Chủ trương tối giản kết cấu cốt truyện

Một phần của tài liệu Đặc điểm truyện ngắn raymond carver (Trang 80 - 88)

Chương 3. NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN CỦA RAYMOND CARVER

3.1.2. Chủ trương tối giản kết cấu cốt truyện

Kết cấu cốt truyện của truyện ngắn R.Carver không chỉ phong phú về dạng thức, mà còn mang tính chất tối giản. Thậm chí, khái niệm này còn được đẩy lên đến tầm “chủ nghĩa”: chủ nghĩa tối giản, chủ nghĩa cực hạn (dịch từ thuật ngữ Minimalism trong tiếng Anh). Tối giản được hiểu là “hạn chế tối đa mọi khả năng hư cấu, khả năng tự sự chủ quan, khả năng bao quát hết mọi vấn đề…, không phản ánh thực tại bằng ẩn dụ, biểu tượng, mà bằng hoán dụ”[67, 433]. Trong văn học Mỹ, R.Carver không phải là người tiên phong

của chủ nghĩa tối giản, nhưng có thể xem ông là bậc thầy truyện ngắn tối giản.

Truyện ngắn của R.Carver không mang sẵn cho người đọc bức tranh cuộc sống mang tính tròn vẹn, mà hướng người đọc đến một cách đọc vượt lên trên những mô tả chính xác, cụ thể để liên tưởng, tưởng tượng và đồng sáng tạo. Mỗi truyện ngắn của ông là một ví dụ hoàn hảo cho lối viết tối giản. Để tạo ra những kết cấu cốt truyện tối giản, R.Carver thường dùng ba cách thức cơ bản: tìm đến hình thức ngắn, tiết chế vai trò người kể chuyện và bỏ qua khâu giải quyết xung đột.

Nhìn từ đặc trưng thể loại, truyện ngắn là một hình thức tự cỡ nhỏ, không có tham vọng thâu tóm mọi hiện thực, không nhắm đến sự tái hiện bức tranh đủ đầy, hoàn hảo. Truyện ngắn dĩ nhiên phải ngắn, nhưng đó không phải là sự rút gọn của một truyện dài. Có thể ví truyện ngắn như một sự tình vắn tắt đã tìm được hình thức vừa vặn với mình. Tuy nhiên, truyện ngắn không tự gói mình trong cái áo chật hẹp của hình thức thể loại, mà luôn chứa đựng những chiều sâu phía sau dung lượng ngôn từ ít ỏi. Sức mạnh của truyện ngắn là ở chỗ đó.

Với R.Carver, ông đã chủ trương “làm ngắn” mọi yếu tố hình thức trong truyện của mình. “Hình thức ngắn” ở đây là “ngắn” về dung lượng câu chữ, “hẹp” về phạm vi hiện thực được bao quát, “ít” nhân vật, “tiết kiệm” chi tiết, sự kiện, và “kiệm lời” trần thuật. Còn ý nghĩa của truyện thì dài rộng vô cùng, tùy vào cách đọc và khả năng cảm nhận của độc giả.

Trước hết là về dung lượng câu chữ, khảo sát 51 truyện ngắn trong ba tập truyện nổi tiếng của ông, chúng tôi tạm thống kê như sau (tính trên sách in văn bản gốc của các cuốn Will you please be quiet, please?, We Talk About When We Talk About Love, Cathedral):

- 19/51 truyện có dung lượng dưới 7 trang - 23/51 truyện có dung lượng từ 7 đến 13 trang

- 9/51 truyện có dung lượng trên 13 trang.

