Giải thích, phân tích và chứng minh nội dung suy ngẫm của nhân vật Hộ

Một phần của tài liệu 243 ĐỀ VĂN NGHị LUẬN XÃ HỘI (Trang 63 - 84)

THỰC HÀNH NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

1/ Giải thích, phân tích và chứng minh nội dung suy ngẫm của nhân vật Hộ

a/ “Kẻ mạnh” là gì? Tại sao lại nói “Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai người khác để thỏa mãn lòng ích kỉ”?

-Kẻ mạnh là kẻ có đầy đủ điều kiện vật chất và tinh thần...

- Trong cuộc sống, cũng lắm kẻ “ích kỉ”, chỉ biết lo cho chính mình, cố tạo uy thế (sức mạnh) cho cá nhân nhằm đạt đến những ham muốn quyền lợi riêng tư như về địa vị, chức vụ, tiền của... không quan tâm đến bất cứ ai quanh mình. Để tạo quyền lực cho bản thân, lắm kẻ dùng nhiều thủ đoạn thô bạo, đê tiện như: chèn ép, trù dập, chà đạp lên quyền lợi của người khác; gây bè phái nhằm hạ bệ lẫn nhau, “giẫm lên vai người khác” để ngoi lên, nhằm

“thỏa mãn lòng ích kỷ”.

+Nêu dẫn chứng.

Nam Cao phủ nhận cách sống ấy, xem những kẻ tạo sức mạnh cho mình bằng con đường như thế không phải là kẻ mạnh của một con người, xem đó là những kẻ không có tính người.

b/ Quan niệm của Nam Cao: “Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai của mình”:

- Kẻ mạnh trước tiên là kẻ có tình người, biết quan tâm, chỉa sẻ, nghĩ đến người khác, biết tương trợ, nâng đỡ những người khi gặp khó khăn, hoạn nạn...

bằng khả năng có được của chính bản thân một cách chân thành, trân trọng, xem đó còn là trách nhiệm (trên đôi vai của mình).

- Kẻ mạnh ở đây còn có nghĩa là vẻ đẹp về sức mạnh tinh thần, giàu lòng nhân ái, biết yêu thương đồng loại, biết làm những nghĩa cử cao cả đem lại lợi ích cho kẻ khác, như thế mới là con người.

+Nêu dẫn chứng.

2. Ý nghia câu nói của Nam Cao và rút ra cho bản thân một cách sống đẹp:- Phê phán quan niệm và lối sống ích kỷ. thủ đoạn...

- Khơi gợi lòng nhân ái về cách sống cao cả và chân chính, không vụ lợi cho riêng mình...

Đó là cách sống đẹp “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”.

III/ Kết bài:

- Tóm lược, khẳng định ý nghĩa của câu nói.

- Bài học liên hệ bản thân và mọi người: không dùng thủ đoạn để đạt mục đích mà làm hại đến người khác. Phải nhận thức đúng về lẽ sống...

*****

Đề 25. Bersot nói: “Trong vũ trụ có lắm kỳ quan, nhưng kỳ quan đẹp nhất là trái tim của người mẹ”.

Ý kiến của em về câu nói trên?

Gợi ý:

I/ Mở bài:

-Dẫn dắt vào đề.

-Nêu vấn đề cần nghị luận: Vẻ đẹp của tình mẫu tử; ca ngợi và khẳng định tình cảm thiêng liêng trong trái tim của người mẹ dành cho con trong cuộc đời.

-Dẫn câu nói.

II/ Thân bài:

1. Giải thích nội dung câu nói của Bersot:

- Hiểu nghĩa của “kỳ quan”: (Có thể là một công trình kiến trúc hoặc cảnh vật) đẹp đến mức kỳ diệu hiếm thấy.

- Bersot nói: “Trong vũ trụ có lắm kỳ quan” có nghĩa cái đẹp đến mức kỳ diệu hiếm thấy (ở những công trình kiến trúc hay cảnh vật tự nhiên) là không ít, nhưngkỳ quan tuyệt hảo nhất là trái tim người mẹ.

Nội dung chính của câu trên là nhằm nói về trái tim người mẹ: kỳ quan tuyệt hảo nhất.

