XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN - PHƯƠNG PHÁP THỬ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ DƯỢC LIỆU

Một phần của tài liệu GIÁO TRÌNH LÝ THUYẾT DƯỢC LIỆU (Trang 21 - 35)

XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN - PHƯƠNG PHÁP THỬ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ DƯỢC LIỆU

MỤC TIÊU

1. Nêu được các nội dung cần có và yêu cầu của một tiêu chuẩn chất lượng về dược liệu.

2. Trình bày được phương pháp chung để xây dựng một tiêu chuẩn chất lượng cho một dược liệu.

3. Phân tích được các phương pháp đánh giá dược liệu.

4. Ý thức được tầm quan trọng của việc xây dựng tiêu chuẩn và đánh giá dược liệu.

NỘI DUNG

1. XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN - PHƯƠNG PHÁP THỬ CHO DƯỢC LIỆU 1.1. Sự cần thiết phải xây dựng tiêu chuẩn và phương pháp thử cho dược liệu

Yêu cầu cao nhất của một dược phẩm khi sử dụng trên con người là tính an toàn và hiệu quả trị liệu của nó. Một dược phẩm tốt phải là một dược phẩm không có những tác dụng có hại (do bản thân của thuốc hay do không khống chế dược thành phần của thuốc, do các tạp chất), có hiệu quả trị liệu cao và ổn định (theo thời gian, trên các lô sản xuất khác nhau, trên các cá thể khác nhau) đối với người sử dụng.

Tác dụng của một dược liệu, một thuốc đi từ dược liệu được quyết định bởi thành phần các chất có trong dược liệu đó. Thành phần hóa học của dược liệu thường rất phức tạp bao gồm những chất mang lại tác dụng dược lý cho vị thuốc (các hoạt chất); những chất có tác dụng hỗ trợ, những chất không có tác dụng hay cả những chất mang lại những tác dụng không mong muốn cho dược liêu. Sự tồn tại của những chất này trong dược liệu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Có những yếu tố nội tại của cây thuốc (loài, dưới loài, các chửng hóa học, các giống cây trồng …), cũng có các tác nhân bên ngoài (địa lý phân bố, điều kiện phát triển, thời gian thu hái, phương pháp chế biến, bảo quản …) làm thay đổi thành phần và/ hoặc tỉ lệ tương đối của chúng trong dược liệu dẫn đến tác dụng trị liệu hay tác dụng phụ của dược liệu có thể thay đổi. Những thay đổi này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả trị liệu và tính an toàn của dược liệu hay sản phẩm đi từ dược liệu đối với người sử dụng.

Để đánh giá và thống nhất được các chuẩn mực đánh giá cho một nguyên liệu có thể sử dụng làm thuốc hay một thành phẩm có thể đưa ra thị trường, người ta phải xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng, đồng thời xây dựng các phương pháp thử để đánh giá các tiêu chuẩn đó. Đây là một yêu cầu rất lớn đối với ngành y tế nhằm đảm bảo tính an toàn, hiệu quả và chất lượng của thuốc trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng, với đòi hỏi chất lượng ngày càng cao trong xu thế đi lên của xã hội. Đây cũng là đòi hỏi cấp bách của thị trường đối với các nhà sản xuất kinh doanh trong bối cảnh thị trường đang được khu vực hóa, toàn cầu hóa.

Trong ngành y tế, tiêu chuẩn của các nguyên liệu làm thuốc, của các dạng chế phẩm được cơ quan quản lý nhà nước cao nhất ban hành là các tiêu chuẩn được tập

22

hợp trong bộ Dược điển Việt Nam do Bộ Y tế ban hành. Tuy nhiên, phải hiểu rằng đây chỉ là những tiêu chuẩn tối thiểu mà các nguyên liệu làm thuốc cần phải đạt để có thể được coi như là một nguyên liệu làm thuốc.

Số lượng các dược liệu được sử dụng làm thuốc lưu hành trên thị trường khá lớn. Tuy nhiên, không phải tất cả các nguyên liệu trên đều có tiêu chuẩn. Vì nhiều lý do, chỉ có một số tương đối hạn chế của những dược liệu thông dụng, được sử dụng nhiều, có độc tính cao hay có giá trị cao là có tiêu chuẩn.

