Quản lý các khoản chi

Một phần của tài liệu Tăng cường công tác quản lí tài chính tại trường đại học sư phạm kỹ thuật TP HCM trong điều kiện tự chủ (Trang 62 - 66)

TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ

2.2. Thực trạng công tác quản lý tài chính tại trường đại học Sư phạm Kỹ

2.2.2. Quản lý các khoản chi

Tổng hợp cơ cấu các khoản chi của Nhà trường trong giai đoạn 2014 – 2018 được thể hiện qua bảng sau:

53

Bảng 2.4: Tổng hợp các khoản chi

Đơn vị tính: Triệu đồng

Chỉ tiêu Năm

2014 2015 2016 2017 2018

Chi hoạt động thường xuyên 241,777 260,876 240,394 357,260 377,532 Trong đó: Chi thanh toán cá

nhân 134,332 120,828 128,276 163,039 172,641 Chi nghiệp vụ chuyên

môn 36,781 76,162 102,418 134,055 141,524 Chi mua sắm, sửa

chữa TSCĐ 61,863 43,350 19,271 55,343 58,241 Các khoản chi khác 8,801 20,536 6,015 4,823 5,126 Chi ĐTPT, chi xây dựng cơ bản - 4,466 25,978 12,576 14,785 Trong đó: Chi từ vốn NSNN cấp - 4,466 25,978 - 11,943 Chi từ quỹ PT HĐSN - - - 12,576 2,842 Các đơn vị độc lập chi 4,819 5,129 3,167 2,671 1,907 Tổng các khoản chi 246,596 270,471 269,539 372,507 394,224

Nguồn: BCTC năm 2014, 2015, 2016, 2017, 2018 của trường ĐH SPKT TPHCM Dữ liệu tổng hợp từ bảng 2.4 cho thấy tổng các khoản chi của trường tăng lên hàng năm, trong đó, ổn định nhất là khoản chi mua sắm, sửa chữa TSCĐ bình quân 50 tỷ/năm, trừ năm 2016 nhà trường chi 19 tỷ mua sắm, sửa chữa TSCĐ. Chi đầu tư phát triển, chi xây dựng cơ bản trong năm 2016 lại cao hơn các năm khác rất nhiều (gần 26 tỷ) bởi vì trong năm 2016 nhà trường chi phần vốn đối ứng khởi công xây dựng tòa nhà F1 và sửa chữa hệ thống cấp thoát nước trong toàn trường.

Các khoản chi thanh toán cá nhân (bao gồm: tiền lương và phụ cấp lương, tiền công, học bổng HSSV, tiền thưởng, các khoản đóng góp (BHXH,…) và các khoản thanh toán khác cho cá nhân) và chi nghiệp vụ chuyên môn (bao gồm: tiền điện, nước, vật tư, điện thoại, công tác phí, chi phí thuê mướn, sửa chữa nhỏ, chi vật tư thực tập, giáo trình, tài liệu học tập, nghiên cứ khoa học,…) tăng dần đều hàng năm, hai khoản chi này chiếm vị trí quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của nhà trường. Để xem xét sự tăng giảm các khoản chi tổng hợp của nhà trường giai đoạn 2014 – 2018, ta xét biểu đồ sau:

54

Biểu đồ 2.5: Diễn biến tổng các khoản chi

Dựa vào biểu đồ 2.5 ta thấy tổng các khoản chi có xu hướng tăng và biến động lớn nhất thuộc giai đoạn năm 2016 đến 2017 (tăng gần 103 tỷ). Để hiểu rõ chiến lược và chủ trương của nhà trường trong giai đoạn này, ta phân tích diễn biến chi tiết từng khoản chi của nhà trường theo biểu đồ dưới đây:

