Chương 3. NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN CỦA RAYMOND CARVER
3.3.2. Xây dựng hệ thống biểu tượng - không gian
Nghệ thuật tổ chức không gian của R.Carver còn thể hiện ở việc nhà văn xây dựng các biểu tượng - không gian. Đó không đơn thuần là những hình ảnh cụ thể, mà đã trở thành những biểu tượng có tính khái quát, giàu sức gợi, và là một hệ thống xuyên suốt trong các sáng tác truyện ngắn của ông.
Nổi bật nhất là các biểu tượng gợi sự li gián, đổ vỡ, sự ngột ngạt, bức bí, sự quẩn quanh, không lối thoát, qua sự xuất hiện trở đi trở lại của căn phòng khép kín, tấm rèm, cửa sổ, những vật dụng quen thuộc như tủ lạnh, ti vi, sofa,…
Những căn phòng khép kín trong sáng tác của R.Carver là không gian sống ngột ngạt, thảm họa, bị giới hạn, bị gián cách. Ví dụ như ở truyện Mồi lửa, căn phòng khép kín được miêu tả hết sức ngắn gọn: “Trong phòng có một cái giường đôi kê sát vách, một cái bàn đầu giường, đèn ngủ, tủ com-mốt, một cái bàn chơi bài pinochle và một cái ghế sắt. Một cửa sổ lớn nhìn ra sân sau”. Hay như ở truyện Một điều nữa thôi, ba con người gồm ông chồng, bà vợ và đứa con gái cùng sống trong một căn nhà. R.Carver không miêu tả căn nhà ấy cụ thể ra sao, chỉ kể về cuộc sống của những con người trong đó. Mẹ và con gái chửi mắng đuổi bố ra khỏi nhà, bố bảo con là “Tao không coi ra cái gì cái đứa ăn không ngồi rồi”, còn bố thì bảo “Sao cả hai người không câm miệng lại đi”,… Cuộc sống gia đình trong căn nhà ấy ngột ngạt, căng thẳng, bế tắc, đổ vỡ đến nỗi người chồng phải thốt lên rằng: “Tôi sẽ đi, đấy là tất cả những gì tôi có thể nói”, “Bất cứ nơi nào. Cách xa cái nhà thương điên này”.
Ngược lại, ở truyện Hàng xóm, vợ chồng Bill và Arlene nhận trông coi nhà và chăm lo vườn tược cho nhà hàng xóm khi họ đi du lịch. Lần đầu tiên ghé vào nhà hàng xóm, cả hai vợ chồng đều bị cuốn hút và chóng ngợp bởi những đồ đạc sang trọng trong căn hộ trống rỗng ấy. Với họ, căn hộ khép kín của nhà hàng xóm trở thành một chốn thiên đường hư ảo. Họ nhìn vào trong gương, rồi nhìn lại mình, họ sợ hãi cuộc sống trống rỗng đáng sợ của mình và thèm muốn cuộc sống cao sang của nhà hàng xóm. Qua hai ví dụ trên ta có thể thấy, căn phòng khép kín một mặt biểu tượng cho hiện thực cuộc sống bị giam hãm, bế tắc, ngột ngạt, dường như chực sẵn chờ sự đổ vỡ. Mặt khác, căn phòng khép kín cũng có khi biểu tượng cho tinh thần khai ngộ, sợ hãi hiện tại và khao khát thay đổi bằng cuộc sống tốt đẹp hơn, đó là “giấc mơ Mỹ” ở những năm tám mươi của thế kỷ trước.
Trong những căn phòng khép kín ấy, hình ảnh cửa sổ, tấm rèm là biểu tượng cho sự ngăn cách. Đứng sau cái vách ngăn ấy, người kể chuyện trở thành “người quan sát thầm lặng”, lấy câu chuyện người khác làm một dạng trải nghiệm của bản thân. Cửa sổ, tấm rèm đã phân chia không gian thành nhiều mảng tách rời, giới hạn của mỗi người trong những khoảng không đó.
Sự ngăn cách ấy tưởng chừng như rất mỏng manh nhưng không một ai vượt qua được. Nó cho thấy sự gián cách thực sự không khởi nguồn từ cửa sổ hay tấm rèm mà từ chính nhân vật, chính trong tâm hồn của nhân vật. Cánh cửa mở ra để thấy điều bí ẩn, nó cũng như là một ý niệm về sự hư vô, có thể nhập vào được hay bị ngăn cấm, tùy theo cửa mở hay đóng. Ví dụ như ở truyện Những giấc mơ, nhân vật Tôi thầm lặng quan sát người hàng xóm bị rèm cửa che khuất. Cửa sổ, tấm rèm cửa đặt trong tương quan với hành động của nhân vật Tôi đã gợi ra ý niệm sâu xa. Tôi rất chú tâm quan sát cuộc sống của nhà hàng xóm, trong khi đó anh ta lại quá thờ ơ trước những rắc rối mà người vợ đang mắc phải. Thì ra cửa sổ, tấm rèm đã gợi đến rạn nứt trong mối quan hệ vợ chồng nhân vật Tôi. Hai người thuộc về hai thế giới tách rời, thế giới của người vợ là những giấc mơ, còn thế giới của người chồng là không gian phía ngoài cửa sổ.