Đặc biệt, có một số truyện chỉ chiếm dung lượng từ 3 - 4 trang như khí dân dã, Người bố, Ngài Cà phê và ngài sửa chữa, Kính ngắm. Số truyện ngắn trên 20 trang hoàn toàn vắng bóng trong các tập truyện của ông. Điều độc đáo là, tuy sử dụng dung lượng câu chữ hạn hẹp nhưng mỗi truyện ngắn của R.Carver lại gợi ra cả một trường liên tưởng khiến người đọc phải phát huy vai trò đồng sáng tạo với tác giả mới có thể tìm ra nhiều ý vị sâu xa, rộng lớn mang tầm xã hội, thời đại mà nhà văn phản ánh trong tác phẩm. Ví dụ, truyện ngắn Người bố (Father) chỉ vẻn vẹn trong hai trang sách nhỏ. Truyện kể chuyện về cái khoảnh khắc cả gia đình quây quần bên đứa bé vừa mới sinh ra, các thành viên trong gia đình bàn tán về ngoại hình đứa bé. Bà nội bảo:

“Những ngón tay bé xíu kia! Y như là của mẹ nó”. Người mẹ bảo: “Nó kháu khỉnh quá nhỉ”, “Thật là khỏe mạnh, con bé bỏng của mẹ”. Chị gái của đứa bé thì bảo: “Nó có đôi mắt đẹp”, những người khác nhận xét về đôi môi, về cái mũi,… Câu chuyện đang rôm rả trong bầu không khí ấm áp, bỗng cô chị Alice đặt vấn đề: “Nhưng trông nó giống ai, trông nó giống ai?”. Mấu chốt tư tưởng của truyện bắt đầu từ đây. Bà nội khẳng định: “Nó có đôi môi của ông nội, Carol - một cô chị khác lại bảo “nó giống bố”. Riêng người mẹ của đứa bé có những cử chỉ và lời nói rất không bình thường. Trước câu hỏi: đứa trẻ giống ai? Trả lời mẹ chồng, cô nói ấp úng: “Con không biết…”, “con không có ý kiến”. Khi một cô con gái hỏi cái mũi của đứa trẻ giống ai thì người mẹ trả lời rằng: “Không, mẹ không biết”. Trong khi mọi người trong gia đình đang bàn về chuyện đứa trẻ vừa sinh giống ai, mạch truyện ngẫu nhiên chuyển sang người bố. Bố giống ai? Cô con gái hỏi. Tất cả mọi ánh mắt trong gia đình hướng về người bố, thì chính cô con gái tự trả lời: “Bố không giống bất cứ ai cả”. Trong tình huống ấy, bà nội của đám trẻ nói: “Suỵt” - ra hiệu cho mọi người dừng bàn luận tiếp vấn đề, rồi bà nhìn ra chỗ khác để tránh sự

truy vấn của mọi người. Tất cả mọi người đều hướng cái nhìn về người bố, trừ bà nội. Còn người bố thì “khuôn mặt anh trắng bợt, không biểu lộ điều gì”.

Chuyện kết thúc khi mà các câu hỏi: Đứa trẻ giống ai? Người bố giống ai chưa có đáp án rõ ràng. Người kể không nói, bà nội không nói, người mẹ cũng không nói. Vậy là một sự thật bị giấu kín, không lộ trên bề mặt câu chữ ngắn gọn. Nhưng xâu chuỗi lại các chi tiết được kể, đặc biệt là các chi tiết miêu tả thái độ, lời nói của các nhân vật bà nội, người mẹ và cả người bố nữa thì người đọc sẽ tìm ra đáp án cho các câu hỏi trên đây: Người bố không có một ông bố rõ ràng, rồi đến lượt đứa trẻ vừa được sinh ra cũng không phải là con của người bố trong truyện. Nội dung của truyện khép lại ở đó, nhưng lại gợi mở cho người đọc nhiều vấn đề về cuộc đời. Đấy là nỗi tổn thương, nỗi đau khó nói của những phận người không có lai lịch rõ ràng. Người bố là con của người đàn ông nào? Chỉ có bà nội mới rõ, nhưng bà không thể nói ra. Đứa cháu vừa sinh là con của ai? Chỉ mẹ của cháu mới có câu trả lời, nhưng cô cũng chỉ có thể nói: “Con không biết”, “Mẹ không biết”. Bà nội hiểu, người bố và người mẹ đều hiểu nhưng cái sự tình cay đắng đó tất cả đều phải giấu chặt bên trong, không ai chia sẻ, tất cả đều sống trong mối nghi hoặc. Họ là thành viên trong một gia đình, và họ biểu trưng cho cả xã hội - một xã hội đầy nghi hoặc, mất niềm tin lẫn nhau. Ta dễ thấy được luật nhân quả được nhắc đến một cách nhẹ nhàng mà tinh tế qua câu chuyện nhỏ. Ngoài ra, sự xuất hiện của những đứa trẻ hồn nhiên, ngây thơ trong truyện, bên cạnh các nhân vật người lớn đầy ẩn ức bên trong, còn cho thấy quan niệm hãy để cho những đứa trẻ kia được sống cuộc đời trong sáng, được yêu thương, tôn trọng... Vậy là, với dung lượng chỉ vài trang sách, với hệ thống chi tiết được tối giản đến tận cùng, lời văn trần thuật cũng lạnh lùng, ngắn gọn, truyện chỉ kể về một sự kiện cả gia đình quây quần bên đứa trẻ vừa sinh ra, nhưng sức gợi của truyện thì hết sức phong phú, sâu xa, chạm đến nhiều xúc cảm của người đọc ngày ấy và bây giờ.

