Đánh giá thực trạng phát triển bền vững du lịch theo góc độ môi trường

Một phần của tài liệu Phát triển bền vững du lịch tỉnh khánh hòa (Trang 131 - 141)

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.2 Thực trạng về phát triển bền vững du lịch Khánh Hòa trong thời gian qua (giai đoạn 2011-2019)

4.2.3 Đánh giá thực trạng phát triển bền vững du lịch theo góc độ môi trường

Chất lượng môi trường không khí của tỉnh Khánh Hòa được đánh giá dựa theo số liệu được tổng hợp từ số liệu thu được của các trạm quan trắc môi trường nằm trong Chương trình quan trắc môi trường tỉnh Khánh Hòa được thực hiện theo Quyết định số 631/QĐ-UBND ngày 17/3/2015 của UBND tỉnh Khánh Hòa về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới quan trắc môi trường giai đoạn đến năm 2020 tại Quyết định số 378/QĐ-UBND ngày 18/02/2009 của UBND tỉnh Khánh Hòa. Cụ thể bao gồm 15 trạm quan trắc định kỳ và 02 trạm quan trắc không khí liên tục, tự động.

Mức độ ô nhiễm môi trường không khí hiện nay xuất phát từ hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải và các nguồn gây ô nhiễm khác như hoạt động xây dựng, hoạt động du lịch, dịch vụ.

Đối với hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, theo báo cáo của Chi cục bảo vệ môi trường Khánh Hòa, kết quả kiểm soát mức độ ô nhiễm giai đoạn 2018-2019 tại một số khu vực cụ thể như sau:

Hình 4.1: Kết quả quan trắc môi trường không khí tại Công ty Cổ phần Thủy sản 584 Nha Trang năm 2019

Hình 4.2: Kết quả quan trắc môi trường không khí định kỳ tại Công ty Thuốc lá nguyên liệu Khatoco năm 2019

Đối với hoạt động giao thông vận tải, trong những năm gần đây, do hoạt động du lịch phát triển, dẫn đến sự gia tăng đột biến lượng phương tiện vận tải hành khách, phần lớn tập trung chính tại các tuyến đường giao thông nội thị, cường độ giao thông liên tục,… tác động đến môi trường không khí và tiếng ồn, là một trong những nguồn gây ô nhiễm lớn đối với không khí đặc biệt ở khu đô thị và khu đông dân cư.

Đối với các tác nhân gây ô nhiễm đó là hoạt động du lịch, dịch vụ, một trong những tác nhân gây ô nhiễm môi trường không khí, đặc biệt khi mà hoạt động du

lịch ngày càng phát triển đồng nghĩa với việc gia tăng lượng du khách tới các điểm tham quan du lịch, tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng du lịch, dịch vụ và gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên, nhu cầu cung cấp nước sạch, xử lý nước thải, rác thải...

do đó dẫn đến sự gia tăng áp lực của phát triển du lịch đến môi trường càng lớn.

Một số cơ sở lưu trú, trung tâm thương mại, nhà hàng nằm gần kề trong khu dân cư, đã phát sinh mức ồn vượt quá quy chuẩn ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân tại khu vực. Đặc biệt là thời gian ban đêm các hoạt động sau 22h, mức ồn quy định theo quy chuẩn là dưới 55dBA đối với khu vực thông thường, tuy nhiên các cơ sở có hoạt động phát sinh tiếng ồn lớn như karaoke, nhà hàng,… thường khó duy trì thấp hơn mức quy định này.

Theo đánh giá chung của Chi cục bảo vệ môi trường tỉnh Khánh Hòa, hiện nay mức độ ô nhiễm không khí đang nằm trong ngưỡng quy định. Tuy nhiên trước sự gia tăng về hoạt động xây dựng các công trình hạ tầng giao thông, khu đô thị, khách sạn, nhà hàng, mật độ cơ sở hạ tầng du lịch ngày càng dày đặc trong lòng thành phố, lưu lượng giao thông gây ùn tắc, vấn đề xử lý tiếng ồn, nước thải, rác thải sinh hoạt hàng ngày tại các điểm du lịch, khách sạn, nhà hàng ngày càng nhiều... đây chính là những nguyên nhân gây ra ô nhiễm không khí nếu không có sự kiểm soát và xử lý tốt từ ban đầu là điều không thể tránh khỏi.

