TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ CHỦ
2.4. Đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm Kỹ
2.4.1. Những kết quả đạt được
Trường được thí điểm tự chủ từ 30/06/2017 là cột mốc mà nhà trường sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực, phản ứng tốt trước các tác động của thị trường luôn thay đổi và những yêu cầu mới của thời đại. Qua nghiên cứu BCTC của nhà trường giai đoạn 2014 - 2018 đã chứng minh nguồn thu sự nghiệp của nhà trường tăng lên hàng năm, đặc biệt sau khi tự chủ thì nguồn thu sự nghiệp tăng nhanh, nguyên nhân không chỉ do tăng học phí bởi lẽ nếu học phí tăng nhưng không đi cùng với sự đầu tư mạnh mẽ vào CSVC để nâng cao chất lượng đào tạo (cơ sở vật chất cho các phòng thực tập, thí nghiệm, phòng học cũng được đầu tư lớn), sự đa dạng hóa ngành nghề và hình thức đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội thì số lượng sinh viên đăng ký vào trường chắc chắn sẽ tỷ lệ nghịch với mức tăng học phí. Tuy nhiên, như đã phân tích ở mục 2.2.1 ta thấy rõ khoản thu học phí đại học chính quy chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn huy động của nhà trường, điều đó cho thấy nhà trường đang đi đúng hướng trên con đường TCTC của mình.
Chúng ta cùng nhìn lại những kết quả đạt được sau 2 năm thực hiện TCTC:
- Mở rộng chương trình đào tạo: Nhà trường đang tổ chức triển khai xây dựng chương trình đào tạo mới 132 tín chỉ và 125 tín chỉ. Nhiều chương trình đào tạo đại học mới theo xu thế hội nhập được mở trong 2 năm học gần đây: Thiết kế đồ họa, Quản trị nhà hàng và dịch vụ ăn uống, Quản lý xây dựng, Kiến trúc, Năng
72
lượng tái tạo, Robot và trí tuệ nhân tạo, Hệ thống kỹ thuật công trình xây dựng, Kinh doanh quốc tế, Công nghệ vật liệu dệt may, Kỹ nghệ gỗ và nội thất. Điểm đáng lưu ý là tất cả những ngành mở mới đều tuyển đủ số lượng sinh viên nhập học NV1 (trường không xét tuyển NV2), kể cả những ngành mới mở trong năm học 2019 - 2020. Xét về khía cạnh tài chính, khi CTĐT đáp ứng được nhu cầu của xã hội, SV ra trường đáp ứng tốt nhu cầu của doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ coi nhà trường là đơn vị cung cấp nguồn nhân lực để doanh nghiệp phát triển, từ đó các doanh nghiệp sẽ đầu tư ngược trở lại cho nhà trường dưới các hình thức: tài trợ học bổng, thiết bị học tập giúp SV có những phòng thí nghiệm, thực hành tốt để nâng cao tay nghề, hỗ trợ chỗ thực tập cho SV,… Đây chính là một trong những yếu tố
làm tăng vị thế của nhà trường, đồng thời tăng nguồn thu tài chính của nhà trường trong điều kiện TCTC.
- Công tác tư vấn tuyển sinh: nhà trường có nhiều sáng kiến đi đầu trong việc tư vấn tuyển sinh, đa dạng hóa các hình thức tư vấn tuyển sinh: tư vấn online xuyên đêm, tư vấn cà phê, tư vấn trà sữa… cộng với sự quan tâm sâu sắc và hỗ trợ của nhà trường đến các em học sinh vùng sâu, vùng xa, các tỉnh, nhà trường đã thu hút được rất nhiều thí sinh từ các trường chuyên ở các tỉnh thành, có được sự yêu mến và tin tưởng từ thí sinh và phụ huynh. Tên tuổi ĐH SPKT TPHCM đã được mang đến mọi miền đất nước. Xét về khía cạnh tài chính thì khi làm tốt công tác tuyển sinh, nhà trường sẽ tìm được lực lượng đầu vào có chất lượng giúp tăng nguồn thu học phí – nguồn thu cốt lõi của bất cứ một cơ sở GDĐH nào. Đi cùng với số lượng đầu vào tăng cao thì điểm chuẩn xét tuyển cũng tăng, từ đó thương hiệu nhà trường cũng được khẳng định và nhà trường thu hút được lượng SV theo học tại trường dù học phí sau TCTC có tăng cao hơn trước.
