VAN BIA CHUA BAO ÂN

Một phần của tài liệu Nghiên cứu văn bia thời Lý: Phần 1 (Trang 73 - 82)

NUI AN HOACH'

'Ngời ngời thay diệu lý trong lặng, soi mọi vật mà vật chẳng lần

nhau; lồng lộng thay chân không xa xăm, chứa mọi cảnh” mà cảnh.

không lẫn lộn. Đó chẳng phải là nói sự thâm sâu, rộng lớn đó sao!

..] Phật có sắc vàng, con người có tính Phật, nhưng không ai

tự nhận biết, tự thức ngộ được vậy. Vì thế, người muốn chứng quả ất phải nhờ điều thiện để đến nơi chứng quả. Điều đáng tham cứu

không gì lớn hơn tượng pháp”, mà sùng thượng tượng pháp không

bằng chùa chiền. Cho nên phải bất chước dấu thơm của Ưu iền!, A Dục”; phỏng theo vết cũ của Ma Đằng”. Pháp Lan”.

Nay có Thái uý Lý công", phò trợ vua thứ tư nước Đại Vist,

được trao chức Suy thành hiệp mưu, Bảo tiết thủ chính, Tá lý dye đái công thần, Thủ Thượng thư lệnh, Khai phủ nghỉ đồng tam tỉ, Nhập nội Nội thị sảnh đô đô tri, Kiểm hiệu Thái úy, Kiêm Ngự sử

đại phu, Dao thụ chư trắn Tiết độ sứ, Đồng Trung thư môn hạ bình chương sự, Thượng trụ quốc, Thiên tử nghĩa đệ, Khai quốc Thượng.

in, Việt Quốc công, thực ấp một vạn hộ. hưởng thực phong bồn nghìn hộ. Ông gánh trọng trách lớn, gắn bó với nhà vua, tin là có thể gửi găm con côi!” sáu thước, trao cho mệnh lớn ngoi trăm dặm". Sau đó, ông thể trước ba quân: Phía Bắc đánh nước láng giềng'?, phía Tây dẹp kẻ không vào chầu”. Giỏi thắng địch theo phương sách bảy lần bắt, bảy lần tha'. Đâu phải riêng nhà.

Hán có công lao của Hàn Tin, Bành Việt'', nước Tễ có sự nghiệp của Quản Trọng, Án Anh, Riêng ông phò giúp nhà vua, nước nhà

giàu thịnh trải nhiều năm, có thể để lại công tích rực rỡ của một bề

tôi tới ngàn thuở!”.

Đến năm Nhâm tuất (1082), nhà vua đặc cách gia thêm một

quân Thanh Hoá, tặng cho ông làm đất phong. Quan lại hướng theo

72

phong thái, muôn dân ngưỡng mộ đức ân. Ở phía Tây nam huyện có một quả núi lớn và cao tên là An Hoạch, nơi đây sản xuất ra

nhiều đá đẹp. Đá ấy là sản vật quý của nhà nước. Sắc óng ánh như.

ngọc lam'Š, chất xanh xanh tựa khói nhạt!”. Đục đá ấy làm khí cụ.

ví như: tạc làm khánh, khi đánh thì tiếng ngân muôn dặm; dùng làm bia, văn chương còn bền mãi ngân đời.

Thể là Thái uy Ly công cẩn trọng sai một viên Thị giả là Giáp thú?" Vũ Thừa Thao đem người hương Cửu Chân, dò tìm trong núi,

đá tốt. Mười chín năm trời”, năng nỗ tiết tháo: dân chúng.

theo vẻ, vin dé dat như đi trên băng mỏng; bản thân trong sạch, còn

nơm nớp như nắm dây cương sờn”. Tự xét rằng mình: khí tượng

nhỏ mã quyết đoán việc quan trong, tài tri hèn mà mưu việc lớn lao.