Số lượng các chuyên luận nguyên (dược liệu và hóa dược) trong các Dược điển Việt Nam từ Dược điển I đến Dược điển IV được thống kê như sau:

- Dược điển Việt Nam I tập 1 - Thuốc hiện đại (1971) có 120 dược liệu, 269 chuyên luận hóa dược.

- Dược điển Việt Nam I tập 2 - Thuốc cổ truyền (1983) có 236 chuyên luận dược liệu.

- Dược điển Việt Nam II tập 1(1990): 8 chuyên luận dược liệu và 39 chuyên luận hóa dược.

- Dược điển Việt Nam II tập 2 (1991): 63 chuyên luận dược liệu và không có chuyên luận hóa dược.

- Dược điển Việt Nam II tập 3 (1994): 70 chuyên luận dược liệu và 84 chuyên luận hóa dược.

- Dược điển Việt Nam III (2002): 276 chuyên luận dược liệu và 342 chuyên luận hóa dược.

- Dược điển Việt Nam IV (2009): 314 chuyên luận dược liệu và 365 chuyên luận hóa dược.

Trong thực tế, số lượng dược liệu mà các cơ sở sản xuất sử dụng làm thuốc cao hơn nhiều so với số lượng đã ghi trong Dược điển. Trong xu thế cạnh tranh, các cơ sở cũng có nhu cầu có các các tiêu chuẩn riên cho các sản phẩm của mình, cao hơn các tiêu chuẩn chung, phản ánh tốt hơn chất lượng của sản phẩm. Vì vậy việc xây dựng tiêu chuẩn và phương pháp kiểm nghiệm cho dược liệu và các chế phẩm từ nguồn tài nguyên thiên nhiên là yêu cầu thường xuyên được đặt ra không chỉ cho các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Y tế) mà còn cho các cơ sở sản xuất dược phẩm.

1.2. Nội dung và yêu cầu của một tiêu chuẩn dược liệu 1.2.1. Nội dung của một tiêu chuẩn dược liệu

Tiêu chuẩn chất lượng của một dược liệu gồm nhiều chỉ tiêu khác nhau. Tùy theo trình độ phát triển khoa học của từng thời kỳ, từng quốc gia và theo từng dược liệu cụ thể mà các nội dung của tiêu chuẩn, các yêu cầu của những chỉ tiêu có thể thay đổi.

Nhìn chung, các chuyên luận về nguyên liệu làm thuốc có nguồn gốc tự nhiên gồm các nội dung chủ yếu sau:

- Định nghĩa:

+ Tên thông dụng của dược liệu, tên khoa học của dược liệu.

23 + Định nghĩa dược liệu, tên thông thường và tên khoa học của loài cây cung cấp dược liệu đó.

- Đặc điểm cảm quan: mô tả các đặc điểm hình thái, thể chất, màu sắc, mùi, vị của dược liệu.

- Đặc điểm vi học: mô tả các đặc điểm hiển vi của dược liệu: đặc điểm của vi phẫu và bột dược liệu

- Các hằng số vật lý:

Yêu cầu về các chỉ số vật lý, hóa học của nguyên liệu (thường là các phần lấy ra từ nguyên liệu thực vật như chất béo, tinh dầu, nhựa, sáp …) thay thế cho các đặc điểm vi học và một phần các tiêu chuẩn thử tinh khiết của các dược liệu là các cơ quan thực vật.

- Định tính: các phản ứng hóa học hay các phương pháp hóa - lý được dùng để xác định dược liệu.

- Thử tinh khiết: mô tả các yêu cầu về độ tinh khiết của một dược liệu: tạp chất, độ ẩm, độ tro ...

- Xác định hàm lượng: phương pháp xác định hàm lượng hoạt chất hay một nhóm hợp chất trong dược liệu, yêu cầu về hàm lượng cần đạt của dược liệu.

