Chuẩn Bị Lễ Cưới

Một phần của tài liệu Hon nhan cong giao chua xac dinh (Trang 147 - 151)

Ðiểm IV: Vai Trò của Con Cái Trong Việc Xây

Chương 21: Chuẩn Bị Lễ Cưới

Phần Một: Ðôi Dòng Lịch Sử

Hầu hết các đôi tân hôn đều có nhiều ý kiến để làm đám cưới của họ trở nên "đặc biệt." Những chi tiết và đề nghị sau nhằm giúp bạn suy nghĩ để hoạch định một đám cưới mà nó bao gồm "truyền thống Kitô Giáo" và "ý kiến cá nhân."

Những gì mà nhiều người cho là truyền thống đám cưới Kitô Giáo thì thực sự nó đã có từ lâu trước khi có Kitô Giáo. Hầu hết những thói quen thông thường, tỉ như, cha cô dâu "đưa tiễn" cô dâu, tục lệ ném gạo vào đôi tân hôn, cắt bánh cưới, v.v. thực sự là những truyền thống gia đình của Do Thái Giáo và người La Mã. Trong thời kỳ Kitô Giáo tiên khởi, người Kitô lập gia đình theo truyền thống gia đình hay theo luật dân sự. Giáo Hội không dính dáng gì đến.

Về sau, đôi tân hôn Kitô Giáo xin Ðức Giám Mục chúc lành cho hôn nhân của họ khi họ cùng đứng với cộng đoàn bên ngoài nhà thờ sau Thánh Lễ Chúa Nhật. Như thế, họ được chúc lành trong "con mắt của Giáo Hội" (trước nhà thờ). Nhưng đây không phải là nghi thức hôn phối mà chỉ là sự chúc lành cho một cặp đã kết hôn. Cho đến khoảng năm 1000 thì mới có "truyền thống" làm lễ cưới trong nhà thờ!

Khi các Kitô hữu bắt đầu cử hành đám cưới trong nhà thờ, họ đem theo những truyền thống gia đình. Ðây là lý do mà những tục lệ Do Thái và Rôma đã trở nên một phần của lễ cưới Kitô Giáo. Người ta thấy "thoải mái" với những tục lệ này, và Giáo Hội cũng không thấy có lý do để tẩy chay, vì hầu hết những tục lệ này không đóng vai trò quan trọng trong nghi thức hôn nhân. Bản chất của nghi thức hôn nhân là lời thề hứa vĩnh viễn và vô điều kiện được nói lên trước sự hiện diện của linh mục và hai người chứng, tất cả những điều còn lại chỉ có tính cách "trang trí." (Ghi chú: ngoài linh mục, người chứng chính thức có thể là thầy sáu hay người giáo dân được đức giám mục ủy quyền).

Mãi cho đến thập niên 1960, hôn nhân trong Giáo Hội Công Giáo khi được cử hành với Thánh Lễ, thì hầu như được tách biệt khỏi Thánh Lễ đến nỗi chính nghi lễ này trở thành tiêu chuẩn và rất giống như nghi lễ được cử hành trong hầu hết các Giáo Hội Tin Lành. Tất cả những điều này bắt đầu thay đổi vì những quyết định của Công Ðồng Vatican II (1963-1965).

Trong các khóa họp của Vatican II, các giám mục có những quyết định quan trọng trong giáo huấn chính thức về hôn nhân Công Giáo.

Trong thời Trung Cổ có thói quen đề cập đến hôn nhân Công Giáo như một "khế ước", vì dường như đó là cách rõ ràng nhất để nói lên tình trạng "vĩnh viễn và vô điều kiện" của hôn nhân Công Giáo. Vấn đề xảy ra là trong thế kỷ 20, chữ "khế ước" dần dần có ý nghĩa là một điều hợp pháp, nhưng có thể xóa bỏ nếu đôi bên đồng ý chấm dứt khế ước. Do đó, các giám mục quyết định tốt hơn nên dùng một chữ khác, là chữ "giao ước" mà họ hy vọng nó sẽ nói lên ý nghĩa hôn nhân Công Giáo sẽ vĩnh viễn như giao ước giữa Thiên Chúa với dân Ngài. Ðây không phải là sự thay đổi trong học thuyết. Tuy nhiên, nó cốt làm sáng tỏ sự độc đáo của lời thề hôn nhân Công Giáo trong một thế giới mà dường như người ta không thể hiểu được ý nghĩa vĩnh viễn và vô điều kiện của lời thề.

