2.3. PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH AGRIBANK CỦA ĐÔNG
2.3.1. Hoạt động huy động vốn
2.3.1.1. Tình hình huy động vốn tại các đơn vị trực thuộc:
Tổng nguồn vốn huy động của hội sở và các PGD trực thuộc từ năm 2008 đến năm 2011 như sau:
Bảng 2.2. Nguồn vốn huy động tại hội sở và các PGD
Đơn vị: Tỷ đồng, % Đơn vị
2008 2009 2010 2011
Nguồn
vốn % Tỷ
trọng Nguồn
vốn % Tỷ
trọng Nguồn
vốn % Tỷ
trọng Nguồn
vốn % Tỷ trọng Hội sở 1226,9 75,3 1390,4 74,6 1517,5 67,7 1111,3 60,1 Vân Trì 81,4 5,0 94,2 5,1 204,3 9,1 209,6 11,3
Cổ Loa 62 3,8 98 5,3 136 6,1 153 8,3
Bắc Thăng Long 66 4,1 83 4,5 102,1 4,6 101,5 5,5 Nguyên Khê 81,1 5,0 74 4,0 80,37 3,6 72,9 3,9
Liên Hà 35 2,1 36 1,9 70,73 3,2 70,06 3,8
Mai Lâm 37,3 2,3 43,4 2,3 53,6 2,4 61,75 3,3 Dâu 19,35 1,2 26,04 1,4 43,36 1,9 35,64 1,9 Nam Hồng 20 1,2 20 1,1 34,07 1,5 34,28 1,9
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2008-2011) Bảng trên cho thấy, hội sở Agribank Đông Anh là đơn vị huy động vốn tốt nhất trong những năm qua. Nguyên nhân, hội sở là đầu não hoạt động của Agribank Đông Anh, có đầy đủ phòng ban, nghiệp vụ của cán bộ tốt, hội sở có kho tiền và 12 quầy giao dịch phục vụ đầy đủ nghiệp vụ giao dịch ngân hàng, thanh khoản tốt, đáp ứng nhanh yêu cầu của khách hàng. Vị trí hội sở ở vị trí trung tâm huyện Đông Anh, thuận lợi về giao thông, gần các cơ quan đoàn thể, địa điểm giao dịch rộng, mặt tiền lớn có nhiều ƣu thế trong hoạt động huy động vốn.
Năm 2008, trong số 8 PGD trực thuộc, PGD Vân Trì và PGD Nguyên Khê có tỷ trọng huy động vốn trên toàn chi nhánh cao nhất đạt 5%. Nguyên
43
nhân địa bàn hoạt động của hai phòng lớn, là khu vực phát triển, đông dân cƣ, mức độ cạnh tranh trên địa bàn hoạt động chưa cao, đường nối từ xã Bắc Hồng đến trục quốc lộ 23B khó đi, cƣ dân xã Bắc Hồng có làng nghề chủ yếu giao dịch tại PGD Nguyên Khê. PGD Vân Trì bước đầu có dự án xây dựng cầu Nhật Tân và mở rộng tuyến quốc lộ 23B. Năm 2011, PGD Vân Trì giữ vững vị trí PGD huy động vốn tốt nhất với nguồn vốn huy động tăng 128,2 tỷ so với năm 2008 chiếm tỷ trọng 11,3% tổng nguồn vốn huy động toàn chi nhánh. PGD Cổ Loa vươn lên vị trí thứ 2 với nguồn vốn tăng 91 tỷ so với năm 2008 chiếm tỷ trọng 8,3% nguồn vốn huy động toàn chi nhánh. PGD Nguyên Khê tụt xuống vị trí thứ 4 với nguồn vốn giảm 8,2 tỷ đồng so với năm 2008. Nguyên nhân, trong 4 năm qua, các dự án trên địa bàn PGD Vân Trì tiếp tục triển khai theo tiến độ, công tác giải phóng mặt bằng, đền bù từng phần dự án diễn ra thông qua sự hỗ trợ của Agribank Đông Anh. Agribank Đông Anh có quan hệ tốt với chính quyền địa phương, đơn vị trúng thầu công trình nên các đơn vị này mời phối hợp chi trả tiền đền bù, đồng thời cho phép Agribank Đông Anh lập tổ huy động tại điểm đền bù. Bên cạnh các dự án triển khai, xã Vân Nội và Kim Nỗ phát triển tốt mô hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trở thành nguồn cung chủ yếu cho nội thành Hà Nội, đời sống cƣ dân đƣợc cải thiện và nâng cao. PGD Cổ Loa có địa bàn hoạt động là 2 xã thuần nông, trong vài năm trở lại đây đời sống nhân dân 2 xã Cổ Loa, Đông Hội khấm khá hơn do lượng người xuất khẩu khẩu lao động tăng mạnh, lượng kiều hối PGD Cổ Loa thu về lớn, nguồn vốn huy động tăng mạnh. PGD Nguyên Khê có nguồn vốn huy động giảm và không ổn định trong những năm qua do sự cạnh tranh gay gắt trên địa bàn huy động vốn, nhiều NHTM mở PGD mới tại thị trấn Phủ Lỗ huyện Sóc Sơn là nơi giáp ranh với xã Nguyên Khê và sự khuếch trương hoạt động quỹ tín dụng nhân dân Nguyên Khê gây nhiều khó khăn cho hoạt động của PGD Nguyên Khê.