2. Phân tích, chứng minh để thấy được vẻ đẹp tuyệt hảo và thiêng liêng của tình mẹ:

Trái tim người mẹ ở đây là tình cảm của mẹ dành cho con. Đó là tình yêu thiêng liêng nhất không gì có thể sánh được.(Học sinh có thể liên hệ với thực tế, trong văn thơ để nói về đức hi sinh của mẹ suốt đời cho con).

- Mang nặng đẻ đau…

- Chăm nuôi con khôn lớn…

- Gần gũi chia sẻ những buồn vui với con…

- Lo lắng, dõi theo con từng bước trong cuộc đời…

- Hy sinh cho con tất cả mà không hề tính toán…

3.Bình luận:

- Trong thực tế, người mẹ nào cũng luôn yêu thương con mình. Bởi lẽ, những đứa con chính là món quà vô giá mà thượng đế ban tặng cho họ.

Nhưng không phải người con nào cũng hiểu được sự thiêng liêng vô giá từ tình thương của mẹ.

- Tuy nhiên, trong thực tế cũng có những bà mẹ bỏ rơi con cái của mình từ khi mới sinh ra, hoặc vì một ham muốn tầm thường, thấp kém nào đó mà lợi dụng con cái của mình – nhưng đó là hiện tượng cá biệt cần phê phán.

- Câu nói của Bersot là lời khẳng định và ngợi ca, tôn vinh sự cao đẹp của tình mẹ. Thức tỉnh những người làm con nào còn vô tâm, bất hiếu với bậc sinh thành ra mình…

III/ Kết bài:

- Đây là một câu nói hay, sâu sắc và ý nghĩa…về đạo lý ở đời của tất cả những ai là con trên thế gian này với người mẹ của mình.

- Chúng ta cần phải có những suy nghĩ, tình cảm, trách nhiệm đúng mực của mình để đáp lại tình cảm thiêng liêng của mẹ đã dành cho con.

*****

Đề 26.Môi trường và cuộc sống con người.

Gợi ý:

-Môi trường sống của con người, tức là tất cả hoàn cảnh bao quanh con người, có ảnh hưởng đến sự sống và phát triển của con người (như là một sinh vật và như là một thực thể xã hội), đến chất lượng cuộc sống của con người.

- Môi trường tự nhiên gồm nhiều yếu tố như nước, không khí, đất, địa chất, đất trồng, khí hậu, sinh vật…

- Môi trường tự nhiên rất quan trọng đối với cuộc sống của con người:

+ Là không gian sống của con người;

+ Là nguồn cung cấp tài nguyên thiên nhiên;

+Là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra.

- Hiện nay, môi trường đã và đang bị phá huỷ, ô nhiễm ở nhiều nơi, tác động xấu đến đời sống cộng đồng; có nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do nhận thức và hành động sai trái của con người.

- Môi người đều phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường. Phải bằng mọi cách sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, để xã hội phát triển… tạo nền tảng cho sự phát triển tương lai.

*****

Đề 27: Nhân dân ta có câu tục ngữ: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Hãy bàn luận nội dung câu tục ngữ đó.

Gợi ý:

1.Giải thích từ ngữ

-Đi một ngày đàng: Sống gắn bó với đời sống thực tế, trải nghiệm qua thực tế.-Học: Tiếp thu tri thức, kĩ năng do người khác truyền lại.

-Một sàng khôn: Một lượng lớn hiểu biết để con người trở nên khôn ngoan, tiến bộ.

-Nội dung cả câu: Những trải nghiệm trong thực tế cuộc sống sẽ giúp con người trưởng thành lên (khôn lên).

2.Phân tích, lí giải

-Những điều có trong thực tế đời sống:

+Sự vật, sự việc, con người với tất cả tính cụ thể, sinh động và phức tạp của nó.

+Những mối quan hệ, biến cố của đời sống.

+Tất cả những gì đang tồn tại, đang diễn ra trong tự nhiên và trong xã hội có quan hệ đến đời sống con người.

-Những điều con người có được khi gắn bó với thực tế:

+Những cảm nhận cụ thể, trực tiếp và chân thật nhất.

+Cơ hội để trải nghiệm cuộc sống và kiểm nghiệm năng lực sống, năng lực ứng phó, xử lí của bản thân trước các vấn đề, các tình huống cụ thể của đời sống.

+Điều kiện để rèn luyện, nâng cao kiến thức và bản lĩnh để trở nên hiểu biết và vững vàng hơn.

