Kinh nghiệm từ các trường đại học tại Việt Nam

Một phần của tài liệu Tăng cường công tác quản lí tài chính tại trường đại học sư phạm kỹ thuật TP HCM trong điều kiện tự chủ (Trang 42 - 46)

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ

1.3. Kinh nghiệm quản lý tài chính trong điều kiện tự chủ tại các trường đại

1.3.2. Kinh nghiệm từ các trường đại học tại Việt Nam

Thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/HNTW Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VII) ngày 14 tháng 1 năm 1993 về “Xây dựng một số trường đại học trọng điểm quốc gia”, năm 1993, Chính phủ ban hành Nghị định số

97/CP về việc thành lập VNU. Với tinh thần của Nghị định 97/CP ngày 10/12/1993,

33

VNU được trao quyền chủ động cao. Tiếp sau đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 07/2001/NĐ-CP về ĐHQG và Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số

16/2001/QĐ-TTg, ban hành quy chế về tổ chức và hoạt động của ĐHQG, tạo điều kiện thuận lợi cho ĐHQG phát triển với cơ chế được mở rộng quyền tự chủ.

Thực hiện quyền tự chủ được Nhà nước giao, VNU đã thực hiện phân cấp quản lý theo hướng tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm xã hội cao trong các lĩnh vực hoạt động của các đơn vị thành viên và các đơn vị trực thuộc, bằng việc ban hành các văn bản hướng dẫn phù hợp với năng lực, điều kiện và hiệu quả hoạt động của từng đơn vị đồng thời đảm bảo sự chỉ đạo, điều phối, thống nhất và kiểm tra giám sát của VNU và thúc đẩy liên thông, liên kết toàn diện giữa các đơn vị, sử dụng hiệu quả các nguồn lực chung, tạo thêm giá trị gia tăng để nâng cao chất lượng, hiệu quả mọi hoạt động.

Cơ chế quản lý điều hành hợp lý được hoàn thiện và phát huy hiệu quả: Các đơn vị trực thuộc VNU được tổ chức và hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm xã hội cao, mở và liên thông, liên kết, phát huy lợi thế chuyên môn hóa trong khuôn khổ quản lý và điều phối thống nhất của VNU, kết hợp chặt chẽ đào tạo và NCKH, phối hợp hiệu quả giữa các ngành, lĩnh vực, sử dụng chung đội ngũ cán bộ

khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, ngoại ngữ, lý luận chính trị, giáo dục quốc phòng, giáo dục thể chất...) và cơ sở vật chất - kỹ thuật (phòng thí nghiệm, thư viện, ký túc xá, phòng tập, sân bãi, hạ tầng công nghệ thông tin...) của VNU. Cơ cấu tổ chức ĐHQG như vậy cho phép các đơn vị chủ động tập trung các nguồn lực cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất... liên quan đến chuyên ngành đào tạo, lĩnh vực nghiên cứu đặc thù của mình.

Quản trị trong VNU được thực hiện theo cách tiếp cận quản lý sản phẩm đầu ra, thực hiện việc tăng quyền tự chủ gắn với việc nâng cao tự chịu trách nhiệm của các đơn vị; chất lượng kết quả/sản phẩm được giám sát chặt chẽ dựa vào các tiêu chí định lượng. Đặc biệt là chất lượng các đơn vị đào tạo và chương trình giáo dục trong VNU được giám sát chặt chẽ thông qua hoạt động kiểm định chất lượng với các bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường thành viên và khoa trực thuộc VNU và tiêu chuẩn kiểm định chất lượng chương trình giáo dục trong VNU với Quy định

34

về kiểm định chất lượng giáo dục trong VNU được xây dựng khoa học, thực hiện đều đặn theo các chu kỳ nghiêm túc, đầy đủ. Hơn thế nữa, VNU còn khuyến khích, động viên các trường thành viên tham gia kiểm định của các tổ chức kiểm định quốc tế có uy tín nhằm thúc đẩy nhanh hơn nữa việc nâng cao chất lượng và quá trình hội nhập.

1.3.2.2. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (NEU)

Với lịch sử trên 60 năm hình thành và phát triển, NEU đại học được Bộ

GD&ĐT chọn là 1 trong 6 trường thực hiện thí điểm tự bảo đảm toàn bộ kinh phí chi thường xuyên và đầu tư giai đoạn 2008 – 2012. Từ năm 2008, trường đã thực hiện tự chủ 100% chi thường xuyên. Trước đó, học phí áp dụng theo khung của Nhà nước quy định, nguồn thu từ học phí chiếm 40%, còn 60% NSNN cấp.

Giai đoạn ban đầu để bù đắp nguồn thu thiếu hụt khi NSNN cắt chi thường xuyên, trường phải tăng nguồn thu từ hệ đào tạo không chính quy, thu hoạt động dịch vụ, các chương trình chất lượng cao, liên kết quốc tế.

