TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ
1.3. Kinh nghiệm quản lý tài chính trong điều kiện tự chủ tại các trường đại
1.3.1. Kinh nghiệm từ các nước
Mỹ là một quốc gia có nền GDĐH tiên tiến, quyền tự chủ của các trường ĐH có những đặc điểm cơ bản sau:
- Các trường ĐHCL Mỹ được tự chủ vận hành theo cơ chế thị trường, tự do cạnh tranh, gần như được tự chủ hoàn toàn và có toàn quyền quyết định mọi việc.
Các trường hoạt động theo một nền giáo dục đại học đại chúng gắn kết chặt chẽ với địa phương, bám sát nhu cầu thị trường lao động và không ngừng hiện đại hóa CSVC, thu hút GV giỏi, nâng cao chất lượng đào tạo.
- Việc điều hành, quản lý toàn bộ hoạt động của nhà trường do Hội đồng quản trị và Hiệu trưởng thực hiện theo những quy định rất chi tiết. Cơ cấu hội đồng quản trị gồm đại diện của chính quyền bang, doanh nhân, nhà hoạt động xã hội, sinh viên, phụ huynh,…
- Vai trò quản lý của nhà nước nói chung rất mờ nhạt. Việc thành lập và hoạt động của các trường ĐHCL dựa trên nguyên tắc nhà nước cấp phép nhưng quyền
29
đánh giá chất lượng thuộc về tư nhân. Việc kiểm định chất lượng giáo dục được thực hiện thường xuyên và kết quả của những đợt kiểm định đó được công bố
không chỉ trên website của nhà trường mà còn công bố trên website của tổ chức độc lập, của chính phủ.
- Nền GDĐH Mỹ phát triển dựa trên 06 mục đích: tự do học thuật, tự chủ, tìm kiếm tài năng, cạnh tranh công bằng, xã hội hóa và kiểm tra chất lượng [27].
- Cơ chế tài chính của các trường ĐHCL Mỹ có những đặc điểm sau:
+ Ngân sách bang cấp 30% – 40%, phần còn lại thu từ học phí, các quỹ nghiên cứu và các khoản khác như kinh doanh, đầu tư tài chính [27]. Sinh viên của bang nộp học phí thấp hơn SV đến từ bang khác;
+ Việc phân bổ nguồn lực cho các hoạt động không đồng đều nhau giữa các trường mà thực hiện theo nguyên tắc chia theo danh tiếng của từng trường. Ví dụ các trường ĐH nghiên cứu có danh tiếng thì chia theo tỷ lệ ưu tiên cho nghiên cứu:
30-60-10. Trong đó 30% nguồn lực cho giảng dạy, 60% nguồn lực dành cho các hoạt động nghiên cứu, 10% cho các hoạt động dịch vụ. Các trường thuộc nhóm trung bình thì tỷ lệ chia là 40-40-20, các trường đại học cộng đồng chia theo tỷ lệ
60-20-20, tức là ưu tiên cho nguồn lực giảng dạy [28].
+ Hiệu trưởng và các trưởng khoa có quỹ riêng để tăng lương cho những GV có nhiều thành tích nghiên cứu. Công tác giảng dạy, nghiên cứu tiến hành theo nguyên tắc tự do học thuật.
1.3.1.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Để thấy được toàn bộ bức tranh của giáo dục đại học của Nhật Bản, theo số
liệu năm 2015, toàn Nhật Bản có 799 trường đại học, trong đó các trường quốc lập là 86 trường (tỷ lệ 11%), trường công lập (do chính quyền địa phương thành lập) là 89 trường (chiếm 11.4%) và trường dân lập là 604 trường (chiếm 77.5%) [29]. Như vậy có thế thấy với một đất nước tiên tiến và văn minh, có nền KHCN hiện đại như Nhật Bản, hệ thống các trường đại học dân lập chiếm số đông.