-Điều kiện cần thiết để nắm bắt các vấn đề thực tế, tích lũy kiến thức và hình thành kinh nghiệm từ sự gắn bó với thực tế:

+Ý thức tìm hiểu, nhận thức và bản lĩnh để có thể đứng vững và sẵn sàng đối mặt.

+Hiểu biết để có định hướng, có phương pháp trong xử lí các vấn đề của thực tế. Những hiểu biết ấy có thể đến bằng chính con đường đọc và học từ sách vở.

3.Mở rộng vấn đề

-Gắn bó với thực tế phải gắn liền với việc đọc sách, học thầy cô giáo, bạn bè trên lớp.

-Trong quá trình đi thực tế phải biết cách học: học như thế nào cho có hiệu quả; học cái gì và không nên học cái gì (học phải biết sàng lọc); đi thì phải học, tránh lười nhác (cốt để hưởng lạc thú vô bổ).

Bài viết:

“Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” là một câu tục ngữ hay, chẳng những đúc kết kinh nghiệm học tập của người xưa, mà còn thể hiện khát vọng được đi xa để mở rộng tầm mắt.

Thật vậy, câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” trước hết là đúc kết một kinh nghiệm. Xét về nghĩa đen, “đi một ngày đàng” có nghĩa là đi rất xa. Đối với người nông dân xưa vốn ít đi xa, lại chưa có phương tiện do độ dài, họ thường lấy thời gian để đo con đường đã đi. Với tốc độ đi trung bình,

“một ngày đàng” có thể đi được bốn năm chục cây số, như thế là có thể đã đi đến làng khác, xã khác, huyện khác. Đi xa như vậy, họ mới học được những điều mới lạ mà ở làng mình, xã mình, huyện mình không có được, nghĩa là học được “một sàng khôn”. Ấn tượng về những chuyến đi xa thường rất sâu đậm. Và đó có thể là cơ sở thực tế của câu tục ngữ.

Nhưng tục ngữ bao giờ cũng đúc kết kinh nghiệm, mà đúc kết thì phải có ý nghĩa khái quát. Nội dung khái quát đó là một điều có tính quy luật: Hễ đi xa là nhìn thấy cái mới lạ, mở rộng tầm hiểu biết. Điều quan trọng là hãy đi xa đã, đến lúc đó, dù không có ý định học gì thì vẫn cứ học được và khôn ra. Đó cũng chính là nội dung của câu ca dao: “Đi cho biết đó biết đây, Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”! Ở nhà với mẹ thì sướng thật đấy, nhưng chỉ ở nhà sẽ hạn chế sự hiểu biết. Những câu tục ngữ như thế rất sâu sắc. Chỉ cần nhớ lại các cuộc tham quan, du lịch mà ta đã tham gia, dù chỉ là đi chơi, ta cũng biết thêm nhiều điều!

Câu tục ngữ này không chỉ đúc kết kinh nghiệm, mà còn thể hiện một lời khuyên, một lời khích lệ, một ước vọng thầm kín. Đó là ước vọng đi xa để mở rộng tầm hiểu biết, để thoát khỏi sự hạn hẹp của tầm nhìn.

Ngày nay giao thông thuận tiện, đời sống đã khấm khá, nhiều người có điều kiện để đi xa học hỏi. Nhưng câu tục ngữ xưa vẫn còn nguyên ý nghĩa đối với những ai quen sống khép mình, tự thoả mãn với mình.

*****

Đề 28. Suy nghi của em về câu tục ngữ: “Trăm hay không bằng tay quen”.

A.Mở bài

-Dẫn dắt vào đề.

-Nêu vấn đề cần nghị luận: Quan hệ giữa lí thuyết và thực hành.

-Trích dẫn câu tục ngữ.

Gợi ý một số cách mở bài:

Cách 1:

Trong cuộc sống, có những người rất giỏi lí thuyết qua đọc sách vở nhưng khi bắt tay vào làm một việc gì thì lúng túng không đem lại kết quả. Họ nói hay mà làm dở. Đối với những người như thế, cha ông ta đã khuyên “Trăm hay không bằng tay quen”.

Cách 2:

-Dẫn dắt vào đề: “Tất cả lí thuyết đều màu xám, chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi”(Gớt).

-Nêu vấn đề cần nghị luận:…

Cách 3:

Mối quan hệ giữa lí thuyết và thực hành là mối quan tâm của mọi người từ trước tới nay. Ngày trước nhân dân ta có một quan niệm “Trăm hay không bằng tay quen”. Ngày nay, dưới ánh sáng của khoa học, ta hãy bàn luận xem câu tục ngữ đó đúng ở chô nào, sai ở chô nào.