Chita từng hạt bụi nhỏ mà không lau, dần thành núi lớn; rót từng, gigt nước mà không nghỉ, biển rộng sẽ tràn. Huống chỉ lại đội ơn

ban *Cửu tích"ÈŸ vượt bậc, biết lấy gì dé báo đáp?

Thế rồi: Lần lượt kẻ hiền người ngu, giàu nghèo thảy đều đóng.

góp. Tất cả những người ở xứ này đều san đất, dẫy cỏ, dựng một ngôi chùa, gọi là chủa Báo Ấn. Chính giữa đặt tượng Thích Ca”,

bên dưới đặt tượng Bồ tát. Sắc ánh như vàng, hình như tranh vẽ.

Khởi công từ mùa Hạ năm Kỷ mão (1099), đến mùa Hạ năm Canh thin (1100) thì hoàn thành. Các phòng Ốc một khi đã được nét đan thanh điểm xuyết, thì trăm năm khí tượng mãi thơm hương. Phía

trước hướng về phương Nam`Ý, ở vào đất huyện Cổ Chiến”, đồng, ruộng san sát, xanh tốt như mây. Phía sau liền gò Tường Bằng”, bên cạnh vút ngọn Bạch Long”, sông trong chảy bên, hình thành.

một đài. Bên tả thông tới côi Ngung Di”, trong khoảng giới hạn ngăn cach, xa vén cdi Phủ Tang”, kính cẩn đón mặt t lọc. Bên hữu suốt tới kinh Muội Cốc”, tới tận ngọn núi nguy nga, kính cẩn tiển ánh chiều tả, lướt qua khe cửa. Gò đá cửa ngoài, đôi bóng vút cao chóp núi; hoa thơm bên suối, mười dặm ngào ngạt hương nồng.

Nhưng kẻ ngu nảy văn chương u tối, nông cạn, sao có thể tả.

xiết được việc hay, lạm viết lời quê, để lưu lại bài minh rằng:

B

74

Cửa không vắng lặng,

Cực nhỏ đâu nhẹ, Minh gay lanh dit, Đường trần quay gói, Bui nhỏ tích lại,

Không ngăn giọt nước, Vi hay then chi

Hiền, ngu lẫn lượt,

Lấy gì báo đáp,

Day c6 san dat,

Trước ruộng ngang dọc,

Hữu thông núi thẳm,

Hai gò mái đá,

Dưới tượng Bồ tắt,

Tượng sơn. tranh vẽ,

Bon phen thang su,

Quyên sửa tượng pháp, Tên lưu muôn thu,

&

Nii kia cao chit

Tục lạy Ít vương.

Kin van ro rang.”

Họa phúc dễ mang.

Chén thiện bước sang.

Múi lớn dẫn thành.

Sông biển mênh mang.

Danh khí vẹn toàn.

Sang hén lo toan.

Ơn sâu khôn lưởng;

Dựng ngôi Phật đường.

Sau gd Bach Long.

Tả đẫn gỏ hang.

Bắn phía ngắt hương.

Giữa tượng Thích Ca

Léa liệt không nhoà.

M6t cdi phon hoa.

Giữ mãi nước nhà.

Công dậy gân xa.

pa

ngọn Bích Long”.

Đá kia đẹp chit, lai rất bên.

Sắc óng ánh chừ, vốn tự nhiên.

Chất xanh xanh chữ, ngỡ khói lên.

L

Đội ơn vua chừ, mười chin năm.

Giảng pháp trường chữ, theo Ưu Điền.

Điều mong mỏi chừ, ngày Thánh thiên”.

Thọ tựa núi chừ, mãi bình yên.

Gội ân đức chừ, phúc ven tuyén.

: Đạo chỉ nhân chữ inh Nghiêu thiên”,

Ghi vào mình chừ, muôn đời truyền.

Lời quê vụng, thẹn với hậu hiển.