44
PGD Dâu và PGD Nam Hồng là hai PGD có tỷ trọng huy động thấp nhất toàn chi nhánh chiếm 1,2% năm 2008 và 1,9% năm 2011. Nguyên nhân, địa bàn hoạt động của PGD Dâu là địa bàn cạnh tranh cao, quỹ tín dụng nhân dân xã Vĩnh Ngọc rất mạnh, đường giao thông thuận tiện, cách trung tâm huyện Đông Anh nơi có trụ sở của 15 ngân hàng 5 phút đi xe, cƣ dân có mật độ tập trung không cao, khoảng cách giữa các xã xa nhau. PGD Nam Hồng phụ trách địa bàn xã 2 xã thuần nông không có dự án, xã Nam Hồng phát triển nghề trồng rau sạch nhƣng không mạnh, mật độ cƣ dân thấp.
Nguồn vốn huy động bình quân trên một cán bộ:
Bảng 2.3. Nguồn vốn huy động bình quân trên một cán bộ
Đơn vị: Tỷ đồng
STT Đơn vị 2008 2009 2010 2011
1 Vân Trì 16,28 18,84 34,05 29,94
2 Cổ Loa 8,9 14 17 19,1
3 Hội sở 18,59 20,75 21,68 16,34
4 Toàn chi nhánh 13,35 15,16 17,65 14,57
5 Bắc Thăng Long 9,4 13,8 17 14,5
6 Mai Lâm 6,22 7,23 8,93 10,3
7 Liên Hà 3,9 4 8,8 10
8 Nguyên Khê 10,14 9,25 10 9,1
9 Dâu 3,87 4,34 7,23 5,94
10 Nam Hồng 2,86 2,86 4,87 4,9
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2008-2011)
Bảng trên sắp xếp theo thứ tự giảm dần về lƣợng, lấy số liệu năm 2011 làm tiêu chí xếp hạng. Năm 2008, mức huy động vốn bình quân trên một cán bộ toàn chi nhánh đạt 13,35 tỷ, chỉ có 2 đơn vị đạt kết quả trên mức này là Vân Trì và Hội sở do phòng Vân Trì có lƣợng cán bộ nhân viên ít nhất (5 cán bộ), trong khi đó phòng Nguyên Khê có nguồn vốn huy động xấp xỉ nhƣng có 8 cán bộ nên tỷ lệ huy động vốn bình quân trên một cán bộ thấp hơn PGD Vân trì 6,14 tỷ. Hội sở có nhiều ƣu thế trong công tác huy động vốn là đơn vị
45
đứng thứ 1. PGD Nam Hồng có tỷ lệ này thấp nhất, do nguồn vốn huy động chỉ đạt 20 tỷ đồng chiếm 1,2% tỷ trọng huy động toàn chi nhánh. Năm 2011 có 3 đơn vị đạt trên mức trung bình toàn chi nhánh là PGD Vân Trì, PGD Cổ Loa, Hội sở trong đó PGD Vân Trì dẫn đầu với tỷ lệ huy động vốn bình quân trên một cán bộ đạt 29,94 tỷ xấp xỉ tỷ lệ của 4 PGD xếp cuối cùng cộng lại, gấp 2,05 lần bình quân toàn chi nhánh tăng 13,66 tỷ so với năm 2008. Nguyên nhân, PGD Vân Trì có nhiều lợi thế huy động vốn do địa bàn tập trung các dự án giải phóng mặt bằng trọng điểm của huyện Đông Anh, phòng có quan hệ tốt với chính quyền địa phương, có uy tín cao với bà con nông dân (đối tượng chính đƣợc đền bù đất dự án) nên gia tăng mạnh nguồn vốn huy động. PGD Cổ Loa vươn lên vị trí thứ 2 so với vị trí thứ 5 năm 2008, nguồn vốn tăng 2,15 lần, trên mức bình quân 4,53 tỷ. Hội sở do nằm trên địa bàn cạnh tranh cao, đặc biệt khó khăn trong giai đoạn cạnh tranh lãi suất cuối năm 2011 nên sụt giảm nguồn vốn lớn, giảm 5,34 tỷ một người so với năm 2010, giữ vị trí thứ 3. PGD có nguồn vốn huy động bình quân thấp nhất năm 2011 vẫn là PGD Nam Hồng do chƣa khắc phục đƣợc khó khăn khách quan.