Truyện ngắn Cơ khí dân dã (Popular Mechanics) có dung lượng gần như tương tự, thậm chí ngắn hơn. Truyện chỉ có duy nhất một sự kiện: Hai vợ chồng tranh dành nhau một đứa trẻ. Hệ thống chi tiết bao quanh sự kiện ấy cũng rất ít ỏi, lời dẫn của người kể chuyện thì được tỉnh lược, chỉ còn lại một vài câu đơn ngắn gọn như “anh nói”, “chị nói”,… Với kích cỡ nhỏ bé ấy, có thể xếp truyện ngắn nào vào hàng những truyện cực ngắn (truyện mini, short- short stories). Xét về sự kiện, chỉ có duy nhất một sự kiện, với một số chi tiết miêu tả cuộc giằng co để dành giật đứa trẻ của hai vợ chồng. Xét về nhân vật, truyện chỉ có ba người - người chồng, người vợ và đứa trẻ chưa biết nói. Xét về lời văn, chúng ít ỏi, sơ sài, ngắn gọn, bị tỉnh lược đến mức tối đa. Còn lời thoại thì rất “tiết kiệm”, đặc biệt là người chồng dường như “câm lặng”. Vậy là, nhìn ở phương diện nào ta cũng thấy “hình thức ngắn”. Thế nhưng, ý nghĩa của truyện thì không dừng lại ở những gì được kể trên văn bản, mà sâu rộng hơn nhiều. Đó là vấn đề lối sống, cách hành xử lạnh lùng, vô cảm giữa người với người; đó là quan hệ vợ chồng con cái trong xã hội hiện đại; đó là nỗi khổ đau của những đứa trẻ thiếu vắng mái ấm gia đình,… Người đọc có thể phát huy trường liên tưởng của mình để đọc ra muôn vàn những “khả thể” mà câu chuyện gợi ý.

Để đảm bảo tính chất tối giản, R.Carver còn tiết chế vai trò của người kể chuyện. Người kể chuyện (narrator) là chủ thể trần thuật trong sáng tác tự sự, một loại nhân vật được nhà văn xây dựng trong tác phẩm nhằm thực hiện chức năng kể chuyện. Không một tác phẩm văn xuôi tự sự nào lại có thể thiếu được người kể chuyện, nhưng vấn đề quan trọng là ở chỗ, mỗi nhà văn lại có cách “hành xử” với người kể chuyện khác nhau. Người kể chuyện trong truyện ngắn của S.Maugham, A.Chekhov… và một số nhà văn hiện thực khác đã thể hiện rõ uy lực và sức mạnh của mình. Họ là “người biết tuốt”, người chỉ đường, có khả năng bao quát tất thảy.