- Về công tác cải tạo cơ sở vật chất: nhà trường thành lập phòng dạy học số
(tháng 3/2015) do Trường Đại học Bang Arizona (Hoa Kỳ) tài trợ; cải tạo nâng cấp hội trường; đầu tư xây dựng công trình cấp, thoát nước và xử lý nước thải; đầu tư xây dựng công trình nhà học và xưởng thực hành khu F1; sửa chữa cải tạo tầng hầm Tòa nhà trung tâm thành Thư viện Chất lượng cao, Góc sẻ chia,…; sửa chữa cải tạo phòng học khu A, lắp máy lạnh và thay trần, sàn phòng học; sửa chữa cải tạo Thư
73
viện khu A; sửa chữa cải tạo và lắp máy lạnh phòng học khu B, xây dựng sân cỏ nhân tạo, nhà mái vòm,…
- Về công tác truyền thông: Việc thành lập phòng Truyền thông (tháng 10/2016) và hình thành UTE TV – kênh truyền hình đầu tiên của một trường đại học tại Việt Nam (tháng 7/2017) là bước đổi mới đột phá trong công tác truyền thông của nhà trường. Đây là điểm nhấn được các cấp trong ngành đánh giá cao và các trường đại học đến tham quan, học hỏi. Hiệu quả truyền thông được thấy rõ thông qua chất lượng tuyển sinh và điểm đầu vào của trường nằm trong nhóm đầu các trường khối kỹ thuật tại Việt Nam. Có hàng trăm bài báo, tin tức, video về trường xuất hiện các báo đài như Giáo dục & thời đại, Tuổi trẻ, Thanh niên, VNExpress, Giáo dục, VietnamNet, Người lao động, đài An ninh TV, HTV, VTV, VTC, Truyền hình Nhân dân,…
- Công tác chăm lo cho Sinh viên: công tác chăm lo cho sinh viên và cộng đồng cũng khởi sắc với sự ra đời của các khu tự học, Góc sẻ chia và Thư viện chất lượng cao với chỗ nghỉ trưa, ghế massage cho SV.
- Công tác quan hệ doanh nghiệp: được đưa lên một tầm cao mới với các thỏa thuận hợp tác toàn diện, sự ra đời của Hội đồng tư vấn doanh nghiệp và các hội chợ việc làm đã thu hút sự tham gia của hàng trăm công ty. Ngoài ra, nhà trường đã chính thức thành lập trung tâm nghề nghiệp (Career Center) vào ngày 08/01/2019 nhằm hỗ trợ nâng cao năng lực tìm kiếm việc làm cho sinh viên. Trung tâm nghề nghiệp hoạt động với một đội ngũ tư vấn chuyên nghiệp, luôn thường trực để hỗ trợ sinh viên định hướng nghề nghiệp, chuẩn bị hồ sơ xin việc hoàn chỉnh, tổ chức tham quan doanh nghiệp, kết nối các cơ hội thực tập và tìm kiếm việc làm, tổ chức huấn luyện kỹ năng mềm cho sinh viên.
- Công tác kiểm định chất lượng giáo dục: Nhà trường đã được kiểm định chất lượng theo các tiêu chí của Bộ GD&ĐT vào tháng 11/2016 do trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục – Đại học quốc gia Tp.HCM (CEA) với mức đạt 86.89%.