Thự Hiệu thư lang, Quản câu ngự phủ, Đẳng Trung thư viện

Biên tụ. kiêm các công vụ ở huyện Cửu Chân, trại Thanh Hoá là

Chủ Văn Thường soạn thuật.

An Hoạch: Là tên một ngọn nủi, tục gọi là núi Nhi, cách thành phổ Thanh

Hoá 2km về phía Tây nam. Núi An Hoạch có loại đá quý, trước day thường được khai thác để làm khánh, ạc bia

“Cảnh: nguyên văn là “trần " chỉ nhắn gian theo thủ)

“trẫn” đối xứng với "vật", địch là "cảnh"

Tượng pháp: Tiếng Phan la Saddharma-pratirupaka, thời thứ 2 trong 3 thời (chính Pháp. tượng phảp, mạt pháp). Vì nó tương tự với giáo pháp thời Chính pháp nên gọi là "tượng”. Sau khi Phật tịch điệt, dựa vào tinh trang vận hành của giáo pháp, có thể chỉa ra làm 3 thời là: Chính pháp, Tượng pháp và Mạt pháp. Tượng pháp là gọi tắt ceủa Tượng pháp th, Thời kỷ này chỉ cổ giáo thuyết và u hành mà thiểu chứng quả

Tuy nhiên. trong các tác phẩm văn khắc thời Lý ~ Trần, tượng pháp thông (hường được hiễu mmột cách khá cụ thể là các hình tượng phục vụ việc xiên dương Phật giáo - giai đoạn sau khi Phật đã nhập diệt, đc biệt là chủa chiễn, Đúng như văn bia đã viết "Điều đáng tham cứu không gì lớn hơn tượng pháp, mà sing thượng tượng, pháp không gì bằng chủa chiễn”. Đây ý nó, sau khi Phật đã nhập diệt thì việc xây

‘dumg chủa chiễn dé phát huy đạo Phật là nguyên lý hiển nhiên Uu Điền: Tue Ưu Điền vương (Udayna), vua nước Ki thời Phật, quy y Phật giáo,

‘A Dye: Tire A Dye vương (Asôka), vua nước Ma Yết Đã (Magadha), Ấn Độ.

Theo 4 Đục vương truyén, Ong sinh ra sau kh Phật tịch điệt 100 năm, là vị Đại hộ pháp vương thứ nhất trong lịch sử Phật giáo.

Ma Ding: Tie Diếp (Nhiếp) Ma Đẳng (Kasyapa-Matanga) hoặc Diếp Ca

Ding, người Trung Ân Độ. Vua Minh Để nhà Hán sai sứ mời, làm chủa Lạc

Dương. Bạch Mã để ông dịch kinh Phật

Pháp Lan: Cũng gọi là Trúc Pháp Lan (Dharmaratna), là người miễn Trung, Ấn Độ, theo Ma Đẳng tới Lạc Dương.

‘Thi uý Lý công: Tức Lý Thường Kiệt (1019 - 1105), một danh tướng nhà Lý, từng 2 lần đánh thắng quân Tông và nhiều lÂn đẹp yên phương Nam. Hai

chữ *Lý” trong văn bia kiêng huý nhả Trần niên bị xoá.

Để Việt Nguyên văn là "Hoàng Việt. Vua thứ tư nước Đại Việt ở đây là vị vụn thứ tư triều Lý, tức Lý Nhân Tông (1066 - 1128)

Án chỉ việc Lý Thường Kiệt phò tá Lý Nhân Tông khi vua còn nhỏ tuổi, Lý 'Nhân Tông mới 7 tôi đã lên ngôi vua.

hà Phật, ở đây dùng

Thường Di, Ấn Độ

T5

i Lý Thường Kiệt cằm quân đi đánh cách xa kinh thành.

* Lý Thường Kiệt chỉ huy quân nhả Lý hai lần đảnh bại quân Tống (Trung.

“Quốc) ở phía Bắc.

