BUỔI 6: ÔN TẬP THƠ HIỆN ĐẠI
Buổi 11 ÔN THƠ HIỆN ĐẠI ( SANG THU – Hữu Thỉnh )
1 - Kiến thức: Cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa và những suy nghĩ mang tính triết lí của tác giả;
2- Kĩ năng : Rèn luyện kĩ năng đọc - hiểu một văn bản thơ trữ tình.
-Thể hiện những suy nghĩ cảm nhận về một hình ảnh thơ, một khổ thơ, một tác phẩm thơ.
3- Giáo dục : Bồi dưỡng tình cảm và sự quan sát thiên nhiên, yêu thiên nhiên đất nước.
4.Phẩm chất và năng lực được hình thành : a. Năng lực :
- Năng lực chung :tự chủ và tự học, giải quyết vấn đề và sáng tạo, giao tiếp và hợp tác.
-Năng lực chuyên biệt: Năng lực ngôn ngữ, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực thẩm mĩ.
b.Phẩm chất: yêu cuộc sống ,yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước; yêu gia đình,.
II.Phương tiện và học liêu
1.Học liệu: SGK, SGV,Chuẩn KTKN.
2. Phương tiện: giáo án, bảng phụ các tranh ảnh -Sử dụng ngôn ngữ trong sáng, lành mạnh.
-Học sịnh: chuẩn bị bài ở nhà.
III. Phương pháp và kỹ thuật dạy học.
1.Phương pháp dạy học:
-Động não: suy nghĩ và bộc lộ ý kiến cá nhân về các hình ảnh trong thơ.
-Trình bày 1 phút: về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.
-Phương pháp thuyết trình.
-Phương pháp giải quyết vấn đề.
2. Kỹ thuật dạy hoc:
-Kỹ thuật chia nhóm.
- Đặt câu hỏi, giao nhiệm vụ.
IV. Lập bảng mô tả.
V. Tiến trình tổ chức dạy học theo chủ đề.
A. Tác giả, tác phẩm.
1.Tác giả:
- Ông sinh 1942 quê Tam Dương – Vĩnh Phúc.
-Năm 1963 ông nhập ngũ vào binh chủng Tăng- Thiết giáp rồi trở thành cán bộ văn hóa.
- Đề tài : ông thường viết về con người và cuộc sống ở nông thôn.
-Phong cách: trong sáng, tinh tế và giàu suy tưởng.
2.Tác phẩm.
-Bài thơ được viết vào năm 1977 ( năm đất nước vừa ra khỏi chiến tranh nên người lính rất trân quý thời gian được sống ở làng quê và HT cũng vậy)
-Bài thơ được đưa vào tập thơ “ Từ chiến hào đến thành phố”
B. Phân tích
1.Cảm nhận của em về bài thơ để thấy được sự quan sát, cảm nhận tinh tế của tác giả
trước thiên nhiên.
A- Mở bài :
- Đề tài mùa thu trong thi ca xưa và nay rất phong phú (ba bài thơ thu nổi tiếng của Nguyễn Khuyến: Thu vịnh, Thu điếu và Thu ẩm; Đây mùa thu tới của Xuân Diệu,…). Cùng với việc tả mùa thu, cảnh thu, các nhà thơ đều ít nhiều diễn tả những dấu hiệu giao mùa.
- “Sang thu” của Hữu Thỉnh lại có nét riêng bởi chỉ diễn tả các yếu tố chuyển giao màu. Bài thơ thoáng nhẹ mà tinh tế.
B- Thân bài:
-Mùa thu đc Hữu Thỉnh mtả bằng những bước chuyển mình tinh tế của chính vạn vật trước thời khắc giao mùa, các sự vật đang chuyển mình một cách chủ động.
a,Khổ 1: Sự biến đổi của đất trời lúc sang thu.( những dấu hiệu ban đầu của sự giao mùa)
-Cảnh vật lúc sang thu được tác giả cảm nhân thông qua hình ảnh “ hương ổi” “ gió se” “sương chùng chình”
+ Hương ổi mùi hương quê nhà mộc mạc , dìu dịu cứ phảng phất , thoang thoảng bay trên các đường thôn ngõ xóm.
