Các nghiên cứu tại Việt Nam

Một phần của tài liệu Phát triển bền vững du lịch tỉnh khánh hòa (Trang 27 - 33)

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.5 Tổng quan các công trình nghiên cứu

1.5.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Các nghiên cứu hàn lâm và thực nghiệm liên quan đến PTBV và PTBV du lịch tại Việt Nam tương đối nhiều, đa phần là liên quan đến quan điểm, nguyên tắc, tiêu chí, các giải pháp hướng đến PTBV du lịch.

Các nghiên cứu liên quan đến nguyên tắc PTBV: Nghiên cứu của Trần Tiến Dũng (2006) với chủ đề “Phát triển du lịch bền vững ở Phong Nha Kẻ Bàng” đã đưa ra những nguyên tắc PTBV du lịch và các khuyến nghị đối với ngành du lịch trong việc PTBV du lịch. Đánh giá một cách toàn diện thực trạng PTBV du lịch Phong Nha Kẻ Bàng. Tác giả đã đề xuất được một số giải pháp PTBV du lịch phù hợp với điều kiện cụ thể của Vườn quốc gia và có tính thực thi cao. Nghiên cứu của Đinh Kiệm (2013) với chủ đề “Phát triển du lịch sinh thái các tỉnh vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ đến năm 2020” đã làm rõ lý luận về du lịch sinh thái, các nguyên tắc, điều kiện để hoạch định sự phát triển du lịch sinh thái bền vững, các giai đoạn phát triển của loại hình này và nguyên tắc quy hoạch PTBV du lịch sinh thái biển, đảo trên địa bàn lãnh thổ tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Tác giả đã chỉ ra các định hướng mục tiêu phát triển, định hướng tổ chức không gian du lịch sinh thái của vùng, đề xuất các giải pháp thực hiện nhiệm vụ phát triển du lịch sinh thái của vùng đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

Các nghiên cứu liên quan đến chỉ tiêu PTBV: Nghiên cứu của Bùi Đình Thanh (2000) với chủ đề “Xã hội học Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI” đã chỉ ra 07 hệ chỉ báo cơ bản về PTBV: Chỉ báo kinh tế, xã hội, môi trường, chính trị, tinh thần, trí tuệ, văn hoá, vai trò phụ nữ và chỉ báo quốc tế. Các công trình nghiên cứu có một điểm chung là cụ thể hoá khái niệm PTBV theo Brundtland, tuy nhiên sự cụ thể này còn mang tính liệt kê, tính thích ứng của các chỉ báo với thực tiễn Việt Nam, cụ thể là ở cấp độ địa phương, vùng miền, hay các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội vẫn chưa được thể hiện rõ. Nghiên cứu Lưu Đức Hải và cộng sự (2001) với chủ đề “Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững” đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho PTBV. Công trình này xác định PTBV qua những tiêu chí: bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bền vững văn hóa. Đồng thời đã tổng quan các mô hình PTBV như: mô hình 03 vòng tròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs và Sadler (1990); mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội của WCED (1987); mô hình liên hệ thống kinh tế, xã hội, sinh thái của Villen

(1990); mô hình 03 nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của Worl Bank (1990). Nghiên cứu của Vũ Văn Đông (2014) với chủ đề “Phát triển du lịch bền vững Bà Rịa-Vũng Tàu” đã xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động PTBV du lịch để phân tích đánh giá thực trạng hoạt động PTBV du lịch. Các hoạt động PTBV du lịch được đánh giá thông qua 07 chỉ tiêu cơ bản: (1) Số lượng đơn vị tham gia hoạt động PTBV du lịch; (2) Số lượng khách du lịch tham gia du lịch; (3) Chất lượng dịch vụ du lịch; (4) Đóng góp đối với cơ quan quản lý trong việc xây dựng và thực hiện cơ chế chính sách PTBV du lịch; (5) Đóng góp đối với phát triển kinh tế; (6) Đóng góp về mặt xã hội; (7) Đóng góp về môi trường. Tác giả đề xuất 12 nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động PTBV du lịch làm cơ sở phân tích, đánh giá về mặt định tính, định lượng. Cuối cùng tác giả đã xác định được 04 nhân tố khám phá có ảnh hưởng chủ yếu đến PTBV du lịch là: (1) Các yếu tố về môi trường; (2) Các yếu tố về xã hội, (3) Các yếu tố về kinh tế, (4) Các yếu tố về sản phẩm du lịch. Nghiên cứu của Lê Chí Công (2015) với chủ đề “Xây dựng chỉ tiêu đánh giá du lịch bền vững:

Nghiên cứu điển hình tại thành phố Nha Trang” đã xây dựng hệ tiêu chí giúp đánh giá PTBV du lịch biển đảo tại Nha Trang-Khánh Hòa. Tác giả đã sử dụng phương pháp chuyên gia để xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá trên 03 góc độ: kinh tế, xã hội và môi trường. Sau khi thực hiện phương pháp Delphi, có 08/38 tiêu chí bị loại bỏ. Kết quả tác giả đề xuất 28 tiêu chí dùng để đánh giá tính bền vững trong phát triển du lịch biển tại Nha Trang – Khánh Hòa. Nghiên cứu đã cung cấp những thông tin hữu ích cho nhà quản lý ngành du lịch, đơn vị kinh doanh du lịch nhằm ra các quyết định đúng đắn hơn trong quản lý, đặc biệt là chú trọng cung cấp sản phẩm/dịch vụ du lịch mang tính bền vững. Đây được xem là công cụ hữu ích cho PTBV trong hoạt động du lịch biển đảo tại Nha Trang-Khánh Hòa.