- Chế biến: một số dược liệu có nhiều cách chế biến khác nhau. Dược liệu có thể được quy định cách chế biến chính thức được áp dụng.

- Một số nội dung khác: một số nội dung khác không có tính cách ràng buộc về tiêu chuẩn chất lượng đi kèm trong tiêu chuẩn của một dược liệu như bảo quản, tính vị, quy kinh, công năng, chủ trị, liều dùng …

1.2.2. Yêu cầu chung cho một tiêu chuẩn dược liệu

Một tiêu chuẩn dược liệu một khi được áp dụng sẽ có tính cách pháp lý trong phạm vi mà tiêu chuẩn ấy được chỉ định áp dụng (cơ sở hay quốc gia). Vì thế, khi xây dựng tiêu chuẩn phải cân nhắc kỹ lượng khả năng áp dụng thực tế của những yêu cầu hay giới hạn đặt ra cho từng chỉ tiêu sao cho sát hợp với thực tế trong xu hướng phát triển, nâng cao.

Yêu cầu chung cần phải đạt được của một tiêu chuẩn dược liệu là:

- Xác định được đúng dược liệu, phát hiện được những giả mạo, nhầm lẫn dược liệu.

- Đánh giá đúng được chất lượng của dược liệu

- Đảm bảo được hiệu quả sử dụng và tính an toàn của dược liệu.

Một tiêu chuẩn tốt phải mang các tính sau:

- Tính đại diện: đại diện cho phần lớn các mẫu dược liệu có thể thu được từ cây thuốc.

- Tính hiện đại: áp dụng được các thành tựu khoa học mới để đánh giá tốt hơn chất lượng dược liệu.

- Tính khả thi:

24

+ Các phương pháp đề ra có thể áp dụng được trong điều kiện cơ sở vật chất hiện có của đa số các cơ sở áp dụng tiêu chuẩn.

+ Các quy định, giới hạn của các chỉ tiêu trong tiêu chuẩn phải phù hợp với yêu cầu thực tế.

1.3. Cách thức xây dựng một tiêu chuẩn dược liệu

Việc xây dựng tiêu chuẩn một dược liệu thường qua các bước chính sau đây:

- Chuẩn bị mẫu thử.

- Khảo sát các chỉ tiêu, lập bảng số liệu cho từng chỉ tiêu.

- Xác định giới hạn cho phép cho từng chỉ tiêu, viết tiêu chuẩn.

1.3.1. Chuẩn bị mẫu

Mẫu dược liệu là vấn đề quan trọng đầu tiên cần được tuân thủ chặt chẽ khi tiến hành khảo sát và xây dựng một tiêu chuẩn dược liệu. Các mẫu phải đảm bảo những yêu cầu chủ yếu sau:

- Tính xác thực của mẫu: đúng dược liệu cần xây dựng tiêu chuẩn (đúng tên khoa học, đúng bộ phận dùng).

- Tính đại diện của mẫu: các mẫu khảo sát phải đại diện cho dược liệu được khảo sát về chất lượng, về địa lý phân bố (có lưu tâm tới trữ lượng của dược liệu)

- Đủ lượng mẫu: đủ lượng mẫu cho thực hiện việc khảo sát, chuẩn nhận và làm mẫu lưu, mẫu chuẩn.

1.3.2. Nội dung và yêu cầu của các chỉ tiêu trong tiêu chuẩn dược liệu 1.3.2.1. Định nghĩa

- Tên dược liệu: tên thông dụng nhất của dược liệu. Với dược liệu có nhiều tên gọi khác nhau trên các vùng lãnh thổ khác nhau, tên thường dùng của dược liệu phải chọn là tên phổ biến trên bình diện quốc gia. Các tên phổ biến cho từng miền, từng khu vực rộng lớn có thể được xem xét ghi vào như là một tên khác của dược liệu.

- Tên khoa học của dược liệu: lấy theo tên khoa học chính thức của cây, có thêm danh từ chỉ bộ phận dùng.

+ Định nghĩa dược liệu: xuất xứ của dược liệu; tên khoa học của cây, con cung cấp dược liệu đó; các đặc điểm chính về hình thức của dược liệu có liên quan tới thu hái hay chế biến.

