Nhiệm vụ và quyền hạn của đảng viên

Một phần của tài liệu Bai 3 Dieu le Dang (Trang 52 - 85)

III. Một số nội dung

2. Nhiệm vụ và quyền hạn của đảng viên

Tại điều 2 Điều lệ Đảng quy định:

đảng viên có 4 nhiệm vụ.

Nhiệm vụ 1:

Tuyệt đối trung thành với mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước;

hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phục tùng tuyệt đối sự phân công và điều động của Đảng.

Nhiệm vụ 2:

Không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ kiến thức, năng lực công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, có lối sống lành mạnh; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ, quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác. Chấp hành quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm.

Nhiệm vụ 3:

Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân; tích cực tham gia công tác quần chúng, công tác xã hội nơi làm việc và nơi ở; tuyên truyền vận động gia đình và nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Nhiệm vụ 4:

Tham gia xây dựng, bảo vệ đường lối, chính sách và tổ chức của Đảng; phục tùng kỷ luật, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên tự phê bình và phê bình, trung thực với Đảng; làm công tác phát triển đảng viên; sinh hoạt đảng và đóng đảng phí đúng quy định”.

Để thực hiện 4 nhiệm vụ trên, cần nắm vững những nội dung cơ bản

sau:

Một là, nhiệm vụ hàng đầu của người đảng viên hiện nay là phải nói, viết và làm theo NQ, thực hiện đúng Cương lĩnh, ĐLĐ và pháp luật của NN; kiên định những vấn đề về quan điểm có tính nguyên tắc của Đảng;

Hai là, mọi đảng viên phải hiểu rõ thời cơ và thách thức để chóp lấy thời cơ, đẩy lùi thách thức;

Ba là, đất nước chuyển sang thời kỳ mới – đẩy mạnh CNH, HĐH đòi hỏi đảng viên phải nâng cao trình độ về mọi mặt để thực hiện tốt vai trò tiên phong gương mẫu;

Bốn là, có mối quan hệ mật thiết với nhân dân;

Năm là, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước, chống lại mọi sự phá hoại của kẻ thù;…

Thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng, bảo đảm sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, tích cực làm công tác phát triển đảng viên.

- Quyền của đảng viên:

Tại điều 3 Điều lệ Đảng quy định đảng viên có các quyền sau:

- Quyền thứ nhất:

Được thông tin và thảo luận các vấn đề về Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; biểu quyết công việc của Đảng.

Quyền được thông tin của đảng viên:

Định kỳ hằng tháng, theo hướng dẫn của BTGTW và cấp ủy cấp trên, các cấp ủy đảng thông tin cho đảng viên về:

Tình hình và nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị;

Các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của NN;

Thời sự trong nước và thế giới phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, đặc điểm của đảng viên, góp phần nâng cao nhận thức, tạo điều kiện cho đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

- Quyền thứ hai:

Ứng cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.

Quyền của đảng viên

trong việc ứng cử, đề cử và bầu cử:

Quyền ứng cử:

Tất cả đảng viên chính thức đều có quyền ứng cử để được bầu vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng ở các cấp, dù đảng viên đó là đại biểu hay không là đại biểu của đại hội đảng.

Đảng viên không phải là đại biểu của đại hội ứng cử vào cấp ủy từ cấp huyện và tương đương trở lên, chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc đại hội phải hoàn chỉnh hồ sơ ứng cử nộp cơ quan tổ chức của cấp ủy cấp triệu tập đại hội. Hồ sơ ứng cử gồm có:

- Đơn xin ứng cử.

- Bản khai lý lịch được xác nhận của cấp ủy cơ sở.

- Bản nhận xét của cấp ủy cơ sở.

Cấp ủy cơ sở nơi đảng viên sinh hoạt có trách nhiệm xác nhận, nhận xét về người ứng cử;

Cấp ủy viên mỗi cấp có quyền ứng cử để bầu vào ban thường vụ, Uỷ ban kiểm tra của cấp đó; Uỷ viên thường vụ mỗi cấp có quyền ứng cử để được bầu làm bí thư, phó bí thư cấp ủy cấp đó;

Trường hợp cấp ủy chỉ bầu bí thư, phó bí thư không bầu ban thường vụ thì cấp ủy viên có quyền ứng cử để được bầu làm bí thư, phó bí thư;

Chỉ có đảng viên chính thức (ở đại hội đảng viên) và đại biểu chính thức (ở đại hội đại biểu) mới có quyền ứng cử để được bầu làm đại biểu đi dự đại hội đảng bộ cấp trên trực tiếp.