Các nghiên cứu về giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững: Nghiên cứu của Nguyễn Văn Đức (2013) với chủ đề “Tổ chức các hoạt động du lịch tại một số di tích lịch sử - văn hóa quốc gia của Hà Nội theo hướng phát triển bền vững”

đã có những đóng góp về lý luận: (1) Nhu cầu của khách du lịch tại các di tích lịch sử văn hóa: nhu cầu được chứng kiến hiện vật, được cung cấp thông tin, được tham

gia các hoạt động du lịch, được mua các sản phẩm lưu niệm; (2) Phối hợp chặt chẽ tổ chức hoạt động du lịch tại các di tích lịch sử văn hóa không chỉ góp phần bảo tồn, tôn tạo mà còn tạo ra các sản phẩm du lịch theo hướng PTBV; (3) Quan trọng nhất của sự phối hợp giữa các đơn vị quản lý di tích và các doanh nghiệp lữ hành là sự phù hợp giữa nhu cầu của du khách với giá trị thực sự của di tích lịch sử văn hóa;

(4) Quan điểm cơ bản trong việc tổ chức hoạt động du lịch tại các di tích lịch sử văn hóa là: bảo tồn và khai thác bền vững di tích lịch sử văn hóa, hợp tác PTBV giữa đơn vị quản lý di tích và doanh nghiệp lữ hành. Nghiên cứu của Châu Quốc Tuấn và Nguyễn Thị Minh Hiền (2014) với chủ đề “Đánh giá phát triển du lịch biển đảo bền vững Vịnh Bái Tử Long” đã chỉ ra rằng du lịch Vịnh đang phát triển khá thuận lợi, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của địa phương, làm giảm tỷ lệ hộ nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động bản địa. Tuy nhiên, du lịch biển đảo của Vịnh cũng phải đối mặt với những nguy cơ phát triển thiếu tính bền vững như: nguy cơ ô nhiễm môi trường biển đảo, suy thoái văn hóa, nguy cơ mất ổn định về trật tự an ninh trên địa bàn. Nghiên cứu đã đề xuất giải pháp về chính sách và qui hoạch phát triển du lịch, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch, đẩy mạnh xúc tiến quảng bá, bảo vệ môi trường để PTBV du lịch biển đảo vịnh Bái Tử Long. Nghiên cứu của Nguyễn Đức Tuy (2014) với chủ đề “Giải pháp phát triển du lịch bền vững Tây Nguyên” đã làm rõ những vấn đề cơ bản như: PTBV du lịch, yếu tố ảnh hưởng đến PTBV du lịch, khung lý thuyết về hợp tác, liên kết phát triển du lịch, xây dựng các tiêu chí đánh giá PTBV du lịch. Tác giả đưa ra 03 nhân tố quan trọng PTBV du lịch Tây Nguyên: (1) sản phẩm du lịch (du lịch nghỉ dưỡng núi, hồ; du lịch nghiên cứu, tìm hiểu giá trị văn hóa bản địa; du lịch nghiên cứu hệ sinh thái tự nhiên; du lịch hội họp, hội nghị, triển lãm; du lịch vui chơi giải trí, du lịch thể thao mạo hiểm;

du lịch lễ hội; du lịch tham quan lịch sử văn hóa; (2) liên kết phát triển du lịch (liên kết các tỉnh trong vùng và vùng Tây Nguyên với các vùng khác, liên kết giữa các tỉnh trong vùng có liên kết với nhau và cùng liên kết với các tỉnh, thành phố ngoài vùng) và (3) công tác xúc tiến quảng bá du lịch. Tác giả cũng đã đưa ra 07 nhóm giải pháp để PTBV du lịch Tây Nguyên đến năm 2020 (nhóm giải pháp bền vững