Trong truyện của R.Carver, người kể chuyện lại chỉ như một nhân vật trong truyện. Họ lờ mờ về mọi việc, chứ không thông tỏ. Họ cũng rất “kiệm lời”, ít miêu tả và biểu cảm. Điều đó cũng có nghĩa, lời của người kể chuyện sẽ rất ít trong tương quan với lời của nhân vật trong truyện. Đọc truyện của Carver, chúng tôi thấy người kể chuyện hầu như chỉ tường thuật sơ lược, cầm chừng, không mảy may trữ tình ngoại đề, không đánh giá, bình phẩm, tỏ thái độ. Họ giữ lập trường của “kẻ trung lập”.

Hơn nữa, truyện của R.Carver hầu hết được kết cấu theo lối đối thoại, lấy đối thoại làm phương thức chính để tổ chức tác phẩm. Điều này dẫn đến hệ quả là trong rất nhiều truyện ngắn của ông, người kể chuyện chuyển điểm nhìn cho các nhân vật trong truyện. Trong trường hợp ấy, nhiệm vụ kể chuyện được trao cho các nhân vật, còn người kể chuyện dù có mặt từ đầu đến cuối tác phẩm nhưng chỉ thực hiện vai trò dẫn dắt và chú thích, với những lời ngắn gọn như: “người chồng nói”, “người vợ hỏi”, “Bill nói”, “Wes hỏi”,…

Nhìn lại vấn đề cốt truyện trong truyện ngắn của R.Carver mà ta đã nói ở trên, dễ thấy, giữa phương thức kể và cốt truyện có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cốt truyện phổ biến trong truyện của ông là cốt truyện đứt đoạn, kết nối phi logic, tự do, ngẫu nhiên. Điều này xuất phát từ vai trò mờ nhạt của người kể chuyện. Mạch truyện phân mảnh rời rạc khiến người đọc có cảm giác như người kể “vắng mặt”, phó mặc cho các nhân vật nhớ gì kể nấy một cách tự do, hoặc bỏ lửng truyện khi chưa có một kết thúc rõ ràng.

Có thể nói, R.Carver đã có những cách tân đáng kể để đưa truyện của mình tiến gần hơn đến hiện thực, hạn chế tính chất hư cấu cho các truyện kể, mà việc tiết chế vai trò của người kể chuyện là một trong những biểu hiện cho thấy sự nỗ lực cách tân của ông. Người kể chuyện trong truyện của R.Carver dường như đứng ngoài chuyện kể, không tham gia trực tiếp vào việc thể hiện tư tưởng thái độ của nhà văn. Người kể chuyện chỉ đảm nhiệm chức năng kể và dẫn truyện với giọng điệu khách quan, trung tính và lời kể tối giản.

Tính chất tối giản của kết cấu cốt truyện còn được hiện thực hóa ở việc R.Carver bỏ qua khâu giải quyết xung đột. So với truyền thống, rõ ràng, đây là công đoạn “làm tắt” của nhà văn. Theo quan niệm truyền thống, cơ sở sâu xa của cốt truyện là một xung đột đang vận động. Vì vậy, quá trình phát triển của một cốt truyện cũng giống như quá trình vận động của xung đột, bao gồm các bước: mở đầu (trình bày), thắt nút, phát triển, đỉnh điểm (cao trào), và kết thúc (mở nút) là nơi giải quyết xung đột của tác phẩm.

Các nhà văn hiện đại, trong đó có R.Carver không còn tuân thủ nguyên tắc tổ chức cốt truyện như vậy nữa. Truyện của ông không còn những kịch tính, không tồn tại xung đột mang tính cao trào trên bề mặt văn bản nữa. “Hầu như chẳng có gì xảy ra trong những cốt truyện của Carver”. Thường thì ở phần mở đầu, R.Carver cũng giới thiệu khái quát về bối cảnh, nguyên nhân làm nảy sinh xung đột. Nhưng tất cả chỉ có thế. Nói cách khác, xung đột nằm ngoài văn bản truyện kể. Tiờu biểu như cỏc truyện ngắn Ngài Cà phờ và ngài sữa chữaá Tỳi quà, Sao không nhảy đi,… Các truyện ngắn này xuất hiện xung đột trong quan hệ vợ chồng khi một trong hai người phản bội, ngoại tình. Nhưng xung đột ấy đã xảy ra từ trước khi truyện bắt đầu, những gì diễn ra sau đó không hướng vào phát triển xung đột mà chỉ tập trung vào sự chống chọi của nhân vật sau xung đột. Cái gọi là xung đột kịch tính không phải là điểm nhấn của mạch tự sự trong truyện ngắn R.Carver. Cũng chính vì vậy, tình huống chính trong truyện của R.Carver không phải là tình huống mang tính cao trào, không phải là thời điểm bùng nổ đòi hỏi phải được giải quyết, mà ở thời điểm đó, tác giả tập trung kể về sự phản ứng của các nhân vật trước biến cố ban đầu.