Năm 2004, toàn bộ 86 trường Quốc lập của Nhật Bản chuyển sang mô hình tự chủ, quyền tự chủ của các trường ĐHCL Nhật Bản có những đặc điểm sau:
30
- Các trường được tự chủ sử dụng kinh phí chi hoạt động thường xuyên, được tự quyết định mức học phí, được tự quyết định biên chế (số giảng viên và cán bộ
hành chính), thành lập Khoa mới và mở chương trình đào tạo mới, thành lập hoặc xóa bỏ Trường và Viện thành viên. Tuy nhiên, họ không được tự quyết chỉ tiêu tuyển sinh và quy mô đào tạo, quy mô sinh viên là tham số được Nhà nước quản lý chặt chẽ và điều tiết. Đây có lẽ là điểm khác biệt lớn nhất so với cách hiểu về tự chủ đại học ở Việt Nam hiện nay.
- Trong quá trình tự chủ các trường ĐHCL ở Nhật Bản, Nhà nước vẫn cấp kinh phí chi thường xuyên cho các trường, nhưng hàng năm, ngân sách hỗ trợ hoạt động thường xuyên bị cắt giảm 1%, và tinh giản biên chế khoảng 1% mỗi năm. Tỷ trọng nguồn thu từ NSNN của trường sau tự chủ khoảng 33%, thu học phí chiếm tỷ lệ thấp (khoảng 11%) [29]. Như vậy, nguồn thu từ học phí của các trường ĐH Nhật Bản là điểm khác biệt rất lớn đối với các trường thực hiện tự chủ ở Việt Nam. Sở dĩ mức thu học phí tại các trường ĐH Nhật Bản thấp là Bộ Giáo dục Nhật Bản lại có chủ trương là khi một đại học tăng học phí thì Bộ sẽ giảm hỗ trợ cho kinh phí chi hoạt động thường xuyên cho nên hiện nay về cơ bản các đại học quốc lập đều giữ
mức học phí theo mức chuẩn của Bộ và không có đại học nào tăng học phí.
Công tác giáo dục nghề nghiệp rất được quan tâm và được tiến hành một cách có hệ thống tại các trường ĐH Nhật Bản. Trong đó, các trường Đại học có sự liên kết và quan hệ chặt chẽ với các công ty lớn, qua đó, các công ty sẵn sàng tìm kiếm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bằng cách kết hợp với các trường ĐH trong đào tạo và giáo dục những kỹ năng thực hành cho sinh viên, bồi dưỡng kiến thức thực tiễn cho giảng viên. Từ đó, chất lượng đầu ra của các trường đại học cũng tăng lên song song với chất lượng đầu vào của các công ty. Việc liên kết chặt chẽ như vậy cũng giúp các trường Đại học dễ dàng tìm kiếm nguồn tài trợ góp phần tăng nguồn thu cho các trường ĐH.
Nhờ có chính sách tự chủ đại học, các trường đại học quốc lập Nhật Bản đã phát huy cao nhất sự năng động, sáng tạo và tính linh hoạt trong các hoạt động, gắn kết chặt chẽ với các doanh nghiệp, đẩy mạnh nghiên cứu, thúc đẩy KHCN và kinh tế phát triển.
31 1.3.1.3. Kinh nghiệm của Singapore
Singapore là quốc gia có nền giáo dục tiên tiến vào bậc nhất khu vực Đông Nam Á. Tự chủ đại học và cơ chế tài chính đối với các trường ĐH tự chủ tại quốc gia này có những đặc điểm sau:
- Về cơ chế: các trường được chấp thuận trở thành đại học tự chủ với cơ chế doanh nghiệp phi lợi nhuận. Tuy nhiên, cơ chế doanh nghiệp ở đây hoàn toàn không phải là thương mại hóa, tự chủ đại học vẫn mang tính chất phi lợi nhuận, cơ chế doanh nghiệp khiến cho các trường rất nhanh nhạy với thời cuộc, đào tạo các ngành
"hot", ứng biến với sự thay đổi của thị trường, nhanh chóng đáp ứng với nhu cầu của thị trường, đồng thời rất giỏi trong việc huy động kinh phí từ các nguồn xã hội khác.