Do đó để hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường không khí ở hiện tại cũng như trong tương lai, cần phải có những quy hoạch xây dựng trong dài hạn, quy hoạch mật độ xây dựng hợp lý, quy hoạch cơ sở hạ tầng được đầu tư phải có đầy đủ các hệ thống xử lý kèm theo đúng quy định để luôn đảm bảo được môi trường không khí không vượt ngưỡng quy định.

Bởi lẽ môi trường không khí trong lành không chỉ ảnh hưởng đến sự thu hút và bảo vệ sức khỏe cho du khách mà còn là để bảo vệ sức khỏe cho chính cộng đồng người dân địa phương. Vì vậy cần nâng cao ý thức trách nhiệm chung tay của cộng đồng, của du khách và sự phối hợp quản lý của cơ quan chính quyền địa phương, của các chủ thể kinh doanh du lịch nhằm đảm bảo vì một môi trường không khí trong lành cho địa phương Khánh Hòa nói chung và cho hoạt động du lịch nói riêng.

4.2.3.2. Xử lý chất thải

Xử lý chất thải là một trong những chỉ tiêu đánh giá thực trạng phát triển du lịch dưới góc độ môi trường, xử lý chất thải tốt góp phần tạo môi trường trong lành đảm bảo điều kiện tốt nhất cho sức khỏe con người.

Theo kết quả thống kê giai đoạn 2016-2019, khối lượng chất thải rắn phát sinh trung bình trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa như sau:

Bảng 4.14: Khối lượng chất thải rắn

STT Loại Chất thải rắn Khối lượng phát sinh

(tấn/ngày)

Tỷ lệ (%)

1 Chất thải rắn sinh hoạt 1.075,65 86,08

2 Chất thải rắn công nghiệp thông thường 169 13,52

3 Chất thải rắn y tế nguy hại 0,924 0,07

4 Chất thải rắn nguy hại 4 0,32

Tổng khối lượng 1.249,57 100

Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa Qua bảng trên cho thấy lượng chất thải rắn sinh hoạt chiếm tỷ lệ lớn nhất, cụ thể trong giai đoạn 2016-2019 chất thải rắn sinh hoạt được thống kê như sau:

Bảng 4.15: Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt

STT Năm Khối lượng phát sinh (tấn/ngày)

1 2016 605,72

2 2017 807,26

3 2018 1.028,2

4 2019 1.075,65

Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh khá lớn tăng dần theo từng năm, chiếm tỷ lệ 86,08% trong năm 2019, đặc biệt là ở các trung tâm thành phố, trở thành vấn đề sức ép đối với môi trường. Điều này đáng quan ngại hơn khi vào mùa du lịch cao điểm, hoặc thời điểm tổ chức các lễ hội, các sự kiện chính trị kinh tế - văn hóa - xã hội. Vấn đề quản lý chất thải rắn như thế nào cho hiệu quả là trọng tâm của những chính sách phát triển môi trường hướng đến bền vững. Áp lực hơn nếu quản lý chất thải rắn không hiệu quả khu vực đô thị, các trung tâm, các khu điểm du lịch sẽ là một mối đe dọa lớn đối với sức khỏe cộng đồng dân cư địa phương cũng như

cảnh quan đô thị và ảnh hưởng đến sức khỏe của du khách cũng như cảm nhận của du khách về môi trường du lịch Khánh Hòa.

