CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH
2.2 Mô hình phát triển bền vững và phát triển bền vững du lịch
2.2.1 Mô hình phát triển bền vững
2.2.1.1 Mô hình của Hội đồng về môi trường và phát triển bền vững thế giới Mô hình của Hội đồng về môi trường và phát triển bền vững thế giới (1987) có ưu điểm là tiếp cận quan niệm PTBV đòi hỏi sự hài hòa giữa các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội. Tuy nhiên, mô hình này không chỉ ra được sự tương tác qua lại và phụ thuộc lẫn nhau giữa các hệ thống trong quá trình phát triển bền vững.
Hình 2.1: Mô hình phát triển bền vững của WCED 2.2.1.2 Mô hình của Jacobs và Sadler
Nghiên cứu của Jacobs và Sadler (1990) đã vận dụng mô hình của WCED (1987) để đề xuất mô hình PTBV. Theo đó, PTBV là kết quả tương tác qua lại và phụ thuộc lẫn nhau bởi ba hệ thống chủ yếu của thế giới thể hiện bằng các vòng tròn giao nhau: (1) Hệ thống kinh tế (hệ sản xuất và phân phối sản phẩm); (2) Hệ thống xã hội (quan hệ của con người trong xã hội); (3) Hệ thống tự nhiên (bao gồm các hệ sinh thái tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, các thành phần môi trường của Trái Đất). Mô hình của Jacobs và Sadler (1990) cho rằng, sự PTBV không cho phép vì sự ưu tiên của hệ này sẽ dễ gây ra sự suy thoái và tàn phá đối với hệ khác, hay PTBV là sự dung hoà tương tác và thoả hiệp giữa ba hệ thống chủ yếu trên. Nếu 03 vòng trong có kích thước tương đương nhau thì diện tích giao cắt của 03 vòng tròn là lớn nhất (sự PTBV đạt giá trị cao nhất). Tuy nhiên, hạn chế của cách tiếp cận này là chưa làm rõ được tính độc lập của hệ “Thể chế” trong mối quan hệ tương tác với ba phân hệ còn lại.
Phát triển bền vững
Sản xuất Kinh tế
Chính trị Hành chính
Công nghệ
Quốc tế Xã hội
Hình 2.2: Mô hình của Jacobs và Sadler 2.2.1.3 Mô hình Ngân hàng Thế giới
Ưu điểm của mô hình PTBV của Ngân hàng thế giới (1990) là PTBV hướng tới mục tiêu rõ ràng. Theo đó, sự PTBV được hiểu là sự phát triển nhằm đạt được đồng thời các mục tiêu: (1) Mục tiêu kinh tế, (2) Mục tiêu xã hội, (3) Mục tiêu sinh thái. Mô hình Jacobs và Sadler (1990) và mô hình Ngân hàng Thế giới có điểm giống nhau nên được gọi chung là mô hình “ba trụ cột”, đều được xây dựng dựa trên ba trụ cột của PTBV là: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, hai mô hình này cũng có những điểm khác biệt nhất định đó là:
mô hình PTBV kiểu ba vòng tròn nhấn mạnh để PTBV nhất thiết phải đảm bảo cả ba mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường. Trong khi đó, mô hình tam giác nhấn mạnh vào sự ràng buộc, chi phối và tác động thuận nghịch giữa ba thành tố: mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội và mục tiêu môi trường để PTBV. Ngoài ra, có ý kiến cho rằng hai mô hình này chưa tính toán một cách đầy đủ, rõ ràng đến yếu tố “chất lượng cuộc sống của con người”. Thực tế cho thấy các mục tiêu của PTBV thường bị
“xung đột” lẫn nhau vì thế để đảm bảo PTBV theo tiêu chí hài hòa các mục tiêu cho một quốc gia/lãnh thổ là vô cùng khó khăn và mất nhiều thời gian.
Hệ kinh tế
Hệ
Xã hội Hệ Tự nhiên
Phát triển bền
vững
Hình 2.3: Mô hình của Ngân hàng Thế giới 2.2.1.4 Mô hình của Villen
Ưu điểm của mô hình tam giác được đề xuất bởi Villen (1990) là trình bày chi tiết các chỉ tiêu PTBV với các góc cạnh (Kinh tế, Xã hội và Sinh thái). Sự PTBV chính là việc duy trì sự cân bằng trong mối quan hệ giữa các mục tiêu kinh tế, sinh thái và xã hội. Tuy nhiên, mô hình này không hướng đến mục tiêu rõ ràng và cũng đã bỏ qua yếu tố chất lượng cuộc sống của con người trong quá trình PTBV.