- Hội đồng trường: Hội đồng trường là bộ máy lãnh đạo cao nhất trong nhà trường, quyết định mọi chiến lược phát triển của nhà trường. Hội đồng trường gồm những nhà quản lý giáo dục giỏi, doanh nhân thành đạt và các chuyên gia kinh tế nổi tiếng. Dưới Hội đồng trường có 8 ban chuyên trách, giúp Hội đồng trường kiểm soát mọi tình hình trong nhà trường và tư vấn các quyết sách. Hội đồng trường có quyền đưa ra các quyết sách, Hiệu trưởng thực thi các quyết sách của Hội đồng trường, các chuyên gia có trách nhiệm tư vấn và cùng thảo luận bàn bạc các vấn đề lớn của trường. Hội đồng trường có nhiệm vụ:
+ Chỉ đạo vĩ mô lãnh đạo trường thực hiện mục tiêu đề án;
+ Chịu trách nhiệm chính, có quyền quyết định cuối cùng đối với các việc của nhà trường;
+ Quyết định phương châm tài chính của nhà trường;
+ Đảm bảo nhà trường sử dụng nguồn lực hợp lý (trường có quyền tự chủ lớn hơn trong vấn đề tài chính), lựa chọn ra các thành viên vừa thích hợp vừa nhiệt tình, không ngại cống hiến sức lực và tiền bạc cho nhà trường.
- Về nguồn thu: các trường ĐH tự chủ được chính phủ cam kết là chủ thể cấp ngân sách chính cho GDĐH (các trường đại học tự chủ của Singapore vẫn được chính phủ tài trợ 75% kinh phí). Bên cạnh đó, các trường được tự quyết định mức học phí và các vấn đề liên quan đến nguồn nhân lực, kể cả mức lương.
32
- Chính sách về nhân sự: các trường chủ động tăng lương thưởng và có cơ chế đãi ngộ linh hoạt dựa vào thành tích nghiên cứu quốc tế, đặc biệt đối với nhân tài hàng đầu của trường. Để đảm bảo chất lượng, các trường không ngừng tăng tiêu chuẩn về chức vụ và thăng tiến: GV tuyển dụng ký hợp đồng ba năm một lần, sau 6 năm không đạt được chức danh Phó giáo sư thì nhà trường sẽ không tuyển dụng nữa, GV thường xuyên được đánh giá giờ giảng bởi Hội đồng khoa học khoa và sinh viên mới được tiếp tục đứng lớp. Trưởng khoa và trưởng các bộ môn được tuyển dụng phải có trình độ học thuật hàng đầu thế giới.
Để đảm bảo hiệu quả trong việc thu chi ngân sách, mục tiêu đào tạo phù hợp với chính sách của nhà nước, có chất lượng đào tạo tốt, Chính phủ Singapore chủ yếu dựa trên ba thỏa thuận sau nhằm đảm bảo định hướng đào tạo và chất lượng đào tạo của các trường [30]:
- Thỏa thuận về chính sách: Làm rõ phạm vi tự chủ của trường đại học và đưa ra quy định xử phạt nếu các trường vi phạm thỏa thuận về chính sách, chủ yếu nhằm để đảm bảo các trường sẽ thực hiện mục tiêu đào tạo và quy hoạch phát triển tổng thể mà chính phủ đã đề ra;
- Thỏa thuận về hiệu quả: do các trường tự vạch ra, Bộ Giáo dục phê duyệt, chủ yếu nhằm xác định các chỉ tiêu phát triển chính trong các mục cụ thể như mục tiêu phát triển tổng thể, chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, dịch vụ xã hội và phát triển nhân sự - phòng ban. Thỏa thuận này được rà soát lại theo định kỳ 5 năm;
- Hệ thống đảm bảo chất lượng: quy định thông qua đánh giá của bản thân nhà trường và đánh giá ngoài của Hội đồng đánh giá do Bộ Giáo dục chỉ định, đảm bảo nhà trường sử dụng hiệu quả nguồn lực, thực hiện tốt mục tiêu phát triển. Cứ 5 năm trường báo cáo một lần tình hình phát triển.