© Chi Chigm Thanh

“ Bay lan bit bay lan tha: Thừa tướng Khổng Minh của nước Thục thời Tam.

quốc đi đánh phương Nam, bảy lần bắt được chúa man là Mạnh Hoạch đều

tha cho về. Tác giả bài văn bia mượn điển này để ca ngợi tài cằm quân của Lý.

“Thường Kiệt. Ở đây muỗn nhắc đến một loạt chiến công của họ Lý: Tắn công,

cquân Tổng vào năm 1076, chống quân Tổng xâm lược vào năm 1077 -1078 và đánh Chiêm Thành vào năm 1069,

Han Tín, Bành Việt: hai tướng giỏi của Hán Cao Tổ Lưu Bang.

Quản Trọng: Tẻ tướng nước Tề thời Xuân thụ, tên là Di Ngô, có tãi kinh bang

tế thé, giúp TẾ Hoàn Công làm nên nghiệp bá. An Anh: là quan đại phu nước

TẾ thời Xuân thu, nỗi tiếng về tải ứng đối trong ngoại giao, đức tiết kiệm và òng trung nghĩa. được người đương thời ca ngợi

Câu này nguyên văn là "Khả thánh thần dĩ thiên cổ chỉ hỉ tích dã", Thơ vấn 1ý - Trân (T.1, tr. 306) chép là "Sở khả thuỷ thần đạo thiên cổ chỉ hi tích đã”

và địch là (7. 309): "Đó chính là công tích rực rỡ của đạo làm tôi có thể để lại nghìn đời sau vậy”.

"Ngọc lam: Nguyên văn là "lam ngọc”, tức ngọc mẫu xanh lam. Lam, cũng có thể hiểu là huyện Lam Điễn, tỉnh Thiêm Tây, Trung Quốc, tương truyền là nơi sản sinh ra ngọc quý. Theo đó “lam ngọc” còn có nghĩa là ngọc Lam Đi

Nguyên văn: "thanh thanh chất nghĩ sinh yên” lấy ý từ câu thơ của Lý Thương Ấn (813 - 958): “Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ, Lam Điền

nhật noãn ngọc sinh yên” (Trăng sáng biển xanh châu lệ ngắn, Lam Điển

nắng ẩm ngọc hơi lên),

láp thủ: Người đứng đầu một giáp. Giáp là đơn vị hành chính đời Lý.

Mười chin năm trời: Nghĩa của câu la “Thai uy Lý công sai một Thị giả là Giáp thủ Vũ Thừa Thao dẫn người hương Cửu Chân dò tim đá trong 19 năm...". Thực ra, 19 năm là thời gian Lý Thường Kiệt kiêm coi việc quân Thanh Hoá. Gắn với câu: “Mười chín năm trời, năng nỗ tiết tháo, dân chúng.

theo về..." mới phủ hợp với mach van.

Nguyễn văn: "Chiến chiến nhỉ nhược lý khinh bãng.... căng căng nhỉ loại thửa hủ sách”, đều lả ý lấy từ bài Tiểu đán trong Kinh Thi, chi sy thận trọng.

khi thỉ hành chính sự.

Cửu tích: Chỉ 9 loại lễ vật đặc biệt mà thiên tử ngày xưa ban tặng ban cho quan đại thân để biểu thị sự sting tin khác thường. gồm: Xe ngựa, y phục,

76

‘nhige Khi, ea son, nap bệ, hỗ bôn, cúng tên, phủ vi

Trên dầu chép là Cứu tích, không có nghĩa

Thích Ca: Nguyên văn “Nang Nh lăng Nhân” là dịch ý từ tiếng Phạn Sọkya. Dịch õm là "Thớch Ca”. Thớch Ca vốn là tờn gọi của một chủng tộc Ấn Độ. Vì Thích Tôn là bậc hiển nhân xuất thân từ tộc Thích Ca nên được tôn là Thích Ca Mau Ni (Sakya-muni). Cing ding chữ "Năng Nhân" để gọi Phật Thich Ca. Bức tượng này hiện vẫn còn.