Theo Quyết định số 798/QĐ-TTg ngày 25/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình đầu tư xử lý chất thải rắn giai đoạn 2011- 2020, trong giai đoạn 2011 đến 2015, mục tiêu tái chế, tái sử dụng 60% lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị thì tỉnh Khánh Hòa chưa đạt được mục tiêu này. Các bãi rác của tỉnh không có dây chuyền phân loại rác, việc tái sử dụng rác thải phụ thuộc chủ yếu vào "đội ngũ nhặt rác" tự phát của người dân. Một số điểm du lịch chưa có hệ thống xử lý rác thải riêng, mà xử lý tại chỗ hoặc xử lý bằng phương pháp chôn lấp, do đó tình trạng xả rác thải tại các khu bãi tắm vẫn xảy ra thường xuyên (khu du lịch Suối hoa lan, thác Yangbay, khu du lịch Nhân Tâm…). Phần rác thải được phân loại chủ yếu là các thanh, mẩu kim loại, nhựa, giấy… có thể tái chế được tại các cơ sở tái chế hạt nhựa và thu mua phế liệu chỉ chiếm từ 5%-10% lượng rác tại các bãi rác. Do vậy, tài nguyên có thể tái chế, tái sử dụng từ rác thải đang được chôn lấp gây lãng phí và sẽ là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường.

Đối với việc xủ lý chất thải nguy hại, hiện nay tỉnh Khánh Hòa có 02 dự án liên quan đến xử lý chất thải nguy hại đang được triển khai: ô chôn lấp chất thải nguy hại tại Bãi chôn lấp hợp vệ sinh Lương Hòa do Công ty cổ phần môi trường đô thị Nha Trang quản lý và Nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp do Công ty Cổ phần môi trường Khánh Hòa làm chủ đầu tư tại thị xã Ninh Hòa.

Trước thực trạng về vấn đề xử lý chất thải rắn hiện nay, cần phải có giải pháp cụ thể để xử lý chất thải rắn một cách triệt để hợp vệ sinh bởi việc quản lý chất thải rắn không hợp lý là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường tại các khu du lịch, tác động ảnh hưởng đến việc giảm lượng khách du lịch dẫn đến giảm nguồn thu, ảnh hưởng đến tiềm năng phát triển ngành du lịch tại địa phương. Cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các Sở, ngành địa phương, các cơ sở kinh doanh du lịch trong việc tổ chức tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng, người dân và doanh nghiệp thông qua tổ chức nhiều hoạt động nhằm hưởng ứng

“Tháng hành động vì môi trường" nhân ngày Ngày Môi trường thế giới ngày 05 tháng 6, Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn,…với mục tiêu hướng đến tính bền vững cho môi trường phát triển du lịch Khánh Hòa.

4.2.3.3. Chất lượng môi trường biển và cảnh quan du lịch

Trong những năm gần đây do tác động mạnh mẽ của phát triển du lịch đặc biệt là du lịch biển vì vậy các khu vực bãi biển Khánh Hoà đã xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm nguyên nhân là do các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch chưa có hệ thống xử lý nước thải, tình trạng buôn bán hàng rong của người dân và khách du lịch vứt rác và thức ăn dư thừa tùy tiện. Mặt khác, ô nhiễm dầu nước biển ven bờ do các phương tiện tàu thuyền vận chuyển khách du lịch, phương tiện vui chơi, thể thao nước, khai thác san hô phục vụ nhu cầu làm hàng lưu niệm... gây ảnh hưởng suy thoái hệ sinh thái nhiệt đới, nguy cơ ô nhiễm môi trường nước biển đáng báo động.

Theo báo cáo của Chi cục bảo vệ môi trường - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa, chất lượng nguồn nước được thống kê như sau:

Bảng 4.16: Hệ thống nước thải STT Các khu chức năng

Nước thải (m3/ngày)

Nguồn tiếp nhận Nước thải

sinh hoạt Nước thải

công nghiệp Tổng cộng 1 Khu bán đảo Hòn Gốm và

vùng phụ cận 39,6 52,3 91,9 Vùng ven biên

lân cận hoặc thấm vào đất 2 Khu vực Tuần Lễ - Hòn

Ngang và các đảo phụ cận 1,5 21,9 23,4 Chuyển vào bờ để xử lý

3 Khu vực Nam Tu Bông

đến Nam đèo cổ Mã 0 1 0 0

4 Khu vực thị trấn Vạn Giã

và vùng phụ cận 57 31,8 88,8 Vùng ven biển

lân cận hoặc thấm vào đất 5 Khu vực Đông Bắc Ninh

Hòa và Lạc An 0,4 0,1 0,5 Thấm vào đất

6 Khu vực Dốc Lết 75,9 5 80,9

Vùng ven biển lân cận hoặc thấm vào đất 7

Khu vực đô thị trung tâm cũ thị xã Ninh Hòa và vùng

phụ cận 7,3 3,2 10,5 Thấm vào đất

8 Khu vực hai bên quốc lộ 26B 6,8 27,1 33,9 Thấm vào đất 9 Khu vực phía Đông và

Đông Bắc Hòn Hèo 182,6 454 636,6 Vùng ven biển lân cận hoặc thấm vào đất Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa

Bảng 4.17: Chất lượng nước biển Thông số Đại Lãnh

(bãi tắm) Hòn Gốm Bãi Dương

Quảng Trường

2/4

Cảng Cầu

Đá

Cửa sông Tắc Giá trị TB năm

(CT-CĐ)

Giá trị TB năm

(CT-CĐ) 8,17 8,20 8,19 8,18 pH 8,17 (8,10-8,21) 8,15 (8,00-8,30) 6,07 6,23 5,97 5,57 DO (mg/1) 6,05(5,5-6,8) 6,35(6,1-7,1) 33,7 33,3 33,1 31,7 TSS (mg/l) 5,45 (2,70-12,00) 4,75 (3,50-6,0) 1 14,9 12,4 4,9 7,1

BOD5 (mg/1) 3 (1-5) 3 (1-4) 3 3 3 3,3

COD (mg/1) 10 (7-12) 10 (6-14) 11 11,0 11,3

Amoni (mg/1) 0,032 (0,009-0,071) 0,061 (0,003-0,109) 0,079 0,048 0,074 0,143 Zn (àg/1) 14,5 (9,0-28,0) 13,5 (11,0-21,0) 15,6 10,6 26,8 21,8 Cu (àg/1) 3,6 (2,1-5,3) 3,6 (1,6-5,0) 3,7 3,4 4,1| 4,0

|Pb (àg/1) 4,53 (2,9-6,0) 3,3 (2,4-4,3) 4,6 4,9 4,3 Cd(àg/1) 0,6 (0,1-1,1) 0,7 (0,2-1,2) 0,5 0,8 0,7 As(àg/1) 4,3 (3,1-5,4) 4,3 (3,6-5,5) 4,1 3,3 4,3 4,4 Dầu mỡ (mg/1) 0,13 (0,10-0,20) 0,15 (0,10-0,40) 0,17 0,10 0,2 0,3 Coliform

(MPN/100ml) 701 (0-2.400) 1654 (0 -4.600) 947 2.491 2.697 3.623 Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa Bảng 4.18: Chất lượng nước tại Bãi dài

Thông số Giá trị TB năm

pH 8,21

DO (mg/1) 6,1

Độ mặn (0/00) 34,1

TSS (mg/l) 12,33

BOD5 (mg/1) 3

Amoni (mg/1) 0,067

Zn (àg/1) 17,1

Cu (àg/1) 3,6

As(àg/1) 3,3

Dầu mỡ (mg/1) 0,10

Coliform (MPN/100ml) 16.227

Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa

Bảng 4.19: Chất lượng nước biển khu vực rạn san hô

Khu vực Tầng Nhiệt độ Độ Mặn pH DO TSS NH3,4-N NO3-N Dầu mỡ (0C) (0/00) (mg/1) (mg/1) (àg/1) (àg/1) (àg/1) Hòn Đen Mặt 29,5 34,1 8,06 7,24 7,6 0 33 430

Đáy 27,7 34,4 7,98 6,64 21,4 0 32

Hòn Tằm Mặt 28,9 33,0 8,18 6,11 6,6 0 32 267 Đáy 27,5 33,4 8,06 6,27 6,2 0 32

Tây bắc Mặt 27,7 33,8 7,98 6,94 6,4 0 34 364 Hòn Mun Đáy 26,1 34,0 8,18 6,47 6,9 0 35

Tây nam Mặt 28,2 33,8 8,06 6,66 6,5 0 35 338 Hòn Mun Đáy 26,4 34,2 7,98 6,31 6,9 0 34