+ Gió se là lọai gió nhẹ thổi mang theo caí hơi lạnh của muà thu. Đây là loại gió đặc trưng của miền bắc VN. Chính ngọn gió đầu mùa ấy đã làm thơm cả không khí tạo nên vẻ đẹp của mùa thu. Mùi hương ổi lan tỏa vào trong gió se tác động đến nhà thơ thông qua động từ “ phả”
+“phả”-diễn tả một mùi hương nồng nàn đậm đà -một động từ mang nghĩa chủ động tác động mạnh mẽ đến nhà thơ khiến cho ông ngạc nhiên, ngỡ ngàng
-Tg đã có sự phát hiện bất ngờ “bỗng nhận ra”->một trạng thái chưa hề đc chuẩn bị nó đến làm cho tg sửng sốt,bất ngờ,ngỡ ngàng. >Từ “ Bỗng”được đưa lên đầu câu để nhấn mạnh tâm trạng ngạc nhiên sửng sốt, ngỡ ngàng của tác giả
- “ Sương chùng chình” cũng có thể là những hạt sương thu mềm mại ươn ướt giăng mắc qua ngõ đang nhẹ nhàng chuyển động, hay cũng có thể là những làn sương nhẹ mỏng đang bay chầm chậm “qua ngõ”. Từ láy “ chùng chình” như khoác trên mình biện pháp nghệ thuật nhân hóa khiến cho làn sương mỏng cũng như có tâm hồn đang lưu luyến bịn rịn với mùa hạ chưa muốn bước sang thu
+ “Qua ngõ” cũng có thể là ngõ thực, cũng có thể là ngưỡng cửa của thời gian giao giữa 2 mùa.
-Tất cả dấu hiệu sang thu được tác giả cảm nhận bằng nhiều giác quan như khứu giác “hương ổi” Xúc giác “ gió se” và thị giác “Sương chùng chình” . Tất cả các tín hiệu sang thu còn vô hình, còn mơ hồ chưa rõ ràng, chưa cụ thể nên nhà thơ chưa giám khẳng định mà mới chỉ đưa ra lời phỏng đoán“Hình như thu đã về”.Từ “hình như”thể hiện sự ngỡ ngàng, ngạc nhiên, cùng cảm xúc bâng khuâng có phần bối rối..
=> có thể nói cảnh vật sang thu được cảm nhận bằng một tình yêu thiên nhiên cùng tâm hồn nhạy cảm tinh tế của nhà thơ Hứu Thỉnh thì mới viết được những câu thơ hay như vậy.
*Khổ 2:Những dấu hiệu mùa thu đã dần dần rõ hơn, không gian được mở rộng về biên độ với tầm nhìn xa hơn từ mặt đất lên bầu trời.
-Cảm nhận về sự chuyển biết của thiên nhiên lúc giao mùa được mở rộng dần về không gian như dòng sông, bầu trời và cánh chim thông qua các hình ảnh “ Sông dềnh dàng” “ chim vội vã” và “Đám mây mùa hạ”.Với 4 câu thơ 3 hình ảnh mỗi hình ảnh mang một trạng thái khác nhau và đều mang những nét đặc trưng riêng..
+ Dòng sông cuối hạ đầu thu không còn chảy cuồn cuộn nữa ,ầm ầm như ở mùa hạ nữa, mà đã chảy chầm chậm, thong thả, từ từ , gợi ra vẻ êm dịu của bức tranh thiên nhiên . Từ láy “ dềnh dàng” đã gợi lên sự chuyển động chầm chậm vừa trôi vừa suy tư mãn nguyện . Từ láy này như
khoác lên mình biện pháp nghệ thuật nhân hóa khiến cho dòng sông cũng giống như một sinh thể sống, cũng cảm nhận được những biến chuyển của tạo hóa nên còn ngập ngừng lượng lự chưa muốn rời xa mùa hạ để bước sang mùa thu.
+ Hình ảnh “ chim vội vã” cũng có thể là những cánh chim bay đi hối hả xôn xao khi thu về.Hơi thu lạnh làm chúng khẩn trương bay đi tránh rét, hay cũng có thể là những cánh chim chiều đang vội vã bay về tổ. Ở đây chim mới “bắt đầu vội vã”chứ ko phải là đang vội vã => mtả rất chính xác-> tg phải là người cảm nhận rất tinh tế thì mới có thể nhận ra.