về kinh tế; nhóm giải pháp về ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; nhóm giải pháp PTBV về văn hóa – xã hội; nhóm giải pháp PTBV về môi trường; giải pháp hợp tác, liên kết PTBV du lịch; hội nhập và hợp tác quốc tế về du lịch; tăng cường quản lý nhà nước về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường). Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hợp (2014) với chủ đề “Giải pháp quản lý và khai thác du lịch sinh thái ở các Vườn quốc gia Việt Nam theo hướng phát triển bền vững”. Tác giả khẳng định du lịch sinh thái theo quan điểm PTBV là du lịch sinh thái có quan hệ mật thiết với cộng đồng dân cư địa phương và phải được quản lý khai thác theo công nghệ mới đó là công nghệ giảm thiểu tác động của du lịch đến môi trường và những công nghệ phát triển du lịch thỏa mãn những nhu cầu của du khách. Tác giả đã đề xuất mô hình phát triển du lịch sinh thái tại các Vườn quốc gia theo hướng PTBV nhằm quản lý và khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch sinh thái ở các Vườn quốc gia. Điểm hạn chế của luận án là chỉ tập trung nghiên cứu quản lý và khai thác du lịch sinh thái theo hướng bền vững. Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Cường (2015) với chủ đề “Vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong phát triển du lịch bền vững tỉnh Ninh Bình” đã đóng góp về mặt học thuật, lý luận đó chính là chứng minh vai trò của Chính quyền địa phương cấp tỉnh trong PTBV du lịch. Kết quả nghiên cứu cũng góp phần tăng cường khả năng cạnh tranh của các công ty địa phương, tạo các cơ hội đầu tư kinh doanh mới, xoá bỏ những rào cản hoạt động không hiệu quả, tạo lợi thế cho vùng và các công ty trong vùng trong hoạt động phát triển du lịch. Đồng thời tác giả đã đề xuất 04 nhóm giải pháp nhằm nâng cao vai trò của chính quyền tỉnh trong PTBV du lịch. Mặc dù luận án đã có nhiều đóng góp ý nghĩa, tuy nhiên hạn chế của luận án là chưa đưa ra được những tính toán cụ thể để giải quyết do vậy cần phải có những nghiên cứu tiếp tục trong tương lai. Nghiên cứu của Dương Hoàng Hương (2017) với chủ đề “Phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Phú Thọ” đã hệ thống, bổ sung thêm lý thuyết về phát triển du lịch bền vững ở địa phương cấp tỉnh, làm rõ thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ và cũng đã xuất các mục tiêu, định hướng, giải pháp phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Phú Thọ đến năm 2030.

Các nghiên cứu tại Việt Nam nhìn chung đã hệ thống hoá các vấn đề lý luận về PTBV, PTBV du lịch, xây dựng các chỉ tiêu đánh giá PTBV du lịch, đánh giá thực trạng phát triển du lịch và đề xuất được một số giải pháp nhằm góp phần PTBV du lịch cho địa phương.

Tổng quan nghiên cứu trên đã chỉ ra rằng, nhìn chung vấn đề PTBV nói chung và PTBV du lịch nói riêng đã được các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam nghiên cứu từ lâu, có nhiều đóng góp trong quá trình phát triển của nhân loại. Các công trình nghiên cứu đã hệ thống hoá các vấn đề lý luận về PTBV, PTBV du lịch;

đề cập vấn đề PTBV du lịch trên ba góc độ kinh tế, văn hóa-xã hội và môi trường; xây dựng được một số mô hình PTBV và PTBV du lịch; xây dựng được một số nguyên tắc và chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của du lịch; đúc kết từ những kinh nghiệm của các nước trên thế giới và thực trạng tại mỗi quốc gia, địa phương, một số tác giả luận án đã hình thành một số giải pháp nhằm góp phần vào quá trình PTBV du lịch nói chung và PTBV du lịch nói riêng tại mỗi địa phương.

Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu vẫn còn một số vấn đề chưa giải quyết được như: (1) Đề xuất khung lý thuyết đánh giá tính bền vững cho du lịch địa phương còn mờ nhạt, khung phân tích chưa cụ thể, chỉ tiêu đánh giá mang tính tổng quát, chung chung; (2) Các phương pháp đánh giá thiếu tính thống nhất đặc biệt là áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong phân tích và đánh giá;(3) Chưa đánh giá sự ảnh hưởng của yếu tố sức chứa đến du lịch một cách cụ thể.

Tiếp cận khoảng trống của những nghiên cứu trước, tác giả tiến hành nghiên cứu và xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của du lịch Khánh Hòa một cách cụ thể theo ba góc độ kinh tế, xã hội và môi trường. Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển du lịch Khánh Hòa theo hướng bền vững dựa trên hệ thống các chỉ tiêu đã xây dựng. Kết hợp sử dụng phương pháp chuyên gia đánh giá thực trạng phát triển du lịch, đánh giá hạn chế và nguyên nhân gây ra hạn chế, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp góp phần phát triển du lịch Khánh Hòa theo hướng bền vững đồng thời kết hợp sử dụng phương pháp chuyên gia đánh giá sơ bộ giải pháp, tầm quan trọng và tính khả thi của giải pháp đề xuất. Giải quyết khoảng trống nhằm đem lại

những đóng góp có ý nghĩa về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn cho phát triển du lịch Khánh Hòa hướng đến bền vững ở hiện tại và tương lai.

Một phần của tài liệu Phát triển bền vững du lịch tỉnh khánh hòa (Trang 27 - 33)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(215 trang)