Bãi cạn Mặt 28,2 33,6 8,18 6,70 6,0 0 36 336 Đáy 25,3 34,1 8,06 6,71 7,2 0 35

Bãi Nồm Mặt 28,1 34,0 7,98 7,00 7,9 0 36 333 Đáy 26,8 34,2 8,18 6,68 7,3 0 35

Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa Nhìn chung trong giai đoạn hiện nay, mặc dù số liệu quan trắc cho thấy các chỉ số vẫn trong khoảng cho phép, tuy nhiên theo các chuyên gia trong ngành cho rằng với tốc độ phát triển các hoạt động du lịch nếu không có các giải pháp nhằm hạn chế sự tác động tiêu cực là điều đáng báo động về mức độ ô nhiễm môi trường biển có thể xảy ra trong tương lai, cụ thể đó là sự ảnh hưởng trực tiếp như:

Ảnh hưởng vấn đề ô nhiễm môi trường nước: với quy mô phục vụ du khách ngày càng tăng, lượng nước thải sinh hoạt hàng ngày cũng tăng theo, nếu không được xử lý tốt, lượng nước thải này sẽ gây ô nhiễm môi trường nước rất lớn và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nước tại các điểm, khu du lịch, khu bãi tắm.

Gia tăng lượng chất thải tại các khu vui chơi, giải trí: lượng khách đến Khánh Hòa tăng hàng năm tạo áp lực nguy cơ ô nhiễm nguồn nước biển ven bờ do việc xả rác thải từ các tàu thuyền du lịch, phương tiện thể thao biển, nước thải chưa xử lý triệt để từ các khách sạn, khu du lịch, khu vui chơi giải trí, thi công các công trình dịch vụ, du lịch ven biển, đảo. Lượng khách du lịch qua các tuyến đảo quá đông do vậy tàu thuyền phục vụ khách nhiều, lượng rác thải bừa bãi chưa được xử lý, thiếu kiểm soát chặt chẽ làm ô nhiễm môi trường nước biển. Bên cạnh đó một số tour tổ chức cho khách ăn uống tại các lồng bè trên biển nhưng nguồn thải không được xử lý do đó nguồn thức ăn trên lồng bè cũng ảnh hưởng đến môi trường nước.

Trong những năm qua, với tốc độ phát triển của ngành du lịch, nhiều khu, điểm du lịch, khách sạn nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí đã và đang tiếp tục được đầu tư và xây dựng. Có hệ thống cây xanh để hấp thụ khí CO2, hướng đến hình thành kiến trúc xanh, hạn chế việc tiêu hao năng lượng, sử dụng nhiều năng lượng tự nhiên, đảm bảo hệ thống chất lượng cảnh quan vì một môi trường du lịch trong xanh sạch đẹp theo đúng quy hoạch xây dựng. Tuy nhiên việc đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch ở hiện tại cũng đã phần nào có những tác động đến chất lượng cảnh quan môi trường, mật độ lưu thông cao, tắc nghẽn giao thông gây ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến môi trường sống của dân cư xung quanh, ảnh hưởng đến nét đặc sắc của bãi biển Nha Trang với dãi cây xanh, bãi cát trắng nắng vàng vốn dĩ của nó.

Mặt khác người dân địa phương, du khách tham quan cũng sẽ mất dần sự hưởng thụ không khí trong lành của biển, cảnh quan của Vịnh.

Về góc độ môi trường, thông qua đánh giá thực trạng phát triển du lịch giai đoạn 2011-2019, nhìn chung theo đánh giá của cơ quan chuyên môn, môi trường du lịch Khánh Hòa vẫn đang trong ngưỡng quy định. Tuy nhiên có thể nói môi trường du lịch chưa thực sự đảm bảo, sự phát triển của hoạt động du lịch đã đem lại tăng trưởng cao về kinh tế, xã hội nhưng cũng không ít những ảnh hưởng đến môi trường. Mặc dù trong thời gian qua các cơ sở kinh doanh du lịch cơ bản đã thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường trong quá trình triển khai hoạt động du lịch, nhưng vẫn còn một số bộ phận người dân địa phương, cơ sở kinh doanh du lịch cũng như du khách chưa có ý thức trách nhiệm cao trong khai thác nguồn tài nguyên môi trường tự nhiên phục vụ du lịch, chung tay gìn giữ môi trường, đã ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề vệ sinh môi trường, văn minh đô thị, an toàn cho du khách và cộng đồng người dân địa phương.

