* Chất ô nhiễm là các hóa chất , tác nhân vật lý, sinh học ở nồng độ hoặc mức độ nhất định, tác động xấu đến chất lượng môi trường.
* Ô nhiễm, gây độc môi trường nước
* Ô nhiễm, gây độc môi trường không khí
* Ô nhiễm, gây độc môi trường đất Nhiễm bẩn (contamination)
Độc chất học hóa học: khoa học nghiên cứu các hóa chất độc hại và phương thức gây độc của chúng
Số các chất độc hóa học là rất nhiều. Trong rất nhiều trường hợp khó có thể nói một chất đặc biệt nào đó là độc hay không.
Một số hóa chất quan trọng, sử dụng nhiều đã được kiểm tra
chặt chẽ nhưng không chứng minh được đặc tính không độc của chúng.
Nhiều kim loại thể hiện như các chất nguy hiểm đối với môi
trường lại là các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết (ở dạng vết) cho sự phát triển bình thường của con người và động vật (Al, Sb, As, Ba, Be, Bi, Cd, Co, Cu, Ce, In, Pb, Hg, Mo, Ag, Te, Tl, S, Ti, W, U và Zn).
Schwartz đã sử dụng thuật ngữ “cửa sổ nồng độ” (concentration window) để đưa ra các đường ranh giới của chúng, cụ thể:
a) Nồng độ cần thiết.
b) Nồng độ thiếu (thấp hơn nồng độ a), gây rối loạn sự trao đổi chất.
c) Nồng độ gây độc (cao hơn nồng độ a) gây các hậu quả tai hại.
Thậm chí các nguyên tố nổi tiếng về độc hại như As, Pb và Cd cũng không thể thiếu được (ở lượng vết) cho sự phát triển của động vật
Các chất độc cơ thể được phân loại tương ứng với tác dụng và chức năng của chúng. Có thể phân loại theo Mutagens, các chất gây ung thư (carcinogens) v.v...
Hoặc các tạp chất của thức ăn, HCBVTV, kim loại nặng, cacbonyl kim loại các hợp chất hữu cơ Clo v.v...
Theo số liệu của chương trình môi trường Liên hợp quốc (United Nations Environment Programme) hiện nay đã có 4 triệu hóa chất khác nhau và hàng năm có thêm 30 nghìn chất mới được tìm thêm ra. Trong số các chất trên có 60.000 - 70.000 hóa chất được sử dụng
rộng rãi. Bên cạnh tác dụng của chúng làm cho sản
xuất, mức sống và sức khỏe được tăng lên, nhiều chất trong số đó là những chất có tiềm năng độc hại
Tính độc của một chất độc phụ thuộc vào các yêú tố sau:
• Đặc tính của chất đó đối với sinh vật.
• Các chất dễ tan trong nước dễ gây độc hơn.
• Nồng độ (hay liều lượng) của chất độc.
• Tác động tổng hợp của nhiều chất:
Cách tính nồng độ cho phép: C1/T1 + C2/T2 + C3 /T3 + ... < 1 trong đó: C1, C2, C3...- nồng độ từng chất trong môi trường
T1, T2, T3... - nồng độ tối đa tương ứng khi tác động riêng rẽ.
• Thời gian tiếp xúc với chất độc càng lâu càng nguy hiểm.
• Nhiệt độ môi trường: thường nhiệt độ càng cao, khả năng gây độc càng lớn nhưng có một vài trường hợp thì ngược lại.
Ngưỡng độc.
Trị số ngưỡng giới hạn (threshold limit value = TLV)
Tính bền vững của độc chất trong môi trường Tính bền vững của độc chất trong môi trường
Nhiều chất hóa học có thời gian bán hủy (half life) rất dài hay rất khó bị oxy hóa hoặc chuyển hoá sinh hóa hay sinh học, do đó tồn tại rất bền trong tự nhiên.
Các yếu tố làm ảnh hưởng đến tính độc của Các yếu tố làm ảnh hưởng đến tính độc của
chất độc, độc tố chất độc, độc tố
Việc dự đoán và dự báo những ảnh hưởng có hại của hóa chất đối với con người và các quần thể sinh vật trong hệ sinh thái là một việc hết sức khó khăn vì nó
chịu tác động bởi nhiều yếu tố, chẳng hạn: tuổi tác, giới tính, sức khỏe, điều kiện sống và nhiều yếu tố khác
góp phần vào kết quả cuối cùng.
a. Liều lượng và thời gian tiếp xúc với hóa chất độc b. Các yếu tố sinh học
c. Các nhân tố môi trường ảnh hưởng đến hoạt tính của độc chất
Độc chất tự nhiên Độc chất tự nhiên
Trung bình, một người tiêu thụ 30 tấn thức ăn suốt cuộc đời.
Riêng khẩu phần ăn mỗi ngày bao gồm hỗn hợp hàng ngàn chất hóa học, trong đó hơn 99% là chất dinh
dưỡng (bột đường, chất đạm, chất béo, vitamin, chất khoáng...) luôn rất được quan tâm.
Dưới 1% chất còn lại gồm các độc chất tự nhiên, các chất gây ô nhiễm và chất phụ gia, là những chất phản dinh dưỡng. Chúng rất ít được chú ý, trừ khi có...
những hậu quả đáng tiếc xảy ra.
Độc chất tự nhiên Độc chất tự nhiên
Các chất phản dinh dưỡng được "khoanh vùng" :
* Độc chất có nguồn gốc vi sinh vật:
* Độc chất có nguồn gốc hóa học:
* Độc chất có sẵn trong tự nhiên:
Đối với con người, độc tố tự nhiên tác động ở nhiều mức độ:
Gây cản trở hấp thu, sử dụng các chất dinh dưỡng, dẫn đến tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng do nhóm chất này có tác động ngược lại các chất dinh dưỡng.
- Gây nên tình trạng mẫn cảm (dị ứng) - Gây ngộ độc cấp tính (tức thời):
- Gây ngộ độc mạn tính (tích lũy):
Hóa chất
Chất thải nguy hại HCBVTV
Những nguy cơ liên quan đến chế độ ăn uống Nguy cơ từ việc phát tán ra môi trường
Các chất phá vỡ tuyến nội tiết
Các con đường nhiễm độc HCBVTV
Cơ chế hoạt động:
Cơ chế hoạt động:
1. Liên kết và hoạt hoá các chất tiếp nhận hoóc môn.
2. Liên kết và khử hoạt tính của các chất tiếp nhận hoóc môn, từ đó ngăn không cho các hoóc môn tự nhiên liên kết với nhau.
3. Làm giảm tỉ lệ chuyển hóa các hoóc môn, 4. Làm giảm tỉ lệ sản sinh ra hoóc môn.
5. Ảnh hưởng đến số lượng tế bào của các chất tiếp nhận hoóc môn.