+ Tên cây thuốc: tên phổ biến nhất của cây thuốc.

+ Tên khoa học của cây thuốc: tên gọi chính thức của cây tuân thủ theo luật danh pháp thực vật mới nhất. Có thể cân nhắc ghi thêm các đồng danh được sử dụng phổ biến trước đây.

1.3.2.2. Các đặc điểm cảm quan

- Mô tả các đặc điểm có thể cảm nhận bằng các giác quan để xác định, đánh giá hay phân biệt dược liệu. Chú trọng tới những điểm đặc trưng để nhận diện hay phân biệt với các dược liệu khác có hình thức dễ nhầm lẫn.

25 - Trong nhiều trường hợp có thể phát hiện sự pha lẫn hay giả mạo bằng cách soi mặt cắt dược liệu hay bột dược liệu dưới đèn tử ngoại. Có khi trước khi soi người ta nhỏ thêm trên bột dược liệu một vài loại thuốc thử (kiềm, acid …) để tăng các đặc điểm nhận biết.

1.3.2.3. Các đặc điểm hiển vi

- Là phương pháp đánh giá dựa vào quan sát các đặc điểm của dược liệu dưới kính hiển vi bao gồm quan sát vi phẩu và soi bột.

- Dùng kính hiển vi không chỉ để xác định sự giả mạo mà còn có thể ước lượng tỷ lệ chất giả mạo căn cứ vào số lượng một đặc điểm nào đó của mẫu kiểm nghiệm so sánh với mẫu đối chứng.

+ Mô tả các đặc điểm:

Mô tả các đặc điểm chính của vi phẩu, bột dược liệu giúp cho việc nhận định đúng dược liệu và phân biệt được với các dược liệu tương cận, dễ nhầm lẫn. Lưu ý tới các điểm đặc trưng của dược liệu giúp nhận biết hay phân biệt với dược liệu khác.

* Đối với vi phẩu: chú ý tới các đặc trưng của biểu bì (đặc điểm của lông che chở và/hoặc lông tiết, mật độ phân bố của chúng trên bề mặt cơ quan; đặc trưng của lớp cutin trên bề mặt biểu bì ...); hình dạng và tỉ lệ của các phần biểu bì, mô mềm, mô dẫn và tủy; các đặc điểm đặc trưng hay bất thường khác (cấu tạo cấp 3, sợi, mô cứng, tế bào cứng, tinh thể...)

* Đối với bột dược liệu: các đặc diểm của lông che chở và lông tiết, mạch dẫn, sợi, tế bào mô cứng, hạt tinh bột, tinh thể, …

+ Các phản ứng hóa mô: định tính nhanh trên vi phẩu các nhóm hợp chất góp phần xác nhận dược liệu, phân biệt giả mạo. Hữu ích trong việc xác định xem là hoạt chất nguyên thủy trong dược liệu hay được đưa thêm từ ngoài vào.

1.3.2.4. Xác định các hằng số vật lý

Xác định các hằng số vật lý để đánh giá chất lượng dược liệu thường được tiến hành đối với các sản phẩm tiết hay chiết được từ cây, con làm thuốc như tinh dầu, dầu béo, nhựa, sáp … Các hằng số vật lý thường được xác định là: độ hòa tan, tỷ trọng, năng suất quay cực riêng, chỉ số khúc xạ, nhiệt độ đông đặc hay nhiệt độ nóng chảy.

1.3.2.5. Định tính

Sử dụng phương pháp hóa học và phương pháp sắc ký.

1.3.2.6. Thử tinh khiết

- Xác định độ ẩm và độ tro: Phương pháp xác định độ ẩm và độ tro.

- Xác định tạp chất:

Tạp chất là những thành phần không phải là dược liệu nhưng lẫn vào dược liệu trong quá trình thu hái, chế biến và bảo quản. Các tạp chất có thể ảnh hưởng đến tác dụng của dược liệu (làm giảm hàm lượng, thêm vào các độc tố, các chất có tác dụng khác) hay làm giảm giá trị thương phẩm của dược liệu. Lượng các tạp chất trong dược liệu phản ánh điều kiện trồng trọt, thu hái, chế biến và bảo quản dược liệu. Các loại tạp chất thường được xác định trong dược liệu gồm:

26

- Các thành phần khác của cây thuốc: các bộ phận khác của cây thuốc, dược liệu nhưng không đúng tiêu chuẩn.