B.Thân bài

1.Giải thích câu tục ngữ:

-“Trăm hay”: Sự hiểu biết lí thuyết.

-“Tay quen”: khả năng thực hành và những kinh nghiệm.

-> Hiểu biết lí thuyết (LT) không thay thế được khả năng thực hành (TH).

2.Bình luận:

a.Câu tục ngữ có khía cạnh đúng.

-LT giỏi (LT suông) nhưng bắt tay vào làm trong thực tế thì lúng ta lúng túng, làm hỏng việc.

+Dẫn chứng.

-Nếu chỉ có nhiều kiến thức về công việc “trăm hay” mà không có khả năng TH thành thạo “tay quen” thì hiệu quả sẽ không bằng người có kinh nghiệm TH.

-Những người nhờ trải qua nhiều thất bại và thành công đúc kết những kinh nghiệm quý báu, dần dần trở thành những lao động giỏi, phát huy được những tác dụng trong ngành nghề.

+Dẫn chứng.

-> Kinh nghiệm TH rất quan trọng. Nó mang lại hiệu quả thiết thực cho công việc. Làm bất cứ nghề gì con người đều phải cố gắng đạt tới sự thành thạo trong nghề mình. Lấy chất lượng, hiệu quả làm thước đo cho mọi suy nghĩ và hành động: “Chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi”.

b.Câu tục ngữ có khía cạnh chưa thỏa đáng.

-Quá đề cao thói quen, kĩ năng TH mà coi nhẹ LT, chưa thấy hết tầm quan trọng của LT.

TH dù quan trọng như thế nào thì cũng không phải là tất cả.

+Dẫn chứng.

.Nếu chỉ “quen tay”, người thầy thuốc không thể xử lí khi gặp căn bệnh phức tạp.

.Nếu chỉ “quen tay”, người nông dân không thể tạo ra giống mới, áp dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại.

.Nếu chỉ có “quen tay”, người học sinh không thể giải được những bài toán khó, bài văn khó…

-Tư tưởng “Trăm hay không bằng tay quen” không chỉ thể hiện quan niệm coi thường học vấn, coi thường khoa học, mà còn thể hiện tư tưởng tự thỏa mãn với thói quen đã có của mình, biểu lộ một khuynh hướng bảo thủ “thâm căn cố đế”.

->Con người rất khó tiếp thu tư tưởng mới, kĩ thuật mới, cái mới lạ tiến bộ.

Đây là một trở ngại cho sự phát triển.

3.Luận (mở rộng vấn đề):

Thái độ và hành động đúng đắn nhất là:

-LT và TH đều có vai trò quan trọng. Chúng có mối quan hệ tương hô khăng khít.

+LT chỉ đạo TH, làm cho TH đạt hiệu quả. LT phải được kiểm nghiệm, đúc kết sâu sắc từ thực tiễn.

+TH giúp cho việc đúc kết kinh nghiệm, bổ sung LT hoàn chỉnh và nâng cao LT.

Dẫn chứng:

.Trong lao động sản xuất.

.Trong học tập hiên nay: Học sinh giỏi = LT +TH.

=>Bác Hồ dạy: Học đi đôi với hành.

C.Kết bài

-Khẳng định ý nghĩa của TH, song không được bảo thủ, cứng nhắc.

-Để đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh chóng của xã hội ngày nay, chúng ta cần chủ trương “trăm hay” đi liền “tay quen” – hiểu biết nhiều và TH nhiều.

Có như thế, đất nước mới giàu đẹp, văn minh.

*****

Đề 29. Suy nghĩ về tấm gương hiếu học.

Gợi ý:

a.Hiếu học là truyền thống lâu đời của con người Việt Nam: thể hiện bản lĩnh, ý chí và nghị lực của dân tộc ta trong quá trình chiếm lĩnh tri thức của nhân loại.

Dẫn chứng: Từ những tấm gương hiếu học tiêu biểu từ xưa đến nay.

b.Đất nước ta luôn trân trọng truyền thống hiếu học, tôn vinh những tấm gương hiếu học.

Ngày nay đất nước đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập thế giới nên rất cần những người hiền tài, bởi đó là những con người cần cù, sáng tạo, năng động để xây dựng đất nước.