Phương nam: Nguyên văn "Xích Để chỉ phương”. Xích Để là vị thắn lửa, ở về phương Nam.

“Cổ Chiến: Theo Đắt nước. Việt Nam qua các đời của Đào Duy Anh thì vào đời Trin, huyện Cổ Chiến thuộc châu Cửu Chân, trấn Thanh Độ, tương .đương với huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá ngày nay

Thơ văn Lý - Tran chép là “Tường Phượng”,

Bạch Long: Có lẽ, những tên Tường Bằng, Bach Long là tên các ngọn núi xung quanh núi An Hoạch

Ngung Di: Lã nơi mật trời mọc. Thiên Aighiêw điển trong Thượng chư (tức Kinh Thư) có cầu: "Phân mệnh Hy Trọng, trach vu Ngung Di, viết Dương

“Cốc, di tân nhật xuất”, nghĩa là: Mệnh cho Hy Trọng, ra ở cõi Ngung Di, noi

Eọi là hang Dương Cốc, kính cân đón mặt trời mọc,

"Phù Tang: Chỉ phương Đồng, nơi mặt trời mọc.

Muội Cốc: Chí nơi mặt trời lặn. Thiên Nghiéu dién trong Thượng “hư có câu:

*Phân mệnh Hoà Trọng, trạch tây, viết Muội Cốc, di tiễn nạp nhật”; nghĩa là:

Lại sai Hoà Trọng đến phương Tây, chỗ gọi là Muội Cốc, kinh cẳn tiễn mặt

trời lặn.

Nguyên vân; "Cực vì nhỉ hiển”, nghĩa là "cực nhỏ nhưng rõ rằng”.

Nguyên văn: "Minh ẩn võng cực, ha di bao chi”, lay ý từ bài thơ Tiệ: Nam

ơm trong Kinh Thị: “Dye bão chỉ đúc, Hạo thiên võng, cực”, nghĩa là: Muốn áo đến ân đúc, như trời cao khôn cùng.

Nguyên văn: “Tiệt bi Nam sơn hề Bích Long điên”, lấy ý từ bài thơ Tiệt Nam

sơn trong Kinh Ti: "Tiệt bí Nam sơn, duy thạch nham nham”, nghĩa là: Núi

‘Nam voi voi, da dung nhấp nhô.

Nguyên văn: "Thánh nhật thiên chỉ ngây thắng của vua trôi

L cự xưởng. 7Rơ văn Lý -

s “Thánh nhật chỉ ngày tháng của vua, ở đây thọ như núi Nam Sơn.

Nghiêu thiên: Trời Nghiều, dẫn tir thign Thai Bd trong Ludn ngữ: "Nguy nguy hỗ, duy thiên vi đại, duy Nghiều tắc chỉ” ( Vòi voi thay, chi có trời là to lớn, chỉ có đế Nghiêu là theo được khuôn phép của trời), ý nói Nghiêu học theo trời tiễn hành giáo hoá.

T1?

An Hoạch Sơn Báo Ân tự bí ký (Mặt trước)

Hiện đặt tại sân Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

78

4. BIA CHUA BAO NINH NUISUNG PHUC

(Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi - 1107)

LỜI DẪN:

Bia được phát hiện vào ngày 23 tháng Bảy năm 1963 tại xã An Nguyên, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang. Theo báo cáo của Ty Văn hóa Tuyên Quang lên Vụ Bảo tổn Bảo tàng Bộ Văn hóa,

bia “bằng đá xanh, chạm khắc rất tỉnh xảo, cao 1.43m, rộng 1.20m,

day 0.09m, Trin bia cong, có chạm hình hai con rồng chẳu vào ô chữ lớn *Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi”. Phía mặt trước bia có khắc 28

dòng chữ to....". Tổng cộng có khoảng 1250 chữ khắc chìm theo thể chữ khải. Tên bia khắc lối hành thư, đẹp. Văn bia có một số chữ khắc sai, có thể bia này được người đời sau khắc lại (2).