+Tg sd cấu trúc đối tự nhiên rất chặt chẽ: sông dềnh dàng><chim vội vã. Không chỉ tạo nên những hình ảnh thơ đẹp giàu chất gợi hình gợi cảm, làm cho không gian rộng hơn khoáng đạt hơn mà còn diễn tả cảnh vật cũng như đang chuyển động xong còn đang dùng dằng nửa ở, nửa đi tới hành trình về phía vô tận của mình.
+ Các từ “ được lúc” “bắt đầu” không chỉ diễn tả chính xác sự chuyển động của đất trời lúc sang thu mà còn thể hiện được sự cảm nhận tinh tế của tác giả.
- Thiên nhiên lúc giao mùa còn được thể hiện thành công nhất ở hình ảnh đám mây.
+Hai câu thơ sau tác giả đi miêu tả vẻ đẹp mềm mại duyên dáng của đám mây trên bầu trời thu.
Mây muôn đời vẫn thế nhưng theo cảm quan của nhà thơ Hữu Thỉnh mây đã trở thành cầu nối mong manh giữa mùa hạ và mùa thu . Ở đây nhà thơ đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hóa đám mây qua động từ “ vắt” giúp cho người đọc hình dung ra được đám mây mùa hạ: như một tắm khăn von duyên dáng của người thiếu nữ vắt ngang trên bầu trời thu .nửa còn đang nhốm màu của mùa hạ, nửa đã nhuốm màu của mùa thu nên nhà thơ mới viết“vắt nửa mình sang thu”->Dường như đám mây xốp nhẹ mỏng như đang vắt ngang trên bầu trời mây cũng đang lưỡng lự chưa muốn dời mùa hạ để bước sang thu-. Đến đây ta thấy hình ảnh đám mây được xây dựng bằng trí tưởng tượng táo bạo của nhà thơ.Thu về làm cho bao cảnh vật thay đổi,khiến cho đám mây cũng khác.=>Tg đã làm cho người đọc cảm nhận đc trong ko gian cũng có sự chia cắt giữa 2 mùa.
Mở rộng: Trong một bài thơ khác HT cũng có những phát hiện đầy bất ngờ, mới mẻ “ Đi suốt cả ngày thu/ Vẫn chưa về đến ngõ” Chắc hẳn HT phải có một tâm hồn nghệ sĩ và tình yêu tha thiết với thiên nhiên thì mới tạo nên câu thơ viết về mùa thu đẹp và lãng mạn như vậy.
=>Tất cả cảnh vật vào thu còn đang ở trạng thái ngập ngừng,nhưng là sự ngập ngừng đầy chủ động “sông đc lúc,chim bắt đầu,mây vắt nửa mình”.Như vậy bằng sự cảm nhận của nhiều giác quan, cùng sự liên tưởng thú vị bất ngờ và tâm hồn nhạy cảm tinh tế của tác giả mọi cảnh vật đều như đang chuyển mình từ từ bước sang thu. Người đọc cảm nhận được cả không gian và thời gian chuyển mùa thật đẹp thật gợi cảm.
*Khổ thơ 3:Không chỉ miêu tả các hiện tượng trong thiên nhiên mà còn nêu ra được những suy ngẫm triết lí của tác giả.
-Dấu hiệu sang thu được miêu tả ngày càng rõ rệt hơn thông qua các hiện tượng trong thiên nhiên đó là nắng, mưa , sấm.
+Nắng cuôí hạ đầu thu vẫn còn nồng, còn sáng, còn chói chang oi ả nhưng đã được dịu đi bởi có sự tác động của gió se.
+Cơn mưa lúc giao mùa cũng không còn ào ạt ồn ã như ở mùa hạ nữa mà nó đã vi dần, nên những tiếng sấm đùng đoàng vang dội cũng đã thưa dần và bớt hẩn chính vì vậy mà hàng cây cổ thụ không còn bị giật mình bởi những tiếng sấm vang dội ấy nữa.
-Tg sd các từ “ đã vơi” “ cũng bớt” “ vẫn còn” không chỉ làm nổi bật về mức độ, cường độ của các hiện tượng trong thiên nhiên dường như cũng có thể cân đo, đong , đếm đc mà còn diễn tả chính xác sự giao mùa từ hạ sang thu.