Tỷ trọng tiền gửi dân cư: Địa bàn Đông Anh có đặc điểm tỷ trọng tiền gửi dân cƣ lớn, ở 8 PGD tỷ trọng này đều đạt trên 90% đến xấp xỉ 100% trong cả 4 năm từ 2008 đến 2011, riêng Hội sở có quan hệ huy động vốn với một số tổ chức nhƣ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm tiền gửi nên có tỷ trọng tiền gửi dân cƣ thấp hơn, cụ thể:
46
Đơn vị: Tỷ đồng
Biểu đồ 2.1. Tỷ trọng tiền gửi dân cư Hội sở
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2008-2011)
Biểu đồ cho thấy, tỷ trọng nguồn vốn tổ chức tín dụng (TCTD), tổ chức kinh tế (TCKT) năm 2011 giảm mạnh, nguyên nhân năm 2011 Agribank Đông Anh tiến hành trả nợ nội tệ và ngoại tệ cho một số TCKT và TCTD, tổ chức tài chính (TCTC) do một số đơn vị yêu cầu thỏa thuận mức lãi suất cao, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam hiện nay giảm cho vay với Ngân hàng Nông nghiệp nên rút vốn về 50 tỷ đồng và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam rút về 40 tỷ đồng. Agribank Đông Anh cũng trả nợ Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam 10.000.000 USD (Mười triệu đô la Mỹ) tương đương 210 tỷ đồng đƣa mức tiền gửi của TCTD, TCTC của Agribank Đông Anh về 0%. Nguồn vốn Hội sở nói riêng và Agribank Đông Anh nói chung cơ cấu theo hướng tăng tỷ trọng tiền gửi dân cƣ, giảm dần tỷ trọng tiền gửi TCKT, TCTD, TCTC. Đây là một xu hướng tốt đảm bảo tính bền vững cho nguồn vốn, tránh sự sụt giảm đột ngột của nguồn vốn huy động thường xảy khi thị trường nhiều biến động, khó khăn. Mặt khác, nguồn vốn dân cƣ có chi phí huy động rẻ hơn vốn từ TCKT và TCTD. Agribank Đông Anh có nguồn vốn huy động tiết kiệm dân cƣ lớn chứng tỏ uy tín của đơn vị với cƣ dân trên địa bàn.
634,85 732,36 788,47 835,27
592 658 729
276
0 200 400 600 800 1000 1200 1400 1600
2008 2009 2010 2011
TCTD, KT Dân cƣ
47
2.3.1.2. Tình hình huy động vốn của toàn chi nhánh:
Tình hình cạnh tranh huy động vốn trên địa bàn
Thị trường huyện Đông Anh những năm gần đây nổi lên là thị trường mới nhiều tiềm năng khai thác đối với các ngân hàng. Chỉ trong 3 năm trở lại đây, hàng chục ngân hàng thương mại cổ phần tiếp cận thị trường Đông Anh, tiến hành mở các điểm giao dịch bước đầu cung cấp các dịch vụ thanh toán và huy động tiền gửi tiết kiệm với mục tiêu khuếch trương hoạt động để xây dựng chi nhánh mới. Dẫn đến thị trường huy động vốn Đông Anh bị san sẻ, không mang tính chất độc quyền nhóm với một số ngân hàng như trước. Các ngân hàng mới đến chú trọng đến nguồn tiền gửi từ các tổ chức với nhiều ƣu đãi hơn các ngân hàng có vốn nhà nước khiến một số tổ chức chuyển nguồn tiền gửi từ Agribank Đông Anh sang các ngân hàng thương mại cổ phần khác.
