CHƯƠNG 5 CHÍNH SÁCH VÀ CHẾ ĐỘ CỦA NHÀ NƯỚC
5.1. Khái quát về chính sách tiền lương về thu nhập ở nước ta
ở nước ta 5.1.1.Ưu điểm
- Chủ trương về cải cách chính sách tiền lương của Đảng từ năm 2003 đến nay là đúng đắn, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Chính sách đạt một số mục tiêu như đã được cải thiện để nâng dần mức lương phù hợp với sự biến động của giá cả cũng như năng suất lao động đồng thời cũng tạo ra được một sợ công bằng chung về mặt xã hội giữa các ngành nghề với các nhóm lao động khác nhau.
- Năm 2022 những khoản lương hưu tăng 7,4% và các khoản trợ cấp BHXH, trợ cấp hàng tháng tăng đây là một dấu hiệu tích cực giúp những người đang khó khăn phần nào giảm gánh nặng.
- Chính sách lương đã có điều chỉnh linh hoạt theo mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng và khả năng của NSNN.
5.1.2.Nhược điểm
- Nhiều bất cập lớn như khuyến khích, cống hiến, đảm bảo thu hút nhân tài, trả công xứng đáng với những thành tích đột xuất của người lao động còn rất xa với mục tiêu này.
- Trừ lương doanh nghiệp còn lương ở ngân sách khá trì trệ thời gian tăng chậm mức độ tăng rất thấp do đó thậm chí tạo ra tình huống cuối đời cũng chưa được mức lương cao nhất.
- Chưa thực sự đáp ứng được cái đảm bảo yêu cầu tích lũy của người lao động như là mục tiêu của lương với tư cách giá cả của người lao động ta đặt ra.
- Chính sách tiền lương trong khu vực công còn phức tạp, thiết kế hệ thống bảng lương chưa phù hợp với vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo, còn mang nặng tính bình quân, không bảo đảm được cuộc sống, chưa phát huy được nhân tài, chưa tạo được động lực để nâng cao chất lượng và hiệu quả làm việc của người lao
động.
- Quy định mức lương cơ sở nhân với hệ số không thể hiện rõ giá trị thực của tiền lương.
- Có quá nhiều loại phụ cấp, nhiều khoản thu nhập ngoài lương do nhiều cơ quan, nhiều cấp quyết định bằng các văn bản quy định khác nhau làm phát sinh những bất hợp lý, không thể hiện rõ thứ bậc hành chính trong hoạt động công vụ.
- Chưa phát huy được quyền, trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc đánh giá và trả lương, thưởng, gắn với năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả công tác của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.
5.1.3.Thực tiễn diễn biến tiền lương và thu nhập nước ta
Theo lộ trình thực hiện đề án cải cách chính sách tiền lương, từ năm 1993 đến nay, mức lương tối thiểu chung đã điều chỉnh 17 lần. Và cụ thể từ năm 5/2016 đến 2/2023, mức lương tối thiểu chung đã từ 1.150.000đ lên 1.490.000đ.
Bảng 5.5: Sự thay đổi mức lương cơ sở qua các năm 2016-2023 Thời điểm áp dụng Mức lương cơ sở
(đồng/tháng/năm) Căn cứ pháp lý Từ 01/05/2016 đến hết
tháng 6/2017 1.210.000 Nghị định 47/2016/NĐ-
CP Từ 01/07/2017 đến hết
tháng 6/2018 1.300.000 Nghị định 47/2017/NĐ-
CP Từ 01/07/2018 đến hết
tháng 6/2019 1.390.000 Nghị định 72/2018/NĐ-
CP
Từ 01/07/2019 - đến hết
tháng 6/2023 1.490.000
Nghị định 38/2019/NĐ- CP
Nghị quyết 122/2020/QH14 Từ 1/7/2023
1.800.000 Dự kiến
Mức lương tối thiểu của doanh nghiệp trong nước chia làm 4 mức, tương đương với 4 vùng (căn cứ theo mức thu nhập trung bình của người lao động trong vùng) và
cụ thể từ năm 2019 đến 2/2023 như sau:
Bảng 5.6: Mức lương tối thiểu vùng giai đoạn 2019-2/2023 Năm Mức lương (đồng/tháng)
Nghị định
Vùng I Vùng II Vùng III Vùng IV
2019 4.180.000 3.710.000 3.250.000 2.920.000 141/2017/NĐ-CP 2020 4.420.000 3.920.000 3.430.000 3.070.000 157/2018/NĐ-CP 2021 4.420.000 3.920.000 3.430.000 3.070.000 90/2019/NĐ-CP 2022 4.420.000 3.920.000 3.430.000 3.070.000 90/2019/NĐ-CP 2/202
3 4.420.000 3.920.000 3.430.000 3.070.000 90/2019/NĐ-CP Nhận xét:
- Bộ Nội Vụ cho biết sẽ để điều chỉnh mức lương tối thiểu của công chức lên 4.180.000 đồng một tháng vào năm 2019. Quan hệ lương tối thiểu – trung bình – tối đa chưa hợp lý, mức lương chưa trả đúng với năng lực làm việc, chức danh. Giai đoạn 2016-2020 thực hiện mở rộng quan hệ mức lương tối thiểu – trung bình – tối đa từ mức 1 – 2,34 – 10 hiện nay lên mức 1 – 3,2 – 15.
- Đầu năm 2021 dịch bệnh Covid-19 đã khiến nền kinh tế nước ta bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Chính phủ buộc phải tạm ngừng việc điều chỉnh mức lương cơ sở giữ nguyên là 1.490.000 đồng (tăng theo Nghị định số 86/2019/QH14) và mức lương tối thiểu vùng được giữ nguyên cho đến nay là 4.420.000 đồng. Dự kiến vào 7/2023 mức lương cơ sở sẽ tăng lên mức 1 triệu 8 đây là dấu hiệu tích cực giúp người dân và người lao động có thể được cải thiện thu nhập phù hợp với tình hình thực tế xã hội hiện nay.
- Mức lương cơ sở và mức lương tối thiểu vùng đã tăng đáng kể so với năm 2018 cho thấy có điều chỉnh linh hoạt theo mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng và khả năng của NSNN.
Qua các giai đoạn cải cách chính sách tiền lương của Việt Nam có thể nhận thấy quá trình phát triển, hoàn thiện tư duy lý luận về chính sách tiền lương của Đảng và Nhà nước Việt
Nam.