- Hai câu thơ cuối không chỉ miêu tả các hiện tượng thiên nhiên lúc giao mùa mà còn nêu ra những triết lí vè đời người thông qua biện pháp nghệ thuật ẩn dụ.
+ “Sấm”là tượng trưng cho những biến động của c/đ của ngoại cảnh, còn hàng cây dứng tuổi tượng trưng cho những con người từng trải, dày dặn kinh nghiệm=>. Thông qua biện pháp nghệ thuật này nhà thơ đưa chúng ta đến với triết lí chiêm nghiệm về đời người khi con người đã từng trải thì họ trở nên vững vàng bình tĩnh hơn trước những tác động bất thường của ngoại
cảnh,của c/đ.Đến đây ta thấy HT đã gắn chuyện sang thu của thiên nhiên vào chuyện sang thu của đời người , của đất nước. Đặt vào hoàn cảnh sáng tác bài thơ thì đây còn là chuyện sang thu của đất nước, đất nước bước sang một trang mới đó là độc lập tự do.
=>Đậu vào tâm hồn thi nhân nhạy cảm, tính tế của Hữu Thỉnh, thế giới thiên nhiên, cảnh vật cuối hạ sang thu hóa nên những sinh thể sống, những chứng nhân xác nhận cho thời điểm giao mùa, cho những biến thái, biến chuyển nhẹ nhàng, tinh tế của đất trời, tạo nên những rung động, những liên tưởng thú vị ở tâm hồn người đọc.
*KQ: Viết theo thể thơ 5 chữ , cách ngắt nhịp linh hoạt, giọng điệu nhẹ nhàng nhơ có sự
chuyển biến của đất trời. Từ ngữ, hình ảnh mộc mạc trong sáng giàu sức biểu cảm, vừa cổ điển, vừa hiện đại mang đậm dấu ấn của miền quê vùng đồng bằng Bắc Bộ. Cùng với nghệ thuật ẩn dụ, nhân hóa….
- Tác giả đã vẽ nên một bức tranh đặc sắc về thời điểm giao mùa từ hạ sang thu với cảm xúc tinh tế, tâm hồn nhạy cảm và tình yêu thiên nhiên tha thiết. Bài thơ đã bồi đắp thêm tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước trong mỗi cnhungs ta.
- Viết về mùa thu VHVN từ xưa tới nay có rất nhiều bài thơ hay và đặc sắc ca ngợi vẻ đẹp mùa thu như chùm thơ của Nguyễn Khuyến… nhưng bài thơ sang thu của Hữu Thỉnh đã góp một tiếng riêng.
C- Kết bài:
- Bài thơ bé nhỏ xinh xắn nhưng chứa đựng nhiều điều thú vị, bởi vì mỗi chữ, mỗi dòng là một phát hiện mới mẻ. Cái tài của nhà thơ là đã khiến bạn đọc liên tiếp nhận ra những đấu hiệu chuyển mùa thường vẫn có mà mọi khi ta chẳng cảm nhận thấy. Những dấu hiệu ấy lại được diễn tả rất độc đáo.
- Chứng tỏ một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, một tài thơ đặc sắc.
2.Về bài thơ “ Sang thu” có ý kiến cho rằng “ Sang thu không chỉ là khúc giao mùa nhẹ nhàng bâng khuâng mà còn thì thầm triết lí”.
Phân tích 2 khổ thơ cuối để làm sáng tỏ ý kiến trên.
a, MB: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, trích dẫn ý kiến, nêu giới hạn vấn đề cần phân tích.
c,TB
*Giải thích ý kiến: Nhận xét đã đánh giá được nét đặc sắc về nội dung của tác phẩm, đặc biệt thể hiện rõ ở hai khổ thơ cuối: khúc hát giao mùa nhẹ nhàng, bang khuâng mà cũng thì thầm triết lí.
*Chứng minh ý kiến:
-Khúc giao mùa nhẹ nhàng bâng khuâng được thể hiện qua bức tranh thiên nhiên từ cuối hạ sang đầu thu trong không gian đất trời. ( khổ 2,3)
+ Vẻ đẹp của đất trời trong khoảnh khắc giao mùa có nhiều sắc thái đối lập ; chú ý phân tích hình ảnh: dòng sông, cánh chim, dùng dằng, vội vã.