Trước những tác động đã và đang có nguy cơ tổn hại đến môi trường sinh thái, các cơ sở hoạt động kinh doanh du lịch cũng như du khách và cộng động địa phương phải luôn có ý thức trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ môi trường vì một mục tiêu PTBV du lịch. Vì vậy cần phải xây dựng chiến lược phát triển luôn gắn với bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường để đảm bảo cho phát triển du lịch hiện tại mà không làm tổn hại đến tương lai.

4.2.3.4 Đánh giá tính bền vững phát triển du lịch Khánh Hòa bằng phương pháp chuyên gia dưới góc độ môi trường

Để bình luận thêm tính bền vững của phát triển du lịch Khánh Hòa, tác giả kết hợp đánh giá PTBV du lịch bằng phương pháp chuyên gia dưới góc độ môi trường. Bằng cách tiếp tục thực hiện tham vấn ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu, quản lý, đào tạo và kinh doanh du lịch tại Khánh Hòa. Mỗi chuyên gia sẽ được yêu cầu trình bày mức độ đồng ý với một chỉ tiêu cụ thể liên quan đến vấn đề PTBV du lịch tại Khánh Hòa trong thời gian qua bằng thang đo Likert với mức độ đánh giá từ (1) Rất không đồng ý; đến (5) Rất đồng ý. Kết quả đánh giá được thể hiện cụ thể như sau:

Nhóm chỉ tiêu thể hiện sự bền vững dưới góc độ môi trường. Đối với nhóm chỉ tiêu này, tác giả phân thành 02 cụm. Cụm 1 thể hiện tính bền vững trong phát triển du lịch về vấn đề môi trường. Các chỉ tiêu cụ thể bao gồm: Nhiều doanh nghiệp tham gia bảo vệ tài nguyên môi trường ở địa phương; Cộng đồng địa phương tham gia nhiều hoạt động bảo vệ môi trường du lịch; Nhiều doanh nghiệp du lịch đầu tư hệ thống xử lý chất thải bảo vệ môi trường; Số phương tiện vận tải thân thiện với môi trường trong du lịch ngày càng tăng. Theo đó, nếu chuyên gia đánh giá điểm số bình quân càng cao hơn mức điểm trung bình 3,0 thể hiện tính bền vững tăng dần. Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ tiêu này được đánh giá ở mức khá, đây là tiền đề quan trọng giúp du lịch Khánh Hòa PTBV hơn dưới góc độ môi trường trong thời gian tới.

Trong khi đó, cụm 2 đại diện cho các yếu tố thể hiện tính thiếu bền vững nếu chuyên gia đánh giá mức độ đồng ý cao. Tiêu biểu như: Tỷ lệ điện tiêu thụ trong du lịch ngày càng tăng; Tỷ lệ nước tiêu thụ trong du lịch ngày càng tăng; Tỷ lệ chất thải từ hoạt động du lịch được thu gom, xử lý ngày càng tăng; Cảnh quan môi trường biển ngày càng bị lấn chiếm; Nguồn nước biển ngày càng bị ô nhiễm; Số cảnh quan phục vụ du lịch bị xuống cấp ngày càng nhiều; Số công trình kiến trúc không phù hợp với cảnh quan ngày càng nhiều. Đặc biệt, so với đánh giá bền vững dưới góc độ kinh tế, và xã hội, nhiều chỉ tiêu đánh giá tính thiếu bền vững dưới góc độ môi trường đã xuất hiện. Điểm số chuyên gia đánh giá tính thiếu bền vững là cao nhất 3,82. Kết quả này chứng minh những luận cứ về mâu thuẫn trong phát triển nói

Một phần của tài liệu Phát triển bền vững du lịch tỉnh khánh hòa (Trang 131 - 141)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(215 trang)