Tuy nhiên, thế hệ trẻ hôm nay vẫn còn những hiện tượng chán học, bỏ học.

Vậy những tấm gương hiếu học rất có ích trong việc giáo dục thế hệ trẻ.

Phân tích dẫn chứng cụ thể.

c.Bài học rút ra cho bản thân

-Đức tính cần cù, chịu khó, siêng năng.

-Nghị lực vươn lên trong cuộc sống.

-Ý chí chiến thắng bản thân.

-Niềm tin vào chính mình và mọi người.

d.Đánh giá

Tấm gương hiếu học đem lại cho bản thân và mọi người những bài học bổ ích, có khả năng giúp cho con người vươn lên trong cuộc sống và sống có ích cho mình, cho gia đình, cho quê hương, đất nước.

*****

Đề 30. Cảm nhận từ một chiếc lá rơi…

Gợi ý:

-Môi người có một sự cảm nhận riêng, miễn sao lí giải hợp tình, hợp lí.

-Có thể cảm nhận:

+Lá vàng lìa cành là một tất yếu như người sống rồi sẽ chết (sinh – lão – bệnh – tử).

+Lá rụng về cội -> sự khoan dung, hiền dịu của đất: sẵn sàng dang tay đón nhận -> lòng mẹ bao la vô cùng vô tận.

+Lá rơi sau khi sống một đời trọn vẹn -> sự ra đi thanh thản và nhẹ nhàng -> hãy sống tốt (có thể sống thầm lặng – nếu cần), sống thật ý nghĩa để không phải hối tiếc gì.

+Lá rơi - Sự buông xả, thuận theo tự nhiên, theo quy luật cuộc đời -> đôi lúc trong cuộc sống, con người cần học theo lá: tinh thần hỉ xả và dũng cảm chấp nhận thực tế để thấy lòng nhẹ nhàng, thanh thản hơn.

*****

Đề 31.“Gốc của sự học là học làm người”. (R.Tagore) Gợi ý:

1.Giải thích

-Gốc là yếu tố quan trọng, là cội nguồn của cây.

-Từ “gốc” ấy được Tagor ẩn dụ để nhấn mạnh tầm quan trọng trước hết của sự học.

-“Sự học” bao gồm nhiều khía cạnh, nhiều lĩnh vực phong phú, đa dạng.

-Giữa cái bao la của việc học, cái quan trọng nhất, đó là bài học làm người.

-“Học làm người” là cách đối nhân xử thế sao cho phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội.

2.Xác định đúng đắn vấn đề cần bình luận: Học làm người là khởi đầu cho mọi bài học, là kết quả cao nhất, cuối cùng cho mọi bài học.

3.Những biểu hiện của bài học “học làm người”

-Trong gia đình: hiếu thảo, tôn trọng ông bà, cha mẹ, kính trên nhường dưới.

-Trong nhà trường: lễ phép, kính trọng thầy cô, hòa nhã với bạn bè.

-Ngoài xã hội: không ngừng học hỏi và hòa đồng, giúp đỡ, chia sẻ, quan tâm đến mọi người.

4.Dùng lí lẽ và dẫn chứng để khẳng định vấn đề cần bàn luận là đúng -Quan niệm truyền thống “Tiên học lễ, hậu học văn”.

-“Học làm người” cũng chính là học “đạo đức”. Đó là bài học đầu tiên và quan trọng hàng đầu vì “Có tài mà không có đức là người vô dụng” (Hồ Chí Minh).

-“Học làm người” để tiến đến một xã hội văn minh, để con người có thể chung sống hòa bình, tốt đẹp với nhau. Đó cũng là mục tiêu lớn nhất của những trí thức chân chính.

5.Bàn bạc mở rộng vấn đề

-Việc học là mãi mãi, học làm người là bài học suốt đời để hoàn thiện nhân cách, góp phần làm cho xã hội ngày càng văn minh hơn. Do đó, học không chỉ phục vụ cho bản thân mà còn phục vụ cho cộng đồng.

-Xã hội càng phát triển, bài học “học làm người” càng trở nên quan trọng hơn.-Bài học nào cũng có nhiều khó khăn nhưng càng khó khăn, gian nan, kết quả càng tốt đẹp.

Một phần của tài liệu 243 ĐỀ VĂN NGHị LUẬN XÃ HỘI (Trang 63 - 84)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(422 trang)