Đến ngày 31/12/2011 trên địa bàn huyện Đông Anh có 5 ngân hàng có vốn nhà nước và 11 ngân hàng thương mại cổ phần mở điểm giao dịch. Tuy nhiên đa số các ngân hàng mới tiếp cận thị trường Đông Anh ở mức độ thăm dò, quy mô hoạt động nhỏ chƣa phục vụ đầy đủ các nghiệp vụ. Các đối thủ cạnh trạnh lớn của Agribank Đông Anh trên địa bàn là Vietinbank Đông Anh, BIDV Đông Hà Nội, PGD Ngoại thương Đông Anh và PGD Quân đội Đông Anh là những đơn vị có uy tín trong hoạt động huy động vốn tại thị trường Đông Anh. Sự xuất hiện trong 2 năm trở lại đây của PGD Ngoại thương Đông Anh và PGD Quân Đội Đông Anh, cùng sự tái cơ cấu mạnh mẽ của Vietinbank Đông Anh và BIDV Đông Hà Nội làm ảnh hưởng đến lợi thế huy động vốn của Agribank Đông Anh, khiến kết quả hoạt động huy động vốn bị ảnh hưởng.
Tình hình huy động vốn toàn chi nhánh Đông Anh
Nguồn vốn huy động: Từ năm 2008 đến năm nay nguồn vốn huy động của Agribank Đông Anh đạt mức tăng trưởng khá. Chỉ riêng năm 2011
48
Agribank Đông Anh chưa đạt mức tăng trưởng kế hoạch, nguồn vốn bị suy giảm do những rối loạn về lãi suất trong giai đoạn quý II, quý III năm 2011.
Đơn vị: Tỷ đồng
Biểu đồ 2.2. Nguồn vốn huy động Agribank Đông Anh (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2008-2011)
Cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn gửi tiền: Trong những năm qua cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn của Agribank Đông Anh điều chỉnh theo hướng tăng tỷ trọng tiền gửi dưới 12 tháng. Lý do đây là kỳ hạn phù hợp với nhiều đối tƣợng khách hàng, đặc biệt là khách hàng dân cƣ. Thời hạn gửi tiền ngắn giúp tăng khả năng thanh khoản. Tuy nhiên, khách hàng gửi tiết kiệm kỳ hạn ngắn nên ngân hàng phải gia tăng dự trữ thanh toán.
0 500 1000 1500 2000 2500
2008 2009 2010 2011
1629
1865
2242
1850
49
Đơn vị: Tỷ đồng
Biểu đồ 2.3. Cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn Agribank Đông Anh
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2008-2011)
Cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn của Agribank Đông Anh từ năm 2008 đến năm 2011 chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng, giảm dần tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn lớn hơn 24 tháng. Năm 2008 tỷ trọng hai loại kỳ hạn xấp xỉ bằng nhau, năm 2011 tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng cao gấp 68,9 lần tỷ trọng tiền gửi trên 24 tháng. Nguyên nhân, năm 2008 lãi suất cao kỷ lục đạt mức 18%, 19% sau đó giảm mạnh nên loại hình tiết kiệm bậc thang kỳ hạn 24 tháng tại Agribank Đông Anh tăng mạnh. Đây là loại hình phù hợp với khách hàng vào thời điểm lãi suất cao, loại hình này cho phép đƣợc rút gốc linh hoạt sau một khoảng thời gian nhất định mà vẫn hưởng nguyên lãi suất, sau đó lãi suất giảm mạnh, những người gửi tiết kiệm vẫn duy trì nguồn vốn ở loại hình bậc thang 24 tháng do đƣợc hưởng lãi suất cao đến năm 2010 những sổ tiết kiệm này đáo hạn. Tại thời điểm này, lãi suất ở mức trung bình khoảng trên 10% chƣa phải lãi suất cao kỳ vọng nên khách hàng chuyển sang loại hình tiền gửi ngắn hạn. Một nguyên nhân nữa, năm 2010 nhà nước quy định trần lãi suất, các ngân hàng muốn thu hút nguồn vốn nên đẩy lãi suất các kỳ hạn đều bằng nhau và bằng trần lãi suất, khách hàng không phải lựa chọn giữa lãi suất và thanh khoản nên
83 85 147 78
687 775
1610 1517
128 185
410
138
731 820
75
22
0 500 1000 1500 2000 2500
2008 2009 2010 2011
T>=24t 12t=<T<24t T<12t KKH
50
chuyển sang gửi kỳ hạn ngắn, hưởng lãi suất cao vừa đảm bảo thanh khoản.