Biểu đồ 2.6: Diễn biến cơ cấu các khoản chi

55

Dựa vào biểu đồ 2.6 ta thấy tỷ trọng các khoản chi thường xuyên chiếm tỷ lệ

rất cao (từ 89% đến 98% tổng các khoản chi). Do vậy, sự biến động lớn nhất các khoản chi năm cũng nằm ở các khoản chi này. Biểu đồ cũng cho thấy các khoản chi biến động lớn nhất và tăng cao trong năm 2017 là do nhà trường đã chi nhiều khoản để tổ chức Lễ kỷ niệm 55 năm thành lập trường (5/10/1962 – 5/10/2017), trong đó

tiêu biểu như: chi tiền thưởng CBVC: 8.4 tỷ, các khoản thanh toán khác cho cá nhân cũng tăng 18 tỷ; chi mua sắm, sửa chữa TSCĐ: chi cải tạo tầng hầm Tòa nhà trung tâm thành Thư viện Chất lượng cao, Góc sẻ chia, Trung tâm dịch vụ sinh viên, nhà ăn công đoàn, khu tự học cho sinh viên,…; các khoản chi đoàn vào, đoàn ra, thuê mướn, hội nghị trong năm và các nghiệp vụ chuyên môn khác cũng tăng nhân sự kiện kỷ niệm 55 năm thành lập.

Vì cơ cấu các khoản chi thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn như vậy nên để hiểu rõ hơn hơn cơ cấu các khoản chi, ta tìm hiểu chi tiết về cơ cấu các khoản chi thường xuyên của trường ĐH SPKT TPHCM trong giai đoạn 2014 – 2018 qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 2.7: Diễn biến cơ cấu chi thường xuyên

Dựa vào biểu đồ 2.7 ta thấy các khoản chi thanh toán cá nhân, chi mua sắm, sửa chữa TSCĐ và các khoản chi khác đều có những biến động tăng giảm nhất định, riêng chi nghiệp vụ chuyên môn tăng dần đều hàng năm. Ngoài ra, đối với

56

một trường đào tạo khối kỹ thuật công nghệ thì sự đầu tư vào nghiệp vụ chuyên môn là một sự đầu tư hợp lý, bởi lẽ để nâng cao chất lượng đào tạo thì việc nâng cao khả năng nghiên cứu của GV và SV là rất cần thiết. Các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn của nhà trường trong giai đoạn này tăng vượt bậc từ sau năm 2014 và đạt cao nhất 42.6% (năm 2016) và duy trì sự ổn định ở mức 37.5% trên cơ cấu các khoản chi thường xuyên trong giai đoạn 2017 – 2018.

Điểm đáng lưu ý tiếp theo là các khoản chi thanh toán cá nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu các khoản chi thường xuyên với tỷ trọng từ 45.6% đến 55.6%

trong cơ cấu chi thường xuyên và chiếm từ 43.8% đến 54.5% trong tổng các khoản chi của nhà trường. Có một sự nghịch biến nhẹ trong khoản chi thanh toán cá nhân giai đoạn 2014 – 2015 khi khoản chi thanh toán cá nhân trong năm 2015 lại thấp hơn năm 2014, qua tìm hiểu của tác giả, nguyên nhân của sự nghịch biến này là vì trong năm 2014 nhà trường chi cấp bù học phí cho sinh viên, nguồn chi này do NSNN cấp. Giai đoạn sau đó thì diễn biến nguồn chi thanh toán cá nhân biến thiên theo xu hướng đi lên và điều này cho thấy nhà trường chú trọng đến việc chi thanh toán cá nhân nhằm mục đích tạo sự ổn định và hướng tới nâng mức thu nhập cho CBVC, giúp họ yên tâm công tác. Đối với một trường khối kỹ thuật đòi hỏi phải giữ

chân được nhiều các GV là các nhà khoa học đầu ngành, quan điểm này rất xác thực. Tuy nhiên, nhà trường cũng đã tạo được sự cân đối với các khoản chi khác, nhất là các khoản chi mua sắm tài sản, chi trang bị máy móc thiết bị nhà xưởng và sửa chữa CSVC trong giai đoạn sau tự chủ được nhà trường chú trọng trong giai đoạn sau TCTC.

Nếu quan sát kỹ hơn vào biểu đồ trên ta sẽ có thêm một nhận xét nữa về cơ cấu các khoản chi thường xuyên, đó là sau tự chủ thì cơ cấu các khoản chi đang dần đạt đến độ hài hòa nhất định và không biến động nhiều trong giai đoạn 2017 – 2018.

Một phần của tài liệu Tăng cường công tác quản lí tài chính tại trường đại học sư phạm kỹ thuật TP HCM trong điều kiện tự chủ (Trang 62 - 66)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(104 trang)