Ngoài ra, tính đến thời điểm này, nhà trường đã được tổ chức AUN-QA đánh giá 11 chương trình đào tạo, cho thấy rằng chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, thương hiệu của nhà trường tiếp tục được khẳng định không những trong nước mà
74
vươn tầm khu vực. Theo kế hoạch, cuối năm 2020 trường sẽ được đánh giá cấp cơ sở giáo dục theo tiêu chuẩn AUN-QA.
- Công tác quan hệ quốc tế: Công tác quan hệ quốc tế cũng được đẩy mạnh với sự hợp tác chặt chẽ với ASU trong dự án HEEAP, BUILD-IT, với USAID trong dự án COMET, với các đại học trong trong khu vực trao đổi GV và SV với ĐH Sunderland – UK, Tongmyong – Hàn Quốc, Northampton – UK, Middlesex – UK, Pearson Education và TEG Singapore trong hợp tác đào tạo quốc tế.
- Tỷ lệ việc làm của sinh viên sau khi ra trường: để đạt hiệu quả về mặt tài chính thì nhà trường phải làm hài lòng sinh viên và một trong những thước đo đánh giá mức độ hài lòng của SV để họ sẵn sàng chi trả mức học phí cao cho nhà trường đó chính là vấn đề việc làm sau tốt nghiệp. Tác giả sử dụng kết quả khảo sát SV sau 3 tháng tốt nghiệp đợt tháng 7, 9/2018 của phòng Đảm bảo chất lượng (ĐBCL) thực hiện trong khoảng thời gian từ ngày 07/11 đến 30/11/2018. Qua nghiên cứu kết quả
khảo sát, tác giả rút ra một số kết luận sau:
+ Về cơ bản, chương trình đào tạo của nhà trường đã đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp, tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp được thể hiện qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.10: Tỷ lệ sinh viên có việc làm. Nguồn: [31]
75
Tỷ lệ sinh viên có việc trước tốt nghiệp là 43.5%, sau 1 tháng là 19.2%, sau 3 tháng là 6.7%. Tính đến thời điểm khảo sát, có 69.4% SV đã có việc làm. Bên cạnh đó, trong số gần 31% SV chưa có việc làm thì có 14% SV chưa có việc làm là do sinh viên có dự định học nâng cao hoặc các dự định khác. Trong số
những SV đã có việc làm thì có 83.6% SV làm đúng với chuyên ngành đã học.
+ Thu nhập bình quân hàng tháng của SV tốt nghiệp: Có 1.3% SV tốt nghiệp có mức thu nhập dưới 4 triệu/tháng; 9.3% SV có thu nhập từ 4 – 6 triệu/tháng, 39.8% SV có thu nhập từ 6 – 8 triệu/tháng, 36.3% SV có thu nhập từ 8 – 10 triệu/tháng và có đến 13.3% SV thu nhập trên 10 triệu/tháng.
Biểu đồ 2.11: Mức lương bình quân của SV sau khi tốt nghiệp. Nguồn: [31]
Xét về khía cạnh học hỏi để phát triển, để có được kết quả SV tốt nghiệp có
việc làm như số liệu khảo sát, hàng năm nhà trường đã thu hút và đào tạo đội ngũ giảng viên giỏi, nhân viên phục vụ chuyên nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo để SV tốt nghiệp dễ kiếm việc làm sau khi ra trường. Ngoài ra, sự hình thành của Phòng Quan hệ doanh nghiệp và Trung tâm nghề nghiệp cũng được đánh giá là một bước đi đúng của nhà trường trong việc tích cực tạo cầu nối để sinh viên ngày càng gần hơn với doanh nghiệp thông qua những hội chợ việc làm và cũng
76
nhằm xây dựng những CTĐT gắn kết với nhu cầu thực tiễn của xã hội và doanh nghiệp, nhằm hướng đến mục đích cuối cùng là nâng cao chất lượng và mở rộng đầu ra cho sinh viên.