- Các tạp chất vô cơ: đất cát, đá sỏi lẫn vào dược liệu trong quá trình trồng trọt thu hái.

- Các tạp chất hữu cơ: các loại cây cỏ khác, rác lẫn vào trong thu hái, làm khô dược liệu.

- Các tác nhân có hại khác: nấm móc, sâu mọt, dư lượng các chất bảo vệ thực vật, các kim loại nặng, các chất phóng xạ.

Không phải lúc nào người ta cũng xác định tất cả mọi chỉ tiêu này. Tùy từng dược liệu cụ thể, tùy theo quan niệm đánh giá và điều kiện thực hiện mà người ta có thể thực hiện một hay nhiều chỉ tiêu trong đó. Có nhiều trường hợp người ta chỉ xác định “tạp chất hữu cơ”, “tạp chất vô cơ” hay chỉ một chỉ tiêu chung là “tạp chất”.

+ Tỷ lệ giữa các bộ phận của dược liệu: những loài cây thảo dùng toàn thân hay dược liệu cành thân mang lá, hoa, ... trong quá trình phơi sấy và bảo quản không tốt có thể rụng mất hoa, lá, chỉ còn lại thân cành là những bộ phận thường có ít hoạt chất. Xác định tỷ lệ giữa các bộ phận nhằm đảm bảo chất lượng của dược liệu.

+ Tỷ lệ vụn nát, dược liệu không đúng tiêu chuẩn: tỷ lệ vụn nát của dược liệu phản ánh điều kiện chế biến và bảo quản dược liệu. Tỷ lệ dược liệu không đúng theo tiêu chuẩn như được mô tả (quả non, hạt lép, cành già, thân, rễ, củ có kích thước nhỏ hơn quy định...) phản ánh điều kiện thu hái dược liệu.

+ Các bộ phận khác của cây: là các bộ phận khác của cây lẫn vào trong dược liệu. Ví dụ như vỏ thân có lẫn gỗ, củ có một phần gốc thân, ...

+ Tạp chất hữu cơ: là các loại cây cỏ khác, rác lẫn vào trong quá trình thu hái, chế biến vào bảo quản dược liệu.

+ Tạp chất vô cơ: là đất các lẫn vào trong dược liệu trong quá trình thu hái, chế biến và bảo quản dược liệu.

+ Xác định nấm mốc, côn trùng trên dược liệu: các nấm móc, côn trùng khi phát triển trên dược liệu ngoài việc làm hỏng hay giảm chất lượng dược liệu còn có thể để lại các chất có hại cho người sử dụng.

+ Xác định dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, các chất độc do ô nhiễm: các chất bảo vệ thực vật trong quá trình trồng trọt cây thuốc và bảo quản dược liệu, các chất độc trong môi trường bị ô nhiễm có thể dược tích lũy lại trên dược liệu. Ở một nồng độ nào đó những chất này có thể gây hại cho người sử dụng.

+ Xác định kim loại nặng: tùy theo điều kiện thổ nhưỡng mà hàm lượng các kim loại nặng trong cây có thể thay đổi. Ở những vùng đất bị ô nhiễm, các dược liệu có thể có một lượng kim loại nặng rất cao có thể ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng.

+ Xác định tạp phóng xạ: xác định hàm lượng các chất phóng xạ có mặt trong dược liệu, tiêu chuẩn này hiện được đặt ra và thực hiện chủ yếu ở các nước phát triển, đặc biệt khi nguồn nguyên liệu thu thập từ những vùng có nguy cơ phóng xạ cao.

1.3.2.7. Xác định hàm lượng

Một phần của tài liệu GIÁO TRÌNH LÝ THUYẾT DƯỢC LIỆU (Trang 21 - 35)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(235 trang)