+Bức trang giao mùa ấy có sự chuyển động về không gian, thời gian, ẩn chứa tâm trạng: chú ý phân tích nghệ thuật nhân hóa “ Đám mây mùa hạ- Vắt nửa mình sang thu”
+ Khoảnh khắc giao mùa từ cuối hạ sang đầu thu dần trở nên rõ nét hơn ở khổ cuối. Các tín hiệu mùa hạ vẫn xuất hiện nhưng giảm dần về cường độ, mức độ, chú ý hình ảnh: nắng, mưa, sấm, hàng cây.
+Tâm hồn tài hoa, cảm xúc ngây ngất đắm say của thi sĩ.
- “ Sang thu” còn thì thầm tính triết lí, điều đó được thể hiện qua những chiêm nghiệm lắng sâu về con người, cuộc đời ( hai câu thơ cuối)
+Bước sang mùa thu của cuộc đời, khi đã từng trải hơn, con người trở nên điềm tĩnh trước những tác động bất thường của ngoại cảnh. ( chú ý hình ảnh ẩn dụ: sấm, hàng cây đứng tuổi) +Những chiêm nghiệm ấy xuất phát từ một hồn thơ tài hoa, thâm trầm, sâu sắc.
*Khái quát:
-Hai khổ thơ cuối thực sự là khúc giao mùa của đất trời từ cuối hạ sang đầu thu, từ đó lắng sâu những lời thì thầm triết lí. Vẻ đẹp ấy được thể hiện qua những yếu tố nghệ thuật đặc sắc: thể thơ 5 chữ, giọng điệu nhẹ nhàng, ngôn ngữ trong sáng, giàu sức gợi.
-Liên hệ với những bài thơ khác để khẳng định những đóng góp sáng tạo của nhà thơ Hữu Thỉnh.
3.Có ý kiến cho rằng “Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ” Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua 2 khổ đầu trong bài thơ “ Sang thu” của Hữu Thỉnh.
a, MB: Giới thiệu vấn đề nghị luận và trích dẫn ý kiến.
b, TB:
*Giải thích ý kiến:
-Thơ ca bắt rễ từ lòng người: là thơ ca bắt nguồn từ cảm xúc, tình cảm chân thành nhưng mạnh mẽ của con người.
-Nở hoa nơi từ ngữ: là kết tinh vẻ đẹp của cảm xúc ngôn từ sức gợi hình , gợi cảm, giàu tính nhạc làm nên lối diễn đạt độc đáo.
- Từ bắt rễ và nỏ hoa: nêu lên mối quan hệ chặt chẽ giữa nội dung và nghệ thuật.
=>Ý nghĩa của cả nhận định trên: Khẳng định đặc trưng nổi bật của thơ ca là khơi nguồn từ cảm xúc của tác giả thể hiện những rung cảm tinh tế do tình cảm mà sinh ra, tình cảm ấy bao giờ cũng được thể hiện qua ngôn ngữ chắt lọc, giàu hình tượng...
*Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
*Chứng minh ý kiến:
- Luận điểm 1: Thơ ca bắt rễ từ lòng người.
+ Bài thơ “ Sang thu” bắt rễ từ những rung động , cảm nhận tinh tế của nhà thơ về sự chuyển biến nhẹ nhàng của thiên nhiên đất trời.
+Hữu Thỉnh cảm nhận mùa thu rất riêng, rất mới ( phân tích khổ 1,2,3) -Luận điểm 2: Nở hoa nơi từ ngữ:
+Sự chuyển biến của đất trời lúc sang thu được Hữu Thỉnh gợi lên bằng những cảm nhận tinh tế bằng một lối thơ riêng với những hình ảnh ngôn ngữ độc đáo giàu sức gợi hình, gợi cảm.
+Giọng thơ nhẹ nhàng ngôn ngữ giàu hình ảnh, sử dụng từ ngữ diễn tả cảm giác, trạng thái tinh tế qua cụm từ “ bỗng, phả, chùng chình, hình như, dềnh dàng, vội vã”
*Đáng giá.
VI. Dặn dò
-Về nhà ôn lại bài và làm thành bài văn hoàn chỉnh . -Giờ sau ôn bài: Nói với con.