Giải pháp quản lý nguồn thu

Một phần của tài liệu Tăng cường công tác quản lí tài chính tại trường đại học sư phạm kỹ thuật TP HCM trong điều kiện tự chủ (Trang 90 - 93)

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH

3.2. Giải pháp tăng cường quản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm Kỹ

3.2.1. Giải pháp quản lý nguồn thu

Trong điều kiện nguồn NSNN ngày càng thu hẹp do TCTC, yêu cầu đặt ra đối với nhà trường chính là việc đa dạng hóa và tăng cường thu hút các nguồn thu ngoài ngân sách một cách có hiệu quả. Công tác quản lý nguồn thu phải được thực hiện theo nguyên tắc linh hoạt và minh bạch, trên cơ sở khai thác tối đa các nguồn lực và các hoạt động liên doanh liên kết. Đồng thời, nhà trường cần có cơ chế khuyến khích việc đa dạng hóa các nguồn thu từ hoạt động chuyển giao khoa học kỹ thuật, tư vấn đào tạo và sản xuất kinh doanh. Tác giả đề xuất các giải pháp sau trong việc quản lý nguồn thu:

81

- Đa dạng hóa các hình thức thu học phí. Học phí là nguồn thu lớn nhất của Nhà trường. Tuy nhiên, hiện nay nhà trường chỉ nhận học phí qua 2 hình thức: thu trực tiếp tại Phòng Kế hoạch tài chính hoặc chuyển khoản vào tài khoản trường.

Nhà trường nên có phương án thu học phí qua Internet Banking hoặc thanh toán học phí trực tuyến để đa dạng hóa hình thức thu, giúp cho việc thanh toán học phí của sinh viên được diễn ra nhanh chóng, hiệu quả, tiết kiệm thời gian, công sức của SV lẫn chuyên viên phòng KHTC.

- Đa dạng hóa các hoạt động dịch vụ phụ trợ. Nhà trường cần rà soát lại CSVC hiện có để lập đề án kinh doanh, liên doanh liên kết, cho thuê đất, CSVC chưa cần dùng để tăng nguồn thu cho nhà trường theo mô hình xã hội hóa, ký hợp đồng dài hạn với các doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp tự bỏ chi phí đầu tư và đề nghị họ cam kết trả tiền trước hạn như trường hợp nhà xe sinh viên, cà phê Synary, GS25, Ministop,… Trong thời gian tới nên mở rộng các hoạt động dịch vụ phụ trợ thông qua mô hình các khu vui chơi giải trí có thu phí, phòng tập GYM, nhà trẻ, các điểm truy cập internet hoặc thư quán,…

- Nghiên cứu thành lập các doanh nghiệp trực thuộc các đơn vị dựa trên việc nghiên cứu kỹ lưỡng về tiềm lực con người và tiềm năng thương mại hóa các sản phẩm đầu ra. Ví dụ: Công ty Thanh niên trực thuộc Đoàn Thanh niên với các mảng kinh doanh về: rửa – sửa xe, thay nhớt; sửa chữa, thay thế linh kiện điện tử,…

- Chú trọng nguồn thu từ hoạt động NCKH. Nhà trường cần có chính sách khuyến khích NCKH đối với GV, SV. Trong các năm qua, nguồn thu từ NCKH và chuyển giao công nghệ là rất thấp, với thế mạnh của nhà trường, cần xây dựng các chính sách khuyến khích SV tham gia NCKH và khởi nghiệp ngay khi ngồi trên ghế nhà trường. Bên cạnh đó, khuyến khích GV chủ động đăng ký tham gia các dự án, đề tài NCKH trọng điểm, cấp Nhà nước, cấp Bộ để thương mại hóa và thực hiện các dự án theo đặt hàng của các địa phương, tăng cường việc thưởng cho các cá nhân có thành tích nghiên cứu vượt trội. Thành lập tổ nghiên cứu đầu ngành với chức năng hàng năm lựa chọn các đề tài có tính thực tiễn cao có khả năng áp dụng để chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, nên tập trung vào các sản phẩm thuộc thế mạnh của các trường nhằm nghiên cứu thực hiện triển khai và kiểm soát chất lượng các sản phẩm

82

nghiên cứu theo một quy trình thích hợp nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất cho sản phẩm nghiên cứu.