Về chế độ chính sách, nhà trường huy động được nguồn quỹ học bổng từ các cựu sinh viên là những nhà lãnh đạo trong cơ quan nhà nước, từ chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc nhiều tập đoàn lớn; đến nay quỹ học bổng đã có trên 50 tỷ đồng, để thực hiện miễn, giảm học phí, cấp học bổng cho sinh viên [19]. Trường đã hoàn tất dự án tòa nhà điều hành và đưa vào sử dụng năm 2017, với tổng mức đầu tư gần 1,260 tỷ đồng, trong đó vốn NSNN là 85%, vốn đối ứng là 15%. Đây là cơ sở vật chất hiện đại bậc nhất trong các trường đại học của Việt Nam [21].

NEU có cơ sở vật chất tốt, có đội ngũ giảng viên tương đối mạnh (trên 37% có trình độ tiến sỹ trở lên), có các ngành học mà thị trường và xã hội có nhu cầu cao.

Quá trình thực hiện thí điểm TCTC đã cho trường được quyền tự chủ về tuyển sinh, chủ động trong liên kết đào tạo, mở ngành, đa dạng hóa hình thức đào tạo, tăng nguồn thu từ học phí để tự bảo đảm chi thường xuyên, tăng thu nhập của cán bộ

công nhân viên lên 10%/năm so với trước khi TCTC. Tuy nhiên, nguồn thu phần lớn nhờ vào mở rộng quy mô và đa dạng hóa các hình thức đào tạo, cơ cấu nguồn thu từ NCKH và kết quả hoạt động khoa học còn chưa cao.

1.3.2.3. Trường Đại học Kinh tế Tp. HCM (UEH)

35

Trường Đại học Kinh tế Tp. HCM cũng là một trong 6 trường đại học được Bộ

GD&ĐT chọn thực hiện thí điểm tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên giai đoạn 2008 - 2012.

Ngày 29/12/2014, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2377/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động UEH giai đoạn 2014-2017.

Theo đề án này, trường được thu học phí chương trình đại trà ổn định từ 13 - 16.5 triệu đồng/năm và tăng không quá 30% học phí đối với sinh viên đã nhập học trước thời điểm quyết định tự chủ có hiệu lực.

Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm tự chủ tài chính thì trường tự bảo đảm chi thường xuyên và đầu tư; được tiếp tục thực hiện các dự án đầu tư xây dựng theo Quyết định đã được Bộ GD&ĐT phê duyệt chủ trương đầu tư từ nguồn NSNN và tích lũy của Trường.

Sau tự chủ, số lượng sinh viên chính quy tăng về quy mô. Mức học phí cho các hệ đã được điều chỉnh thí điểm trước từ giai đoạn 2008-2012 và tiếp tục tăng ở giai đoạn 2014 - 2017 nên vấn đề tăng học phí không ảnh hưởng nhiều đến lượng tuyển sinh đầu vào mà chỉ ảnh hưởng ít nhiều đến điểm chuẩn đầu vào của trường.

Nguồn thu từ đào tạo tại UEH chiếm trên 80% tổng nguồn thu của trường, còn lại thu từ hoạt động dịch vụ, đầu tư tài chính, lãi ngân hàng. Về chế độ chính sách đối với người học, trường có quỹ học bổng cho sinh viên do các doanh nghiệp tài trợ và trích lập từ nguồn thu của trường.

Tổ chức bộ máy và nhân sự trường, có hội đồng trường gồm một số thành viên trong trường và 5 thành viên bên ngoài là lãnh đạo thành phố, vùng Tây Nam Bộ và các tập đoàn lớn. Trường có chiến lược thu hút và ký kết hợp đồng làm việc với chuyên gia trong và ngoài nước. Trong lĩnh vực NCKH và đào tạo đang tiến tới quốc tế hóa trong các lĩnh vực hoạt động của trường, đặc biệt là các chương trình liên kết quốc tế của trường thu hút rất nhiều chuyên gia, giảng viên nước ngoài có chuyên môn và phương pháp sư phạm tiên tiến. Đó chính là lợi thế cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập của UEH.

Hoạt động nghiên cứu khoa học và dịch vụ của trường, có cơ chế khuyến khích công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí có uy tín như ISI, Scopus, ABS,

36

ABCD với mức rất cao từ 100 triệu đồng đến 200 triệu đồng và cho tạm ứng 50%

ngay khi được phê duyệt đề tài, trong đó đề tài cấp trường được tài trợ từ kinh phí của trường [19].

Một phần của tài liệu Tăng cường công tác quản lí tài chính tại trường đại học sư phạm kỹ thuật TP HCM trong điều kiện tự chủ (Trang 42 - 46)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(104 trang)