Hai nguyên nhân trên dẫn đến năm 2010 có sự chuyển dịch nguồn vốn lớn từ kỳ hạn trên 24 tháng sang kỳ hạn dưới 12 tháng.
Tái cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn kéo theo tái cơ cấu kỳ hạn hoạt động cho vay, Agribank Đông Anh phải tăng cho vay ngắn hạn giảm cho vay trung và dài hạn. Sự chuyển dịch nguồn vốn này cho thấy tính bất ổn định của nguồn vốn gia tăng trong cơ cấu huy động của Agribank Đông Anh vì vậy Agribank Đông Anh cần có các biện pháp tái cơ cấu nguồn vốn kỳ hạn theo hướng tăng nguồn vốn huy động trung dài hạn, giảm tỷ trọng huy động nguồn vốn ngắn hạn.
Cơ cấu nguồn vốn theo loại tiền: Cơ cấu nguồn vốn theo loại tiền của Agribank Đông Anh giữa tiền VNĐ và ngoại tệ quy đổi được thể hiện dưới dạng biểu đồ sau:
Đơn vị: Tỷ đồng
Biểu đồ 2.4. Cơ cấu nguồn vốn theo loại tiền Agribank Đông Anh
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2008-2011)
Biểu đồ 2.4 cho thấy nguồn vốn bằng ngoại tệ quy đổi giữ ở mức cao trong ba năm 2008, 2009 và 2010 giảm mạnh vào năm 2011. Nguyên nhân tỷ giá Đô la Mỹ trong 3 năm tăng dần đều nhƣng chững lại và giảm vào năm 2011 khiến nhiều khách hàng chuyển sang gửi tiết kiệm bằng Việt Nam đồng.
Lãi suất tiết kiệm bằng Đô la mỹ liên tục giảm từ năm 2008 cho đến nay trụ 0
500 1000 1500 2000 2500
2008 2009 2010 2011
1439 1582 1965 1774
190 283
277 76
Ngoại tệ quy đổi
51
vững ở mức 2%/năm là thấp so lãi suất tiết kiệm VNĐ (lãi suất 14%). Lãi suất bằng đồng Euro ở mức thấp từ 0,8% đến 1,5%, tỷ giá tăng không đáng kể trong thời gian qua khiến tỷ trọng tiết kiệm bằng đồng Euro giảm. Nhìn chung, cơ cấu tiền gửi theo loại tiền của Agribank Đông Anh phù hợp với định hướng của NHNN với mục tiêu giảm tỷ lệ giữ ngoại tệ trong cư dân, lấy lại niềm tin cho đồng nội tệ.