- Tăng cường tuyển sinh vào các chương trình đào tạo chất lượng cao, các chương trình liên kết đào tạo quốc tế, hệ sau đại học, hệ vừa làm vừa học và hệ văn bằng 2. Trong đó, các chương trình đào tạo chất lượng cao và chương trình liên kết đào tạo quốc tế nhà trường được tự xây dựng mức học phí thu đủ bù chi và có tích lũy; các chương trình hệ sau đại học, hệ vừa làm vừa học và hệ văn bằng 2 thường tổ chức giảng dạy vào các buổi tối trong tuần, do đó giúp sử dụng hiệu quả CSVC và đáp ứng nhu cầu nâng cao trình độ đối với những người đang có công việc hoặc sinh viên ĐH mới ra trường. Đồng thời, đào tạo hệ sau đại học và các chương trình liên kết quốc tế còn giúp nâng cao uy tín của nhà trường trong xã hội và nâng cao vị thế của nhà trường trên trường quốc tế. Mục đích cuối cùng của giải pháp này là giúp tăng cường nguồn thu từ học phí cho nhà trường.

- Đa dạng hóa các ngành nghề, chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội.

Thực tế trong 2 năm học gần đây, nhà trường đã nhanh chóng mở các ngành nghề hot trong xã hội: Năng lượng tái tạo, Kỹ nghệ gỗ và nội thất, Robot và trí tuệ nhân tạo, Công nghệ vật liệu…và nhận được phản hồi rất tích cực từ xã hội, đó là nhà trường tuyển đủ chỉ tiêu ngay trong năm học mà ngành đó được mở mới. Vì vậy, nhà trường cần tiếp tục nghiên cứu mở rộng ngành nghề đào tạo, kể cả phương thức đào tạo (liên kết địa điểm với những trường bạn để SV có thể học những môn đại cương ở những cơ sở đào tạo gần nhà, tạo sự thuận tiện cho người học) để tạo tăng nguồn thu cho nhà trường.

- Tăng cường vận động nguồn tài trợ từ các doanh nghiệp và các nhà hảo tâm. Hoạt động này đã được chú trọng trong 2 năm gần đây và cần tiếp tục phát huy trong thời gian tới. Theo tác giả, cách tốt nhất để vận động nguồn tài trợ theo quan điểm QLTC đó là tất cả những khoản tài trợ trước đó phải được công khai hiệu quả

sử dụng. Thực tế, nhà trường luôn thể hiện triết lý Nhân bản khi cấp nhiều học bổng cho SV có hoàn cảnh khó khăn: hỗ trợ học phí, máy tính đã qua sử dụng, xe đạp, hỗ trợ việc làm thêm ngoài giờ học, các nhu yếu phẩm cần thiết tại Góc sẻ chia, xe lăn điện cho SV khuyết tật,… Hàng năm, nhà trường tổ chức 2 đợt gặp gỡ SV khó khăn

83

để lắng nghe và chia sẻ với SV nhằm tìm hướng hỗ trợ hữu hiệu nhất giúp các em hoàn thành quá trình học tập của mình. Tất cả những hoạt động đó được truyền thông rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng để cho xã hội, doanh nghiệp dễ dàng giám sát. Từ đó tạo niềm tin và giúp nhà trường dễ dàng vận động trong những năm học tiếp theo.

Một phần của tài liệu Tăng cường công tác quản lí tài chính tại trường đại học sư phạm kỹ thuật TP HCM trong điều kiện tự chủ (Trang 90 - 93)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(104 trang)