Có cảm tưởng người kể chuyện, và đằng sau đó là nhà văn dửng dưng, không bận tâm đến việc giải quyết xung đột. Ví dụ như ở truyện Có bao nhiêu nước ở gần nhà, xung đột diễn ra trong tâm lí của nhân vật người vợ khi cô cứ ám ảnh về cái chết của một cô gái, và nghi ngờ chồng mình có liên quan đến cái chết ấy. Truyện cứ trở đi trở lại bằng những lời nói, hành động của cả hai

vợ chồng. Người chồng thì luôn có thái độ và hành động đáng nghi ngờ, còn người vợ thì luôn có những lời ẩn ý nghi ngờ, dò xét. Điều đáng nói là đến khi truyện kết thúc thì mối xung đột ấy không được giải quyết. Ai là người giết chết cô gái? Người chồng có liên quan đến cái chết ấy không? Những câu hỏi ấy vẫn cứ ám ảnh mà không có lời giải đáp. Hay truyện Một điều nữa thôi mở đầu bằng cuộc cãi vã giữa người chồng, người vợ và đứa con. Người vợ và cô con gái nằng nặc đuổi người chồng ra khỏi nhà, còn người chồng cũng sẽ đi khỏi nhà, đi đến một nơi rất xa như lời anh nói: “Tôi sẽ đi”, “Bất cứ nơi nào.

Cách xa cái nhà thương điên này”. Vậy là truyện cũng có xung đột, nhưng xung đột đã xảy ra từ trước cuộc cãi vã trong gia đình này. Kết thúc truyện, người chồng nói: “Tôi chỉ muốn nói một điều nữa thôi”. “Nhưng rồi hắn không thể nghĩ ra được điều đó có thể là gì”. Người chồng sẽ đi đến nơi đâu? Cái điều anh ta muốn nói sau cùng là gì? Kết cục cuộc sống của gia đình họ như thế nào? Những câu hỏi ấy không được giải quyết khi truyện kết thúc. Phần tiếp diễn của câu chuyện dành cho công cuộc giải mã tác phẩm của người đọc.

Vậy là, R.Carver chỉ gợi ra xung đột rồi khai thác phản ứng của con người trước các xung đột chứ ông không đẩy xung đột lên đến cao trào, lại càng không giải quyết xung đột. Đó cũng là logic dẫn đến hệ quả: phần lớn truyện của ông sử dụng lối kết mở, kết khi vấn đề chưa kết thúc, khi xung đột không được giải quyết triệt để. Chính vì thế, câu chuyện lại mở ra những chân trời đọc hiểu sâu xa. Độ căng của truyện không nằm ở xung đột mà nằm trong suy nghĩ của người đọc. Có thể nói, mỗi truyện ngắn của R.Carver là một sự gợi mở, khiến người đọc phải ám ảnh, suy nghĩ, đoán định để giải mã những gì nhà văn cố tình chưa kể hết trên văn bản ngôn từ.

Tóm lại, tính chất tối giản trong kết cấu cốt truyện là một đặc sắc của sáng tác R.Carver, làm nên “thương hiệu” cho truyện ngắn R.Carver. Đến nỗi có những người không đọc nhiều về R.Carver, nhưng tri thức đầu tiên về ông mà họ biết, đấy là nhà văn này thuộc phong cách tối giản, chủ nghĩa tối giản.

Một phần của tài liệu Đặc điểm truyện ngắn raymond carver (Trang 80 - 88)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(116 trang)