CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM
1.1.3. Những yếu tố tác động đến hoạt động kinh doanh của NHTM
Có rất nhiều yếu tố tác động đến hoạt động kinh doanh của NHTM nhƣng ba yếu tố sau đây là quan trọng nhất:
17
Môi trường pháp lý: theo Nguyễn Ninh Kiều (2009), xét về mặt pháp lý, Luật các Tổ chức tín dụng là văn bản pháp lý cao nhất có tác động đến toàn bộ hoạt động của các NHTM. Dưới luật còn có các văn bản khác như nghị định của Chính phủ, các quyết định thông tư của NHNN hướng dẫn thực hiện có ảnh hưởng đến các nghiệp vụ hay các hoạt động của NHTM. Điều đáng lưu ý là môi trường pháp lý trong đó NHTM hoạt động không phải bất di bất dịch mà luôn thay đổi theo yêu cầu phát triển và quản lý của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng. Các NHTM khi đƣợc cấp giấy phép hoạt động phải đảm bảo đủ mức vốn pháp định do chính phủ quy định theo từng thời kỳ.
NHTM cùng phải tuân thủ các quy định về dự trữ và đảm bảo an toàn nhƣ dự trự bắt buộc, dự phòng rủi ro. Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại NHNN để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, NHNN quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình TCTD và từng loại tiền gửi với mức độ từ 0% đến 20% tổng số dƣ tiền gửi tại mỗi tổ chức tín dụng trong từng thời kỳ. Để đảm bảo an toàn, NHTM phải duy trì các tỷ lệ an toàn theo quy định bao gồm khả năng thanh toán, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn và các quy định về cho vay.
Nhƣ vậy, hoạt động kinh doanh của NHTM chịu tác động rất lớn từ môi trường pháp lý, để hoạt động kinh doanh được an toàn ổn định, môi trường pháp lý minh bạch, kịp thời là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh.
Các nhân tố kinh tế: Các nhân tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến hoạt động của ngân hàng. Các nhân tố có thể kể đến bao gồm: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia, nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế cao thì thu nhập của người dân tăng làm tăng nguồn vốn huy động của ngân hàng đồng thời làm gia tăng nhu cầu sử dụng các dịch vụ và tiện ích từ các sản phẩm
18
ngân hàng. Lãi suất, đây là nhân tố mang tính then chốt trong cạnh tranh giữa các ngân hàng. Nếu lãi suất cho vay cao dẫn đến chi phí trả lãi vay nhiều, không khuyến khích khách hàng sử dụng vốn vay. Nếu lãi suất huy động thấp thì không thu hút đƣợc nguồn vốn, ngƣợc lại lãi suất huy động cao thì thu hút đƣợc nhiều lƣợng vốn nhƣng bù lại chi phí mà ngân hàng phải trả sẽ tăng lên.
Việc xem xét giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay là một công việc khó khăn và có tính quyết định trong chiến lƣợc kinh doanh của ngân hàng. Tỷ lệ lạm pháp, lạm phát sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế và kéo theo nhiều biến động tiêu cực cho nền kinh tế. Từ đó dẫn đến tỷ lệ đầu tƣ giảm, ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng
Nguồn nhân lực: là nguồn lực quan trọng và không thể thiếu của bất kỳ ngân hàng nào có ảnh hưởng tiên quyết đên kết quả hoạt động kinh doanh.
Nhân sự của một ngân hàng là yếu tố mang tính kết nối của các nguồn lực của ngân hàng, đồng thời cũng là cái gốc của mọi cải tiến và đổi mới. Hoạt động kinh doanh phát triển bền vững nếu nguồn nhân lực đáp ứng một số tiêu chí sau: trình độ đào tạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ, động cơ phấn đấu, mức độ cam kết gắn bó với ngân hàng.
Trình độ hay kỹ năng của người lao động cũng là những chỉ tiêu quan trọng thể hiện chất lƣợng của nguồn nhân lực. Quá trình tuyển dụng và đào tạo một nhân viên ngân hàng thường rất tốn kém cả về thời gian và công sức.
Hiệu quả của chính sách nhân sự, đặc biệt là chính sách tuyển dụng và cơ chế thù lao là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng duy trì đội ngũ nhân sự chất lƣợng cao của một ngân hàng. Động cơ phấn đấu và mức độ cam kết gắn bó của nhân viên ngân hàng cũng là những chỉ tiêu quan trọng phản ánh một ngân hàng có lợi thế cạnh tranh từ nguồn nhân lực của mình hay không.
19