Quyền đề cử:

Ở đại hội đảng viên: Đảng viên chính thức, đảng viên sinh hoạt tạm thời và đảng viên dự bị đều có quyền đề cử đảng viên chính thức của đảng bộ, chi bộ để được bầu làm đại biểu dự đại hội đảng bộ cấp trên hoặc để được bầu vào cấp ủy cấp mình;

Ở đại hội đại biểu: Chỉ đại biểu chính thức mới có quyền đề cử những đảng viên là đại biểu và những đảng viên không phải là đại biểu của đại hội đảng bộ cấp mình tham gia cấp ủy; đề cử đại biểu chính thức của đại hội cấp mình để được bầu dự ĐH đảng bộ cấp trên;

Khi đề cử đảng viên không phải là đại biểu của đại hội đại biểu vào cấp ủy, người đề cử phải báo cáo bằng văn bản về sơ yếu lý lịch, tư cách của người được đề cử với cơ quan chuẩn bị nhân sự của đại hội và phải được sự đồng ý của người đó;

Cấp ủy cấp triệu tập đại hội có trách nhiệm chuẩn bị nhân sự cấp ủy khóa mới.

Đoàn Chủ tịch đại hội báo cáo danh sách nhân sự do cấp ủy cấp triệu tập đại hội chuẩn bị để đại hội tham khảo trước khi thông qua danh sách bầu cử.

Quyền bầu cử:

Chỉ có đại biểu chính thức của đại hội đại biểu các cấp và đảng viên chính thức của đại hội đảng viên mới có quyền bầu cấp ủy cấp mình và bầu đại biểu dự đại hội đảng bộ cấp trên.

Ở đại hội đảng viên, đảng viên sinh hoạt tạm thời và đảng viên dự bị không có quyền bầu cử.

- Quyền thứ ba:

Phê bình, chất vấn về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức; báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời.

Quyền của đảng viên trong việc phê bình, chất vấn t/c đảng và đảng viên; báo cáo kiến nghị với cơ quan có trách nhiệm.

Đảng viên được phê bình, chất vấn, báo cáo, kiến nghị trực tiếp hoặc bằng văn bản trong phạm vi t/c của Đảng về hoạt động của t/c đảng và đảng viên ở mọi cấp, về những vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của t/c đảng hoặc chức trách, nhiệm vụ, phẩm chất đạo đức của đảng viên đó; chịu trách nhiệm trước tổ chức đảng về ý kiến của mình;

Khi nhận được ý kiến phê bình, chất vấn, báo cáo, kiến nghị, t/c đảng và đảng viên có trách nhiệm phải trả lời, chậm nhất là 30 ngày làm việc đối với tổ chức cơ sở đảng và đảng viên; 60 ngày làm việc đối với cấp huyện, tỉnh và tương đương và 90 ngày làm việc đối với cấp Trung ương;

Những trường hợp phức tạp cần phải kéo dài hơn thời gian quy định trên thì phải thông báo cho t/c đảng và đảng viên biết lý do.

- Quyền thứ tư:

Trình bày ý kiến khi tổ chức đảng nhận xét, quyết định công tác hoặc thi hành kỷ luật đối với mình.

Được thông báo ý kiến nhận xét của cấp ủy nơi làm việc và nơi cư trú khi xem xét bổ nhiệm, giới thiệu bầu cử;

Được trình bày ý kiến với tổ chức đảng, cấp ủy đảng xem xét thi hành kỷ luật đối với mình.

Đảng viên dự bị có các quyền trên đây, trừ quyền biểu quyết, ứng cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo của Đảng.

Một phần của tài liệu Bai 3 Dieu le Dang (Trang 52 - 85)

Tải bản đầy đủ (PPT)

(126 trang)