Sản phẩm dịch vụ huy động: Hiện nay Agribank Đông Anh đang triển khai 20 sản phẩm huy động tiền gửi và tiết kiệm cƣ dân. Hầu hết các sản phẩm dịch vụ của Agribank Việt Nam xây dựng đều đƣợc Agribank Đông Anh triển khai, trong những năm gần đây trước tình hình cạnh tranh gay gắt về nguồn vốn huy động Agribank Việt Nam liên tục cho ra đời những sản phẩm mới phù hợp với yêu cầu mới tuy nhiên những sản phẩm dịch vụ này triển khai tại Agribank Đông Anh còn chậm. Tiêu biểu nhƣ sản phẩm đầu tƣ tự động dành cho các doanh nghiệp, tiết kiệm học đường cho cư dân, sản phẩm tiền gửi linh hoạt là những sản phẩm đã đƣợc Agribank Việt Nam đƣa vào triển khai nhƣng chƣa đƣợc thực hiện tại Agribank Đông Anh tính đến ngày 31/12/2011. Các sản phẩm dịch vụ huy động của Agribank Đông Anh tương đối đa dạng, phong phú song vẫn còn tồn tại như: Sản phẩm tiết kiệm có kỳ hạn nên bổ sung thêm cơ chế rút gốc linh hoạt sau kỳ đến hạn đầu tiên thay vì rút toàn bộ gốc một lần. Giảm thủ tục giấy tờ khi khách hàng chỉ rút lãi tiết kiệm, tiền gửi gốc vẫn giữ nguyên. Cần triển khai ngay các sản phẩm dịch vụ mới của Agribank Việt Nam nhƣ đầu tƣ tự động, tiền gửi linh hoạt, tiết kiệm học đường.
Hiện tại, Agribank Đông Anh chủ yếu triển khai loại hình tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn trả lãi sau toàn bộ và tiết kiệm bậc thang theo thời gian gửi.
Tiết kiệm có kỳ hạn trả lãi sau toàn bộ là loại hình tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ tiến hành gửi tiền vào một lần và rút ra một lần, lãi đƣợc trả sau khi kết
52
thúc kỳ hạn gửi. Đây là loại hình tiết kiệm đơn thuần, thiếu tính linh hoạt nhiều bất cập cho cả ngân hàng và khách hàng sử dụng, do chỉ đƣợc gửi vào và rút ra duy nhất một lần không có cơ chế lĩnh lãi nên khi khách hàng muốn lĩnh lãi sau khi kết thúc kì hạn gửi phải tiết hành rút toàn bộ số tiền gửi và gửi lại tiền gốc, điều này gia tăng thủ tục gửi tiền khi khách hàng chỉ lĩnh lãi nhƣng phải tiến hành các thủ tục đóng mở sổ tiết kiệm. Với loại hình này, khách hàng không thể rút tiền ra một phần mà phải rút toàn bộ số tiền trong sổ tiết kiệm và gửi lại một phần nếu không dùng hết, nhƣ vậy khách hàng bị hưởng lãi suất phạt do rút trước hạn với toàn bộ số tiền kể cả số tiền không lấy ra thay vì chỉ chịu phạt với phần tiền rút trước hạn. Đây là loại hình tiết kiệm truyền thống của Agribank, đại bộ phận khách hàng đã quen với loại hình này tuy nhiên với thực tế cạnh tranh sản phẩm dịch vụ nhƣ hiện nay, loại hình này phát sinh nhiều bất cập, phiên hà, thiệt thòi cho khách hàng.
Loại hình tiền gửi tiết kiệm bậc thang là loại hình phổ biến thứ hai sau tiết kiệm có kỳ hạn trả lãi sau toàn bộ tại Agribank Đông Anh. Đây là loại hình tiết kiệm có kỳ hạn 24 tháng, tuy nhiên sau một tháng kể từ ngày bắt đầu kỳ hạn gửi, khách hàng có thể rút một phần hoặc toàn bộ tiền gửi đã cam kết gửi 24 tháng với ngân hàng mà vẫn được hưởng nguyên lãi suất cam kết. Loại hình này giúp ngân hàng gia tăng lƣợng tiền gửi có kỳ hạn dài, giảm dự trữ thanh toán, tuy nhiên tiềm ẩn nhiều rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất cho ngân hàng khi khách hàng có quyền định đoạt kỳ hạn gửi tiền mà không phải chịu phạt lãi suất.
Cả hai loại hình chủ yếu và phổ biến nhất tại Agribank Đông Anh đều tồn tại những bất cập cho ngân hàng và khách hàng. So với các ngân hàng cùng địa bàn nhƣ Vietinbank, BIDV, Vietcombank … đều triển khai mạnh loại hình tiền gửi linh hoạt, khách hàng có thể rút một phần tiền gửi trước hạn và chịu phạt lãi suất trên phần tiền gửi rút ra, phần còn lại vẫn đƣợc tính từ