc đường hô hấp làm tắc nghẽn đường thở và không hoàn toàn hồi phục.

Thực tế bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có 2 dạng:

dạng viêm phế quản mạn tính và dạng khí phế thủng.

Có người mắc cả 2 dạng và triệu chứng của 2 dạng cũng tương tự nhau nên người ta gọi là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Người ta thấy rằng những người nghiện thuốc lá, thuốc lào có nguy cơ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính chiếm tỷ lệ cao nhất, ước tính rằng cứ 5 người nghiện thuốc lá thì sẽ có một người mắc bệnh (tỷ lệ mắc bệnh do hút thuốc lá chiếm khoảng từ 10 - 20%). Cũng nên lưu ý rằng một khi

8 8 L È A N H 5 0 N tiền 5oạn

người bệnh đến với bác sĩ mà đã có ho, khó thở, tăng tiết chất nhày thì bệnh đã nặng rồi.

Nguyên tắc điều trị và dự phòng bệnh p h ổ i tắc nghẽn mạn tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là một bệnh trường diễn, việc điều trị gặp không ít khó khăn. Người ta thấy rằng các thuốc corticosteroid có thí làm giảm các triệu chứng của bệnh hen suyễn cấp tính rất hiệu nghiệm nhưng lại không có tác dụng hoặc tác dụng hạn chế trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giai đoạn ổn định, trong khi đó thuốc anticholinnergic dạng bc?m đem lại hiệu quả khá cao trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Nhiều tác giả khuyến nghị nên dùng các thuốc anticholinergic là thuốc điều trị duy trì đối với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, khi bệnh tiến triển xấu cần kết hỢp với các thuốc chủ vận bêta hoặc một số thuốc khác.

Muốn phòng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, điều quan trọng là bỏ thuốc lá, thuốc lào. Thuốc lá, thuốc lào không những là những nguyên nhân gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính mà còn là những nguy cơ cao của các bệnh về phổi, đặc biệt là ung thư phổi, c ầ n sống trong môi trường sạch ít khí độc, khói độc hại. c ầ n có bảo hộ lao động tốt cho những ai làm việc trong môi trường có hóa chất, khói, bụi bặm... Nên tập thể dục hàng ngày, nhất là hít thở không khí trong lành trước và sau khi ngủ dậy.

Triệu chứng chính của bệnh p h ổ i tắc nghẽn mạn tính

Triệu chứng hay gặp nhất là khó thở, ho, khò khè

B ên h hô hấp, hen suyển và cách điều tri8 9

và có hiện tượng tăng tiết chất nhày và đờm. Một người bệnh được chẩn đoán là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính khi có biểu hiện ho, khạc đờm trên 3 tháng trong một năm và biểu hiện liên tiếp như vậy trong vòng 2 năm trở lên, khó thở ngày càng tăng. Bệnh nhân thường phải gắng sức để thở hoặc thở hổn hển.

Đờm trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thường trong hoặc hơi đục, đôi khi có màu hơi vàng. Khi dùng ống nghe để nghe phổi thì thấy có ran như ran rít, ran ngáy, ran ẩm to hạt, ran nổ. Nếu cơ sở y tế có điều kiện đo chức năng hô hấp sẽ thấy chỉ số thông khí tắc nghẽn không hồi phục, ớ đây cũng cần quan tâm đến bệnh về hô hấp, cũng gây khó thở đó là bệnh hen suyễn. Bệnh hen suyễn thường xuất hiện vào ban đêm hoặc khi thời tiết thay đổi hoặc gặp dị nguyên như phấn hoa, tôm, cua... và thường có tiền sử bị bệnh hen từ lúc còn nhỏ tuổi; tiền sử gia đình có người bị hen suyễn hoặc mắc một số bệnh dị ứng như mề đay, viêm da dị ứng. Bệnh cũng có ho, khó thở (khó thở vào), tăng tiết, khi nghe phổi cũng có ran rít, ran ngáy, có rối loạn thông khí tắc nghẽn nhưng có khả năng hồi phục. Cả hai bệnh hen suyễn và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đều hay tái diễn và đều có khả năng trở thành tâm phế mạn. Tuy vậy bệnh hen suyễn dẫn đến suy hô hấp và tâm phế mạn chậm hơn bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Bệnh hen suyễn sẽ lên cơn hen cấp tính mỗi khi gặp phải chất gây dị ứng (dị ứng nguyên) hoặc chất kích thích trong khi bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính không nhất thiết như vậy. Để chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính người ta dùng phế dung ký. Phế dung ký giúp cho vệc chẩn đoán phân biệt các bệnh gây tắc nghẽn đường thở như hen suyễn, bệnh

9 0 LÈ ANH S O N bi.

phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh xơ phổi...

BACSI.com (Theo SKDS)

7 lời khuyên cho bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)

1) Hãy đến Bác sĩ ngay khi bạn có dấu hiệu mắc bệnh: ho, khạc đờm và khó thở khi làm nặng. Hãy đo chức năng hô hấp để xác định xem liệu bạn có mắc COPD.

2) Dùng đúng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ. Bạn cần đến khám lại định kỳ hàng tháng và mỗi khi có đợt bùng phát của bệnh.

3) Bỏ hút thuốc lá, thuốc lào. Đây là việc quan trọng đầu tiên nên làm nếu bạn là người hút thuốc lá, thuốc lào. Hãy yêu cầu Bác sĩ giúp đỡ, cho lời khuyên.

Tránh xa nơi có nhiều người hút thuốc và những vật dụng liên tưởng đến thuốc lá. Dùng thuốc cai thuốc lá nếu cần.

4) Giừ không khí trong nhà thật sạch, thoáng.

Tránh khói và các loại khí gây khó thở, tránh tiếp xúc với khói bếp than.

5) Luyện tập, giữ cho thân thể khoẻ mạnh. Tập thở theo hướng dẫn của Bác sĩ, đi bộ và tập thể dục đều đặn, ăn uống đầy đủ dinh dưỡng.

6) Nếu bạn bị COPD mức độ nặng, hãy sống lạc quan và hoạt động tối đa trong điều kiện sức khoẻ cho phép. Làm mọi việc thường ngày một cách chậm rãi, đơn giản; chọn chỗ ngồi để có thể nghỉ ngơi thoải mái khi cần.

7) Đến bệnh viện hay Bác sĩ ngay nếu tình trạng của bạn của bạn xấu đi.

K ênẰ Itồ hấp, ken suyễn và cách íỉiều trí 91

Một phần của tài liệu Benh ho hap hen suyen cach dieu tri (Trang 80 - 92)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(237 trang)