Cộng thêm với sự thay đổi danh từ "giao ước", các giám mục còn khẳng định điểm quan trọng là hôn nhân "phải chắc rằng không được thiết lập vì mục đích duy nhất là sinh sản" và "tình yêu hỗ tương giữa hai người phối ngẫu" là yếu tố căn bản của hôn nhân Công Giáo.

Sự khẳng định của Công Ðồng Vatican II đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến lối suy tư của người Công Giáo về hôn nhân, và điều này, ngược lại, có liên can đến cách cử hành lễ cưới của người Công Giáo. Bây giờ, tất cả những hành động, lời nói, và âm nhạc của lễ cưới phải được xem xét với một vài tiêu chuẩn cần lưu ý. Có thể nói, những hành động, lời nói và âm nhạc phải "nói lên" hay "giải thích"

hôn nhân là:

- lời thề vĩnh viễn và vô điều kiện, - giữa hai người cùng phẩm giá,

- họ thề sống hôn nhân này như một "lối sống" mà Thiên Chúa đã hoạch định cho họ,

- mỗi người "từ bỏ gia đình mình" để bắt đầu một gia đình mới.

Phần Hai: Hoạch Ðịnh Ðám Cưới

Với sự lưu ý đến những điều trên, chúng ta có thể nhìn đến lễ cưới, và xem những ý tưởng này có ảnh hưởng thế nào đến nghi thức. Nghi thức có thể gồm 4 phần:

1. Tiến Vào Nhà Thờ 2. Phụng vụ Lời Chúa 3. Nghi thức Thề Hứa

4. Lời nguyện Thánh Thể (tuỳ ý) và Chúc Lành cho cô dâu chú rể.

1. Tiến Vào Nhà Thờ. Sau khi các người trong gia đình đã ngồi vào ghế, phần Tiến Vào Nhà Thờ được bắt đầu với cha xứ. Chú rể có thể bước song song với cha xứ, hoặc có thể được cha mẹ hộ tống đi sau cha xứ. Sau đó các phù dâu, phù rể tiến vào theo từng cặp, kế đến là các em mang hoa và nhẫn. Sau cùng cô dâu được hộ tống bởi cha mẹ (hoặc chỉ bởi người cha) tiến vào nhà thờ.

Hãy nhớ tất cả những điều này chỉ có mục đích duy nhất là đưa mọi người vào chỗ ngồi để có thể bắt đầu nghi lễ! Lễ cưới thực sự bắt đầu với Dấu Thánh Giá và được nối tiếp bằng Lời Nguyện Mở Ðầu của cha xứ.

2. Phụng Vụ Lời Chúa. Ðây là yếu tố chính yếu đầu tiên của nghi lễ, và phải được hoạch định cẩn thận. Thường cha xứ sẽ hướng dẫn bạn chọn các bài đọc.

Các bài đọc và bài giảng hiện nay được chú ý nhiều hơn lúc trước. Phải cẩn thận chọn những người đọc Sách Thánh. Rất tốt để mời bạn hữu hay thân nhân làm người đọc sách, nhưng phải chắc rằng họ có thể chu toàn nhiệm vụ này cách tốt đẹp.

3. Nghi Thức Thề Hứa. Ðây là lúc mà mọi người sẽ chú ý đến cô dâu chú rể vì chính cô dâu và chú rể là "thừa tác viên" của hôn nhân Công Giáo. Cha xứ chỉ là "người chứng chính thức", và toàn thể giáo đoàn là những nhân chứng bán chính thức.