Theo Tho van Ly - Tran (T.1, tr. 332), thì tới tháng Tư năm

1972 bia vẫn còn. Khi ấy đã có bản dập của Ty Văn hóa Tuyên Quang do Vụ Bảo tồn Bảo tàng Bộ Văn hóa giữ. Theo Văn khắc Han Nom Việt Nam (T., tr. 94) thì hiện nay bia đã không còi

Ngoài thác bản của Vụ Bảo tồn Bảo tàng, còn bản đập của Trần

Huy Bá, 1969. Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn giữ một bản anh den trắng chụp thác bản bia và một bản chép tay nguyên văn bài văn bia đựng chung trong một phong bì, ký hiệu 20946.

Tác giả bài văn bia là Lý Thừa Ân (Toàn thue, Ban ky QUIL, 36a và 37a đều ghỉ là Lý Phụng Ân. Việt sử lược chép thành

79

Nguyễn Thừa Ân là do kiêng hủy chữ Lý và Thừa thời Trần). Ông.

đã từng đi sứ Trung Quốc vào năm 1130 (theo Toàn thie) va 1132 (theo Toàn thư, Việt sử lược và Tổng sử, Q. 488)

Bia ca ngợi vị Thái phó họ Hà (Thái phó Hà công) với các chức tước: Trỉ Vị Long châu, Phò ký lang, Đô trì Tả vũ vệ Đại

tưởng quân, Kim tử Quang lộc đại phu, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự; Kiêm quản nội khuyến nông sự, Thượng trụ quốc,

thực ấp 3900 hộ, thực thực phong 900 hộ.

Tổ tiên họ Hà gốc ở Châu Ung (Trung Quốc). Cao tổ là Hà

Đắc Trọng sang làm thần dân nước Việt, được làm Thái thú châu Vị Long, trải đến Thái phó Hà công là 15 đời. Ông nội của Hà công làm Thái bảo, lấy người con gái thứ hai con công chúa thứ ba của Lý Thái TỔ. Người cha của Hà công từng chỉ huy quân đội đánh

sang đất Tổng, bao vây thành Ung Châu trong chiến dịch nam At

mao niên hiệu Thái Ninh (1075). Đến Hà công, do công lao của cha ông, nên mới 9 tuổi đã được vua gả em gái cho. Sau khi cha mẹ qua đời (1085), ông được tập phong các chức tước của cha.

Vé vj “Ha cong” nay, trên bia bỏ trống ô đề tên. Trần Huy Bá

chưa biết căn cứ vào đâu chép là *Tông” hoặc *Tung”. Đến Thơ

văn Lj: - Trấn thì ghỉ hẳn là “Hưng Tông”. Cũng theo khảo cứu của

Trần Huy Bá, thì vị Hà công này, tức là Hà Di Khánh trong Toàn

thự và Việt sử lược.

“Theo chúng tôi, nguyên văn ghi là Hà công.... (bỏ trống không, không viết tên) là tỏ ý tôn kinh đối với vị thủ lĩnh châu Vị Xuyên

khi dựng bia vẫn còn sống, chứ không phải là mắt chữ. Việc điền

thêm các tên *Tông” hoặc *Tung” hay *Hưng Tông” là không hợp ý. Tên của vị Hà công này là Hà Di Khánh.

'Văn bia xác định một vị tướng công họ Hà trong chiến dịch đánh châu Ung của Lý Thường Kiệt bên cạnh họ các vị Thân, họ.

Vi... đã được ghi trong sử sách. Bia có giá trị tham khảo trong khi nghiên cứu vai trò các thủ lĩnh vùng biên giới và chính sách biên cương của nhà Ly.

80

Một phần của tài liệu Nghiên cứu văn bia thời Lý: Phần 1 (Trang 73 - 82)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(141 trang)