Cũng trong những căn phòng nhỏ, khép kín ấy, không gian dường như bị cô đặc lại qua những hình ảnh vật dụng - biểu tượng cho một thế giới mà mối quan hệ trong đó vô cùng rời rạc. Chẳng hạn, ở truyện ngắn Bảo quản, hàng loạt hình ảnh mang tính biểu tượng xuất hiện trong tác phẩm như những điểm nối ghép các mảnh rời. Trước hết, là chiếc sofa - không gian biệt lập của nhân vật người chồng. Anh ta gắn chặt mình vào chiếc ghế ấy và xem đó là nơi ở mới của mình, tách hẳn với không gian của người vợ - Sandy. Sandy chỉ có thể đứng từ xa nhìn về không gian đó như nhìn về một nơi không hề thuộc về mình. Hàng ngày chồng của Sandy không đi làm nhưng vẫn mang đồ đi
làm và sau đó nằm dài trên chiếc ghế sofa xem tivi, anh ta gắn chặt mình với chiếc ghế sofa, mọi hành động đều diễn ra trên ghế sofa, và anh ta chọn coi ghế sofa như là một thế giới riêng nhỏ bé, lặng lẽ của riêng mình. Cũng ở truyện ngắn này, hình ảnh cái tủ lạnh cũng mang ý nghĩa biểu tượng sâu xa.
Cái tủ lạnh là hình ảnh biểu tượng cho sự đổ vỡ, tan chảy của gia đình Sandy.
Những đồ ăn thức uống đang tan chảy trong tủ lạnh như nem cá, xúc xích, nước sốt spaghetti, kem, và hamburger, những gói thức ăn đông lạnh,… Tất cả mọi thứ trong tủ lạnh đang tan chảy mang ý nghĩa ám gợi về một gia đình, rộng hơn là một thế giới rạn nứt và đổ vỡ.
Đặt con người trong tương quan với những hình ảnh không gian biểu tượng, R.Carver gợi cho người đọc suy nghĩ đến chiều sâu ý nghĩa biểu tượng của các hành ảnh không gian ấy. Từ sự có mặt của một loạt hình ảnh không gian mang tính biểu tượng, người đọc kết nối các mảnh ghép của câu chuyện lại, hiểu được mối liên quan giữa câu chuyện. Điều đó khẳng định rằng mỗi chi tiết dù là nhỏ nhặt nhất trong sáng tác của R.Carver đều ẩn chứa giá trị nối kết riêng. Để khi xem xét lại toàn bộ hệ thống không gian mang đậm tính biểu tượng ấy, người đọc có thể lí giải được sự liên kết của vô vàn những mảnh vỡ trong mỗi chuyện của R.Carver. Đó vừa là một thách thức vừa là một trò chơi kì thú mà nhà văn dành tặng cho bạn đọc.
Qua việc khảo sát kết cấu cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật và nghệ thuật tổ chức không gian nghệ thuật của R.Carver, ta có thấy được tài năng truyện ngắn hiếm có của ông. Người đọc, nếu chỉ đọc nhanh, đọc lướt, sẽ không thấy được giá trị đích thực của mỗi truyện ngắn. Bởi đằng sau cái vẻ tưởng như không dụng công, không chủ ý sáng tạo ấy là những tính toán, xếp đặt tinh tế của tác giả. R.Carver đã khiến cho những câu chuyện thường ngày trở nên có chiều sâu. Điều này thách thức việc đọc. Vừa tuyệt vọng, vừa thích thú là cảm giác của đông đảo độc giả khi đến với truyện ngắn của nhà văn Mỹ tài năng này.
Nhìn từ phương diện nghệ thuật, truyện ngắn của R.Carver là bằng chứng xác thực tài năng độc đáo, mới lạ của một bậc thầy truyện ngắn hậu hiện đại. Ở phương diện không gian, nét độc đáo của R.Carver thể hiện ở cách ông biểu tượng hóa không gian, lạ hóa không gian và lối kể đa điểm nhìn tạo ra những không gian gián cách, đứt đoạn. Về nhân vật, nét nổi bật trong truyện của ông thể hiện ở việc xóa bỏ đường viền lai lịch, khước từ miêu tả cụ thể ngoại diện, chú trọng cảm xúc bộc phát và đặc biệt là nhiều hình thức phân mảnh nhân vật. Ở phương diện cốt truyện, với nhiều cách tổ chức cốt truyện khác nhau, R.Carver đã thực sự thoát li lối tổ chức cốt truyện trong văn học truyền thống. Truyện của ông định hình nhiều kiểu cốt truyện độc đáo như cốt truyện đa tầng song song, cốt truyện đứt đoạn, cốt truyện phân mảnh.
Nhìn từ kết cấu tự sự, truyện của R.Carver là mẫu truyện cực hạn, tối giản, điều này thể hiện trên tất cả các phương diện, tiêu biểu như người kể chuyện, bỏ qua khâu giải quyết xung đột và những cái kết nửa vời. Có thể nói, tất cả mọi yếu tố hình thức trong truyện của R.Carver đều chứng tỏ ông là một tài năng lớn mang phong cách tối giản.