Trong những truyền thống mà chúng ta thừa hưởng từ thời Trung Cổ, thường đôi tân hôn quỳ gối trước cha xứ và chính cha xứ là người đọc lời thề (chứ không phải là đôi tân hôn) và đôi tân hôn chỉ trả lời "thưa có." Nó giống như nghi thức phong chức hiệp sĩ cho một người, bởi thế cũng không ngạc nhiên khi người ta thường nghĩ là cha xứ "tác hợp vợ chồng cho đôi tân hôn"! Trong một vài nghi thức, ngay cả cha xứ nói rằng "tôi tuyên bố thành vợ chồng" và cũng

thế, điều này khiến người ta lầm tưởng rằng hôn nhân thành tựu là bởi cha xứ tuyên bố!

Ngày nay Giáo Hội Công Giáo cố gắng cho thấy chính cô dâu và chú rể là những "thừa tác viên" đích thực của hôn nhân Công Giáo.

Bởi thế, ngày càng phổ thông hơn khi cô dâu và chú rể đứng (hơn là quỳ) trước bàn thờ, đối diện với giáo đoàn, và nói lên lời thề hứa với nhau. Cha xứ đứng đằng sau hay đằng trước để giúp họ. Trong phương cách này, đôi tân hôn trở nên tâm điểm thích hợp để được chú ý, và giáo đoàn có thể trông thấy họ một cách rõ ràng và nghe họ nói lên những lời quan trọng của đời sống vợ chồng.

Trong khi đôi tân hôn còn đứng như thế, thật dễ để thêm vào những truyền thống, tỉ như tặng sách Phúc Âm và chuỗi tràng hạt, v.v.

Việc sử dụng "Nến Hiệp Nhất" trở nên phổ thông trong các lễ cưới. Nhiều người coi đó là một dấu hiệu dễ thương của hai trở nên một. Nhưng cũng có người không chắc nó có "nói lên" hôn nhân Công Giáo một cách chính xác không. Khi hai cây nến nhỏ được tắt đi, có phải nó có nghĩa là mỗi người "mất đi căn tính của mình" và trở nên một điều gì đó "lớn hơn"? Và dấu hiệu này "nói" gì về sự hiện diện của Thiên Chúa trong hôn nhân? Bởi thế, đó là lý do tốt để thắc mắc về thói quen này và cũng quan trọng để biết rằng "Nến Hiệp Nhất" không phải là phần chính thức của nghi lễ của Giáo Hội.

Thực vậy, một vài giáo xứ sẽ yêu cầu bạn đừng dùng nghi thức này.

Lời Nguyện Giáo Dân sẽ chấm dứt phần này của nghi lễ hôn phối. Lời nguyện có thể là công thức tiêu chuẩn hay có thể được đôi tân hôn sáng tác phù hợp với quy tắc phụng vụ.

4. Lời Nguyện Thánh Thể và Chúc Lành Ðôi Tân Hôn. Ba mươi năm trước đây, người ta cử hành "Nghi thức hôn phối" và sau đó là

"Thánh Lễ." Nó là hai phần phụng vụ riêng biệt được cử hành nối tiếp nhau. Sau nghi thức hôn phối, đôi tân hôn được xếp vào chỗ danh dự (thường là quỳ trước bàn thờ) và tham dự Thánh Lễ.

Kể từ khi có sự canh tân phụng vụ của Công Ðồng Vatican II, chúng ta được hiểu là tất cả mọi Bí Tích phải được cử hành xứng hợp trong khung cảnh Thánh Lễ. (Ghi chú: Ðối với Bí Tích Hôn Phối, đây chỉ là điểm khởi đầu hợp pháp và có tính cách phụng vụ của bí tích). Như vậy, hôn nhân Công Giáo thường được kết thúc với việc

Một phần của tài liệu Hon nhan cong giao chua xac dinh (Trang 147 - 151)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(151 trang)