Hình 2.4: Mô hình của Villen Bảo vệ
Du lịch sinh thái Kinh tế
Sinh thái
Xã hội Phát triển
bền vững
Giá trị của máy móc Cạnh tranh quốc tế
Phát triển Hệ thống quata Hợp tác nông trại Chính sách thu nhập Nghiên cứu phát triển Nông nghiệp bền vững
Bảo vệ nguồn nước Kiểm soát thuốc bảo vệ thực vật Bảo vệ chất lượng cuộc sống, văn
hóa trong nông nghiệp
Bảo vệ habitat Chất lượng cảnh quan
Chất lượng nước Đa dạng sinh học
Bình ổn giá Quản lý và bảo vệ môi trường vùng nông thôn Sức khỏe và sự an toàn
Các giá trị giải trí Chống thấy nghiệp Phát triển
bền vững Mục tiêu kinh tế
Mục tiêu Sinh thái Mục tiêu Xã hội
2.2.1.5 Mô hình lăng kính phát triển
Lăng kính của PTBV được xây dựng từ Trường Wuppertal theo Spangenberg và Bonniot (1998), Valentin và Spangenberg (1999) quy định bốn yếu tố: (1) Khía cạnh kinh tế (vốn con người tạo ra); (2) Khía cạnh môi trường (vốn tự nhiên); (3) Khía cạnh xã hội (nguồn nhân lực); (4) Khía cạnh thể chế chính sách (vốn xã hội).
Hình 2.5: Mô hình lăng kính phát triển
Khi mô hình này đưa ra đã bị chỉ trích do thể chế không đóng vai trò như 03 đỉnh còn lại nhưng vẫn được thể hiện tương tự nên dễ gây nhầm lẫn trong mô tả và phân tích (Kain, 2000). Kain cũng đưa ra mô hình “lăng kính MAIN (Mind, Artifact, Institute, Nature) của PTBV”. Trong mô hình này, Kain sử dụng các yếu tố trí tuệ, tạo tác, thể chế và tự nhiên. Khía cạnh tự nhiên gồm tất cả các nguồn vốn tự nhiên, có thể được chia làm nguồn tài nguyên không tái tạo và nguồn tài nguyên tái tạo. Khía cạnh tạo tác (Artefact) là đại diện cho tất cả các vật chất nhân tạo như các tòa nhà và đường sá. Khía cạnh xã hội (Mind) gồm thế giới quan, kiến thức, kinh nghiệm. Khía cạnh thể chế liên quan đến xã hội chúng ta và các quan hệ con người.
Mặc dù có những ưu điểm ở trên, đặc biệt là việc nhấn mạnh đến việc phát triển bền vững dưới góc độ thể chất thông qua lăng kinh của phát triển bền vững.
Tuy nhiên, mô hình đã không làm rõ được tính tương tác giữa các khía cạnh trong phát triển bền vững. Đặc biệt, mô hình chưa chỉ ra được tính ưu tiên trong phát triển bền vững ở những giai đoạn khác nhau.
Hình 2.6: Mô hình lăng kính MAIN Tự nhiên
Lăng kính phát triển bền vững MAIN Trí tuệ
Tạo tác Thể chế
Môi trường
Lăng kính phát triển bền vững Thể chế
Kinh tế Xã hội
2.2.1.6 Mô hình quả trứng
Năm 1997, Trung tâm nghiên cứu phát triển Quốc tế (IDRC) đã đề xuất thay cấu trúc của ba trụ cột xã hội, kinh tế và môi trường bằng một mô hình “trứng của PTBV”. “Trứng của PTBV” minh họa mối quan hệ giữa con người và hệ sinh thái theo dạng cái này lồng vào cái kia, giống như lòng đỏ quả trứng. Ưu điểm của mô hình này được chỉ ra mối quan hệ khăng khích giữa con người và hệ sinh thái, có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Giống như một quả trứng tốt chỉ khi cả màu trắng và lòng đỏ đều tốt. Do đó, một xã hội tốt và bền vững chỉ khi cả hai yếu tố, con người và hệ sinh thái đều tốt. Sự phát triển kinh tế xã hội chỉ có thể diễn ra nếu môi trường cung cấp các nguồn lực cần thiết như: nguyên liệu sống, không gian cho sự phát triển, vấn đề an sinh. Tuy nhiên, mô hình đã không chỉ ra được sự vận động rất nhanh của xã hội loài người đã ảnh hưởng tiêu cực lên hệ sinh thái. Chính điều này đã bắt đầu hình thành nhiều điểm “thiếu bền vững” trong quá trình phát triển suốt thời gian vừa qua.